TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYỄ N THỊ KIÈU TRANG
VẤN ĐÈ BẠO Lực GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ TỈNH VĨNH PHÚC TỪ 2008 ĐẾN
NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội
HÀ NỘI, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYẺ N THỊ KIỀU TRANG
VẤN ĐÈ BẠO Lực GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ TỈNH VĨNH PHÚC TỪ 2008 ĐẾN
NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•••
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội
Ngưòi hướng dẫn khoa học ThS. Chu Thị Diệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Nguyễn Thị Kiều Trang
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIÉT TẮT
CLB:
CNH - HĐH:
PCBLGĐ:
Tư:
ƯBND:
VH - TT:
Câu lạc bộ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phòng chống bạo lực gia đình
Trung ương ửy ban nhân dân Văn
hóa - Thông tin.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
MỎ ĐÀU
gia đình được nhìn nhận trên nhiều khía cạnh tích cực hơn. Tuy nhiên, vẫn còn
tồn tại nhiều vấn nạn trong đó có bạo lực gia đình, nó không chỉ làm đau đầu các
cơ quan chức năng mà còn làm tố ấm gia đình mất đi nền tảng vốn có của nó.
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi chứa chan niềm vui, sự nồng ấm, nhũng
giây phút thiêng liêng, nơi mỗi chúng ta tìm về sau những tháng ngày vất vả và
xa cách, gia đình có vững xã hội mới mạnh. Tình trạng bạo lực trong gia đình vẫn
còn và ngày càng gia tăng thì nguy cơ gia đình tan vỡ là điều không tránh khỏi.
Đặc biệt, ở Việt Nam đang trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội thì vấn đề
này cần phải được quan tâm nghiên cứu và đưa ra giải pháp để khắc phục triệt đế
tình trạng này. cần phải nghiên cứu thực trạng ở từng cơ sở, địa phương để đưa ra
giải pháp phù họp với đặc điểm của địa phương đó. Tỉnh Vĩnh Phúc tuy chưa có
những nghiên cứu chuyên sâu để có thể hình dung một bức tranh tổng thể và toàn
diện về tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ, nhưng cũng không thể nằm
ngoài tình trạng chung của cả nước và thế giới. Theo báo cáo của Tòa án tỉnh
Vĩnh Phúc từ năm 2005 - 2010 qua hai cấp xét xử số vụ ly hôn là 4632 vụ án, giải
quyết được 4368 vụ, trong đó phụ nữ là nguyên đơn chiếm trên 50%. Nguyên
nhân chủ yếu là do mâu thuẫn gia đình: chồng ngoại tình, cờ bạc, rượu chè, đánh
đập, ngược đĩa vợ... Từ những lí do trên tác giả chọn đề tài: “Vấn đề bạo lực gia
đình đối với phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc từ 2008 đến nay99 làm đề tài cho khoá luận
tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ đầu đã giành nhiều tâm huyết
trong việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách nhằm giải phóng phụ nữ, thực
hiện bình đẳng nam nữ. Trong luật pháp, Hiến pháp và nhiều văn kiện của Đảng
có rất nhiều quy định liên quan đến vấn đề này.
Gần đây, nhiều cuộc hội thảo đã đi vào khía cạnh khác nhau về vai trò của
phụ nữ, điến hình như. Trong hai ngày 3 - 4/12/2012, tại TP Đà Nang, Trung
8
của Viện; xuất bản các ấn phẩm khoa học; phổ biến các kết quả nghiên
cứu khoa học và các kiến thức khoa học về giới, gia đình và phụ nữ trong
và ngoài nước...
* Nhóm công trình là nhũng công trình ở các trung tâm nghiên cứu về
phụ nữ như:
9
-
Công trình “Gia đình Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước và vấn
đề xây dựng con người” (2005) của PGS, TS Lê Thị Quý. Công trình này
nghiên cứu rất sâu về những biến đối trong đời sống gia đình Việt Nam.
-
Công trình “Đánh giá sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985 - 1995” (1995), của
PGS, TS Lê Thị Quý. Trong công trình này tác giả đã tìm hiểu rất kĩ về
những tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 1985 - 1995.
