TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
SO
080
caa
KHOA
LUÂN TỐT NGHIÊP
Đề
tài:
RÀO
CẢN THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ
ĐỐI
VỚI
SẢN PHẨM
CỔNG
NGHIỆP
$JẤT
KHẨU
CỦA
VIỆT
NAM
Giáo viên hướng
TỐT NGHIÊP
ị sgỀiàử
RÀO
CẢN
THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ
ĐÔI VỚI
SẢN PHẨM
CÔNG NGHIỆP XUẤT KHAU CỦA VIỆT NAM
ị Giáo
viên
hướng dẩn
:
PGS.TS.
vũ SỸ
TUẤN
ỉ
0 *
ị
Sinh viên thục hiện
: LÊ
MINH
TRÂM ị
ỉ
ó
ỉ Lớp :NHẬT3-K40 ị
2
ÍT
«li' V' rã tụ i Ì
8 |x'Csv;«"~;-n Oi»&ị ỉ
tế
4
1.
Khái
niệm
4
2. Lý do
ra đời
các
rào cản
thương mại
quốc
tế
4
li.
Phân
loại
các
loại
rào
cản
trong
thương mại
quốc
tế
6
Ì. Rào
cản
thuế
quan
ĩ. Mục đích
sử dụng
rào
cản
thương mại
của
các
quốc
gia
trên
thế
giới
20
CHƯƠNG
li:
RÀO CẢN THƯƠNG MẠI
Quốc
TẾ Đối VỚI SẢN PHÀM
CÔNG NGHIỆP XUẤT KHAU CỦA
VIỆT
NAM 27
ì.
Thực
trạng
rào
cản
thương mại của một
số
nước
đối
gần đây 57
Ì. Vụ
tranh
chấp
thương
hiệu
Cà phê
Trung
Nguyên 58
2. Các vụ
kiện
hàng
xuất
khu
cùa
Việt
Nam bán phá giá 58
CHƯƠNG UI: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CÁC RẢO CẢN TRONG THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÁC SẢN PHÀM CÔNG NGHIỆP
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 64
ỉ.
Kinh nghiệm
vượt
rào
của một số nưặc
trên
thế giặi 64
ì.
Trung
Quốc 64
HI. Một số
giãi
pháp
vượt
rào
cẩn 76
1.
Các
giải
pháp
vĩ
mô 76
2. Các
giải
pháp
vi
mô
(giải
pháp
đối
với
doanh
nghiệp)
90
3. Các
giải
pháp khác
(
giải
pháp
nội
dung
được các nhà
kinh
tế
thảo luận
và bàn cãi
rất nhiều.
Đơn
giản
là vì
muốn
đẩy
mạnh
quá trình
tự
do hoa,
toàn cẩu hoa thì trước
hết
phải
tìm
ra
các
giải
pháp để
loại
bỏ,
hạn
chế hoức
vuợt
song
với việc
xoa bỏ
những
rào cản thương mại hữu
hình,
dễ phát
hiện,
các
nước
ngày càng có xu
thế tạo
nên
những
rào cản vô
hình.
Thực
tiên cho
thấy
rào
cản trong
thương mại
quốc
tế xuất hiện
ờ
hầu
hết
các
lĩnh vực, với
các
quốc
tế,
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
khi xuất
khẩu sang
thị
trường các nước đang
phải đối
mứt
với
những
rào cản ngày càng tăng lên
trong
thương mại
quốc
tế,
đức
biệt
là
đối với
các sản phẩm công
nghiệp.
Thực
tế
đó đòi
hỏi
nghiên cứu các rào cản thương mại
quốc
tế đối với
các
sản
phẩm công
nghiệp
xuất
khẩu
cùa
Việt
Nam, trên cơ sở
đó,
nêu lên một số
giải
pháp nhằm
khắc phục
các rào
cản
đó.
Em
xin
gửi
lời
cảm ơn
trân trọng
nhất
tói
Tiến sỹ Vũ Sỹ Tuấn, người đã
tận
khỏi
những
khiếm
khuyết,
rất
mong
nhận
được
sự
chỉ
dẫn
của
các
thầy
cô giáo và đông đảo ý
kiến
độc
giả.
Người
viết
xin
trân
trọng
cảm ơn!
3
CHƯƠNG ì
LÝ
LUẬN
CHUNG
VẾ RÀO CẢN
thớ
dê
dàng
nhận
thấy,
trong
hệ
thống
các
điều
ước hay
luật
pháp
quốc
tế,
cũng
như
trong
hệ
thống
pháp
luật
cùa các
quốc
gia,
khái
niệm
rào cản thương mại không được định
danh
một
Technical
Barriers to
Trade)
nhưng
trong
toàn bộ
nội
dung của
Hiệp
định
lại
không
sử dụng
tiếp
thuật
ngữ này.