-
Công trình khoa học cấp nhà nước về vai trò của phụ nữ trong gia đình:
“Phụ nữ và bình đắng giới ở Việt Nam” của GS Lê Thi. Trong nghiên cún
của mình, GS Lê Thi đã đề cập rất nhiều đến vai trò của người phụ nữ
trong gia đình. Từ vai trò quan trọng đó, GS Lê Thi đã vạch ra những giải
pháp chủ yếu nhằm giải phóng phụ nữ. Là những luận văn, luận án bước
đầu nghiên cứu phụ nữ và gia đình theo phương án tiếp cận giới. Đây
*Mục đích nghiên cún
Trên cơ sở những quan điếm lí luận về giải phóng phụ nữ, khóa luận đã làm
rõ thực trạng và đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng bạo lực gia đình đối với
phụ nữ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đắng
nam nữ đáp ứng nhu cầu xây dựng Vĩnh Phúc giàu đẹp, văn minh.
*Nhiệm vụ
Đe đạt được mục tiêu trên, khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ:
-
Trình bày hệ thống cơ sở lí luận về vấn đề bình đắng giới, giải phóng phụ
nữ.
-
Làm rõ thực trạng vấn đề bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm xóa bỏ tình trạng bạo lực đối với
phụ nữ trong gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Phương pháp nghiên cửu
Đe tài sử dụng phương pháp: Lôgic - lịch sử, phân tích - tống hợp, điều tra,
so sánh... trên cơ sở sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương
pháp luận duy vật lịch sử.
6. Đóng góp của đề tàỉ
Đe tài góp phần làm rõ thực trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở
tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay. Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm
khắc phục, tiến tới xóa bỏ tình trạng này.
giới:
1.1.1. Bình đẳng và bình đẳng giói
* Bình đẳng
- Theo các từ điển
Theo từ điển Tiếng Việt: “Bình đẳng ỉà sự ngang nhau về quyền lợi và địa
vị” [19;65].
1
2
Theo từ điển Chủ nghĩa Xã hội khoa học: “Bình đẳng là những điều kiện và
những khả năng ngang nhau đối với việc tự do phát trỉến năng lực và thoả mãn
các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội, địa vị như nhau của mọi
người trong xã hội. Bình đắng được hiếu khác nhau trong các thời đại khác nhau
” [22; 10].
Theo từ điến Triết Học cho rằng: “Bình đắng là khái niệm nói lên vị trí như
nhau của con người trong xã hội, nhưng lại có một nội dung khác nhau trong
những thời đại lịch sử khác nhau và ở những giai cấp khác nhau...Sự bình đắng
hoàn toàn chỉ được tạo ra dưới chủ nghĩa cộng sản. Nhưng sự bình đắng của
cộng sản chủ nghĩa không có nghĩa ỉà một sự san bằng nào đó đối với tất cả mọi
người, mà ngược lại, nó mở ra những khả năng vô hạn cho môi người tự do phát
trỉến nhũng năng lực và nhu cầu của mình, tương xủng với những phẩm chất và
năng khiếu cả nhân”}2]
Như vậy, Bình đẳng là sự ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối
với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội.
-
Bình đẳng giới
Bình đắng giới hay nói cách khác chính là bình đắng nam nữ. Đó là ước mơ,
nhu cẩu, ỉợỉ ích cả nhân không được đáp ứng trong hôn nhân dần dần trở thành
xung đột xã hội, kẻo theo nhưng hậu quả về mặt tiêu cực xã hộỉ”[\l\2\l
Theo Giáo sư Lê Thi: “Những khác biệt về giới (sex) giữa người đàn ông
và người đàn bà là những đặc điếm tự nhiên của cơ thế con người và chức năng
của nó ỉà bâm sinh và không thay đói” [24;83]. “Giới mà chủng ta xem xét ở
đây là khải niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác biệt gữa nam
và nữ về mặt xã hội
Từ đó, ta có thể hiểu về bình đẳng giới và đi đến kết luận: "Bình đẳng có
nghĩa là các em gái được đến trường học như các em trai, là các cơ hội được mở
ra đối với phụ nữ, là các gia đình nghèo được hưởng lợi từ các hỗ trợ chăm sóc
sức khỏe cho các bà mẹ... Bình đắng cũng có nghĩa là phụ nữ hoàn toàn có quyền
tham gia vào các hoạt động chính trị và ra quyết định... Binh fdang là một quyền
con người đối với phụ nữ mà có thể cải thiện cuộc sống cho tất cả mọi người...
1
4
Bình đắng góp phần chấm dứt nghèo nàn. Bình đắng là một ưu tiên của công
cuộc phát triển... là nền tảng của phát triển" (Liên Hợp Quốc 2005) [4;20].
Những quan điểm về vấn đề bình đẳng giới đó, trước sự biến đối hàng ngày,
hàng giờ của nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa, Nó được thể hiện
khác nhau ở từng quốc gia, dân tộc, khu vực và cũng có sự khác nhau giữa các
tỉnh, thành trong cả nước Việt Nam.
1.1.2.
Bạo lực và bạo lực gia đình
•
•
lý” - tức là bạo hành bằng tinh thần cũng có thể cấu thành tội phạm hình sự. Bạo
lực trong gia đình là một trở ngại cho sự bình đắng và là sự vi phạm không thể
chấp nhận được đối với nhân phẩm con người. Nó cần được ngăn chặn vì nó tác
động đến khoảng 20% - 50% toàn bộ phụ nữ trên thế giới.
Các nhà nghiên cứu đã phân ra bạo lực trong gia đình thành hai dạng: bạo
lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được
Bạo lực nhìn thấy được thường là các hành vi về thể chất như đánh đập,
cưỡng bức tình dục, sử dụng vũ khí hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, kể cả việc sử
dụng vũ lực vào ý muốn sử dụng các biện pháp tránh thai của người vợ.
Bạo lực không nhìn thấy được bao gồm việc sỉ nhục, chửi bới, đay nghiến,
thờ ơ, lãnh đạm.
Ngoài ra, còn có nhiều cách phân loại khác như: bạo lực thế xác, bạo lực
tinh thần, bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế...
Trong xã hội, không phải mọi tầng lớp nhân dân đều nhận thức được vấn đề
này. Một bộ phận người dân vẫn thừa nhận bạo lực gia đình là cần thiết để duy trì
trật tự, ổn định trên dưới. Họ cho rằng như thế mới giữ được nề nếp, gia phong.
Chính nhận thức đó đã tạo điều kiện cho bạo lực trong gia đình có xu hướng gia
tăng.
* Bạo lực gia đình
- Khái niệm: Có nhiều định nghĩa khác nhau về bạo lực gia đình:
Luật gia đình định nghĩa “Bạo lực trong gia đình” bao gồm những hành vi
hay các mối đe dọa của một người nhắm vào một thành viên khác trong gia đình
hoặc tài sản của họ.
Bạo lực gia đình là ngược đãi bằng tình cảm, thể xác hay tình dục của thành
viên gia đình bằng một thành viên khác (J. hon J, Macionis, 2004).
Bạo lực gia đình là hành vi tấn công của một người (thường là người đàn
ông) đối với người khác có quan hệ tình cảm với họ bằng cách dùng vũ lực hoặc
1
6
bạo lực thường sử dụng sức mạnh cơ bắp hoặc công cụ gây nên sự đau
1
7
đớn về thân thể đối với nạn nhân. Bao gồm: đối xử tồi về thể chất: cấm
đoán, kiểm soát, xô đẩy thô bạo, đánh đập... và bạo lực/ lạm dụng tình
dục: là cưỡng bức, ép buộc phụ nữ phải làm những công việc liên quan
đến tình dục trái với mong muốn của họ...
-
Thứ hai, Bạo lực tinh thần/ tình cảm: là những hành vi nhằm hành hạ tâm
lí và những lời nói sỉ nhục, đe dọa, lãng quên hay không quan tâm...
Những hành vi này không dễ phát hiện và pháp luật khó can thiệp. Bao
gồm: đe dọa, hăm dọa: bằng cách nhìn chằm chằm hoặc bằng các hành
động, lời nói với tính chất đe dọa hoặc khiêu khích... và gán nhãn: là gán
cho phụ nữ những từ thiếu tôn trọng: ngu, điên rồ, vô dụng....