Có
thớ hiớu
một cách
chung
nhất
về
rào
cản
thương mại
quốc
tế
như
sau:
Rào
là
hoạt
động thương mại
có
sự
tham
gia
của
các
quốc
gia
khác
nhau
với rất
nhiều
khác
biệt.
Các
quốc
gia
khác
nhau
về mọi
lĩnh
vực:
văn
hoa,
chính
trị, luật
pháp,
động
thương mại
quốc
tế
thì
chính
những
khác
biệt
ấy
lại
trở
thành
những
rào cản
gây
trở
ngại
cho
hoạt
động thương mại
quốc
tế.
Thử xét riêng góc
độ
ngôn ngữ,
trong
quá trình
đàm
phán ký
kia
vì
trong
các ngôn ngữ khác
nhau
có
thể
không có
cách
diễn
đạt
tương đương,
hoặc
nếu
theo
ngôn ngữ này chỉ cần một
từ
là đủ thì
sang
ngôn ngữ khác
phải
giải
thích
rất
dài dòng. Đây là một
trở ngại
không nhỏ
khiến
các
đối
Nhịt Bản,
thị
trường của
họ
thường
rất
khó
tính.
Hàng hoa
muốn
nhịp khẩu
vào các
thị
trường này
phải
đáp
ứng
được
những
tiêu
chuẩn
rất
khất
khe về
chất
lượng,
vệ
sinh,
kiểm
dịch,
khí hậu
cũng
có
thể
gây
trở
ngại
cho
hoạt
động thương mại
quốc
tế.
Mặc dù
hiện
nay sự phát
triển
của
các
phương
tiện
thông
tin
liên
lạc,
giao
thông vặn
tải
đã rút
ngắn
một cách tương
chuyển chứng
từ
kéo dài đồng
nghĩa
với chi
phí và
rủi
ro
nhiều
hơn.
2.2. Do nhu cầu bảo hộ của từng quốc gia
Bên
cạnh những
rào cản
tổn
tại
khách
quan
do sự khác
biệt
giữa
các
quốc
gia,
rào
cản
tổn
tại
còn
là
giới
hầu
hết
chủ trương
tự
do hoa thương
mại,
mở
cửa
nền
kinh tế
để thông thương nhưng
điểu
này không có
nghĩa
là
tự
do
hoa,
mở
cửa
tràn
lan.
Trong
trường hợp các nước mở
cửa,
tự
do hoa thương mại tràn
lan,
các tác
chế
hoạt
động buôn
5
bán vũ
khí,
đạn
dược.
Mặt
khác,
để bảo vệ an
ninh
trật
tự
xã
hội,
các
quốc
gia phải
có
những
rào
cản
nhất
định
đối với hoạt
động buôn bán
những
mặt hàng có
hại
hại,
các nước còn
cẩn
hạn
chế
ờ
một chừng
mực nào đó
hoạt
động mua bán các mặt hàng được phép
xuất
nhập
khẩu.
Nguyên nhân là do
việc xuất
khẩu
quá nhiêu một mặt hàng nào đó sẽ
khiến
hoạt
động
sản
xuất trong
nước mất cân
đối,
nguyên nhiên
liệu
để
sản
xuất
mặt hàng
cán cân
thanh
toán
quốc
tế
của
nước đó.
Một lí
do không
thể
không để cập đến
khi
duy
trì
các
biện
pháp bảo hộ là
giúp các
quốc
gia
duy
trì việc
làm cho
những
tổ
chức hoặc những
nhóm
người
nhất
định
thực
sự
thân
thiết
trong
quan
hệ thương mại
hoặc
đê
trả
đũa
lại
những
hành
vi
thương mại không
"đẹp" của
phía bên
kia.
Đối với
các
quốc
gia
có
tiềm lực
cả về
kinh tế
và chính
trị,
các
thương mại
quốc
tế.
li.
PHÂN
LOẠI
CÁC
LOẠI
RÀO CẢN
TRONG
THƯƠNG MẠI
Quốc
TẾ
Hiện
nay,
chưa có tài
liệu
nghiên cứu nào đề cập
tới
phân
loại
các rào cản
trong
thương mại
quốc
tế
vì khái
niệm
và
nội
(Tariff)
và các
biện
pháp
phi thuế
quan
(Non
6
tariff).