-
Thứ ba, Bạo lực tình dục: là các hành vi gây tổn thương về tình dục đối
với phụ nữ và trẻ em. Bao gồm các hành vi như: cưỡng ép quan hệ tình
dục, quấy rối tình dục, mua bán phụ nữ và trẻ em ...
-
Thứ tư, bạo lực kinh tế: là các hành động hoặc quyết tâm thực hiện các
hành động để phụ nữ phụ thuộc về tài chính, bao gồm: chiếm đoạt, hủy
hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của các
nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 10 năm 1930) đã nêu: nam nữ bình quyền là
một trong những nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương. Đảng và nhà nước ta cụ
thể hoá đề ra nhiều chủ trương, chính sách, chương trình tạo điều kiện đế phụ nữ
tham gia vào công tác xã hội. Nghị quyết số: 04- NQ/TW, ngày 12/7/1993 của
Bộ chính trị ban hành về “Đồi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ
trong tình hình mới”; Chỉ thị số: 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng về “Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”. Từ
những quan điểm chỉ đạo trên, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,
có nêu: “Thiết thực chăm lo sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ”. Thủ
tướng Chính phủ đã ký quvết định số: 19/2002/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược
quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ đến năm 2010” và Nghị định số:19/2003/NĐ-CP
ngày 7/3/2003 của Chính phủ: Quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho Hội phụ nữ tham gia quản lý nhà nước về
các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ, trẻ em. Trong Chiến
lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, Chính phủ đã đề
ra mục tiêu tổng quát về bình đẳng giới: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất
1
9
và tinh thần của phụ nữ, tạo mọi điều kiện cần thiết để thực hiện các quyền cơ
bản của phụ nữ, để họ tham gia và hưởng lợi đầy đủ và bình đẳng trong mọi lĩnh
vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội”. Từ mục tiêu tống quát được
cụ thể hoá thành các mục tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực, trong đó có mục tiêu
“Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” để tăng số lượng phụ nữ được giới thiệu và bầu vào
các cơ quan dân cử, tham gia lãnh đạo, quản lý, ở các cấp các ngành trong cả
nước...
Xuyên suốt quan điểm của Đảng về vấn đề phụ nữ là những luận điểm của
giới, Bác chỉ rõ là không thể dùng vũ lực và lĩnh vực khó khăn nhất của sự
nghiệp này là phấn đấu đạt bình quyền, bình đẳng trong gia đình....
Như vậy, quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về bình đẳng giới thể hiện
một cách rõ ràng mục tiêu cần đạt cũng như phương thức và biện pháp cần có để
thực hiện bình quyền và bình đắng. Đây là một trong những nội dung tư tưởng
Hồ Chí Minh cần được cán bộ Đảng viên và các cấp các ngành nhận thức một
cách đầy đủ và vận dụng một cách linh hoạt và sâu sắc hơn nữa trong giai đoạn
hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Như chúng ta đã thấy, trong các chủ trương của Đảng và chính sách của
Nhà nước, đã có rất nhiều biện pháp cụ thể để thực hiện quyền giải phóng và
bình đắng cho phụ nữ. Nhưng còn có quá ít những văn bản cụ thế cùng các biện
pháp thực tế để từng bước thủ tiêu tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong
người đàn ông. Do thực tiễn nước ta còn nghèo, còn nhiều khó khăn và trở ngại
trong việc thực hiện các chính sách về cán bộ nữ ở nhiều cấp ủy Đảng và quản lý
Nhà nước; hiện tượng bạo lực gia đình đối với phụ nữ...
Như vậy, tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng
Cộng sản Viêt Nam là sự nối tiếp và cụ thế hóa các quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về bình đẳng giới. Và quan điếm của chủ tịch Hồ Chí Minh cho ta
thấy tính chất lâu dài và khó khăn của cuộc đấu tranh vì quyền bình đắng và sự
2
1
cần thiết phải tập trung vào việc thay đổi nhận thức xã hội, giải phóng phụ nữ và
xóa bỏ tư tưởng phong kiến, tư sản của đàn ông.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải phóng phụ
nữ và thực hiện nam nữ bình đẳng là cơ sở lí luận, là nền
tảng tư tưởng để Đảng và Nhà nước ta đề ra phương hướng,
với những kết quả cụ thể (ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Báo cáo: Tình hình
kinh tế - xã hội năm 2013 và Ke hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014):
•
Tình hình kinh tế:
Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản năm 2013 vượt qua khó khăn,
tăng trưởng khá so với năm 2012.
- Trong nông nghiệp: Vượt qua khó khăn tiếp tục phát triển và đạt nhiều kết
quả khá. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi được chuyển đổi phù hợp với quy
hoạch, đề án và các dự án của ngành. Trong những năm gần đây, các cấp
lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc rất chú trọng đến phát triển nông nghiệp, tạo việc
làm cho nhiều lao động.
- Trong sản xuất công nghiệp: năm 2013 có sự tăng trưởng khá so với năm
2012 ở tất cả các khu vực: khu vực Nhà nước tăng 11,6%, ngoài Nhà nước
tăng 7,8%, khu vực FDI tăng 12%. Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so
sánh năm 2010) tăng 11,3% so với năm 2012 và bằng 106,4% kế hoạch.
Giá trị sản xuất ngành Xây dựng (theo giá so sánh năm 2010) giảm 0,6%
so với năm 2012.
- Trong dịch vụ năm 2013 hầu hết các ngành dịch vụ có sự tăng trưởng so
với năm 2012 nhưng vẫn còn ở mức thấp. Trong hoạt động thương mại thì
thị trường hàng hóa và dịch vụ cơ bản được ổn định, công tác quản lí thị
trường được tăng cường. Hoạt động xuất khẩu tăng cao mặc dù kinh tế
trong và ngoài nước vẫn gặp nhiều khó khăn, tổng kim ngạch xuất khẩu
đạt 1.031 triệu USD tăng 54,9% so với cùng kỳ năm 2012 và bằng
125,9% kế hoạch. Dịch vụ vận tải gặp nhiều khó khăn nhưng doanh thu
vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 12,6% so với năm 2012.
Tổng doanh thu du lịch đạt
776,1 tỉ đồng, tăng 3% so với năm 2012.
thực tế làm tiêu chí đánh giá và tuyển chọn.
+Tiềm lực khoa học công nghệ bước đầu được tập trung đầu tư vào các lĩnh
vực y tế, giáo dục, đào tạo nghề để nâng cao hiệu quả đầu tư.
+ UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường quản lí nhà nước về
đất đai trên địa bàn.
+ Công tác quản lý khai thác khoáng sản có nhiều chuyển biến tích cực.
+ Quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường tiếp tục được chú trọng, việc triển
khai các chương trình, dự án về môi trường được đẩy mạnh ở cả khu vực đô thị
và gắn với việc xây dựng nông thôn mới.
2
4
- Hoạt động văn hóa - thể thao,phát thanh và truyền hình được duy trì, ổn
định và phát triển. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và phòng chống
dịch bệnh được quan tâm thường xuyên.
- Tuy nhiên, bên cạnh đó còn những vấn đề bức xúc mà xã hội chưa ngăn
chặn kịp thòi: giáo dục đào tạo còn hạn chế, đòi sống một bộ phận nhân
dân còn khó khăn, kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững và có nguy cơ
tái nghèo...
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đang trên đà
chuyến dịch cơ cấu kinh tế và phấn đấu đế trở thành tỉnh công nghiệp. Chính vì
vậy, đời sống vật chất và tinh thần của người dân Vĩnh Phúc ngày càng được
nâng cao. Tuy nhiên, Vĩnh Phúc vốn là một tỉnh thuần nông, chịu ảnh hưởng của
tư tưởng văn hóa Nho giáo, Phật giáo. Nên những tàn dư của hệ tư tưởng phong
kiến vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương, trong nhiều gia đình. Vì vậy, phụ nữ
Vĩnh Phúc, nhất là phụ nữ ở các thôn, còn chịu nhiều thiệt thòi cả về vật chất lẫn
tinh thần, còn phải chịu sự bất bình đẳng nam nữ trong gia đình và trong mọi lĩnh
vực của cuộc sống