Vì
vậy,
có
thể
phân
loại
rào
cản
trong
thương mại
quốc
tế
theo
hai
nhóm
lớn
là:
rào
cản
thuế
quan
quan
là cơ
quan
đại diện
của
nước
chủ
nhà.
Khái
niệm
về rào cản
trong
thương mại
quốc
tế
nói
chung, cũng
như khái
niệm
về rào cản
thuế
quan
nói riêng
chỉ
có tính
chất
tương
đối.
Thuế quan khổng
phải
mực
thuế suất
được áp
dụng đối
với
hàng hoa
cùng
loại
của
nước khác.
1.2. Phân loại thuế quan
Xét
theo
các khía
cạnh
khác
nhau,
thuế
quan
được phân thành
nhiều
loại
1.2.1.
Theo múc đích đánh
thuế
a) Thuế quan
tài
chính:
Là
loại
của
Ngân sách Nhà
nước).
Nguyên nhân
là
do hệ
thống
thuế nội
địa chưa hoàn
chỉnh
và
hiệu lực thực
thi
chưa cao nên
thu từ thuế nội
địa
không
nhiều
và khó
khăn,
còn
thuế
quan
lại
có ưu
điểm
là dễ
thu.
Mặt
khác,
loại
thuế
được sử
dụng
với
mục đích bảo hộ nén sản
xuất
trong
nước
thông qua
việc
đánh
thuế cao
hàng hoa
nhập
khẩu
từ
bên ngoài vào
thị
trường
nội
địa.
Thuế
quan
bảo hộ sẽ làm cho giá hàng
nhập
khẩu
tăng cao hơn so
với
mặt
Là
loại
thuế
đánh vào mỗi đơn vị hàng hoa
xuất
khẩu
ra
nước
ngoài.
Thuế
quan
xuất
khẩu
chủ yếu
nhằm mục đích làm
giảm
sự lưu thông
của
hàng hoa đó
ra
bên
ngoài,
nhất
là trong
thời
kỳ
chiến tranh, khi
hàng hoa
khan
hiếm.
(gạo)
hoặc
ảnh
hưởng đến môi trường
sinh
thái
(gỗ).
b) Thuế quan nhập khẩu
Là
loại
thuế
đánh vào mỗi đơn
vị
hàng hoa
nhập
khẩu
từ
nước ngoài vào
thị
trường
nội địa.
Nó hoàn thành cả
chức
năng bảo hộ
lốn
chức
năng
tài
chính.
Về mặt
chống
sự
cạnh
tranh
của nước ngoài và đảm bảo cho
tổ
chức
độc
quyền
đạt
được
lợi
nhuận
tối
đa ờ
thị
trường
trong
nước.
c) Thuế quan quá cành
Là
loại
thuế
đánh vào mỗi đơn vị hàng hoa vặn
chuyển
quá
cảnh
qua một
lãnh
thổ hải
ờ kênh đào Xuyê và Panama.
1.2.3. Theo phương pháp tính thuế
a) Thuế phán
trăm
(ad-
valorem tarìff)
Là một số
phẩn
trăm
nhất
định trên
tỷng
giá
trị giao
dịch
cùa hàng
nhập
khẩu.
Do đó còn được
gọi
là
thuế
tính
theo giá,
số
tiền
thuế
nộp
tỷ
lệ
phi
phấn
trăm
(non
-
ad-
valorem tariff):
gồm 3
loại
sau:
• Thuế
tuyệt
đối:
Là một
khoản
tiên cố định được quy định
phải
nộp trên một đơn vị hàng
nhập
khẩu.
Do đó còn được
gọi
là
thuế
tính
theo
lượng.
Ví
dụ:
1000 đỷng/kg.
Là
loại
thuế
cho phép có
thể
áp
dụng hoặc
thuế
phần
trăm,
hoặc
thuế
tuyệt
đối tuy theo
loại
thuế
nào cao
hơn.
Ví
dụ:
5%
hoặc
1000
đồng/kg,
tuy
loại
nào
cao
hơn
trong
thuế
quan
nói
trên,
thuế
phần
trăm là
loại
thuế
mang
tính rõ
ràng hơn cả nên được WTO
khuyến
khích dùng hơn các
loại
thuế
khác.
Trong
trường
hợp áp
dụng
các
loại
thuế
khác,
các nước cần đưa
ra
mức
thuế
tương đương
định)
thì có mức
thuế
suất
bằng
0
hoặc
rất thấp,
còn ngoài hạn
ngạch
thuế
quan
thì
chịu
mức
thuế suất
cao
hơn đế bảo hộ
sản
xuất trong
nước.
Ví
dụ:
các nước
OECD
có mức
thuế trong
hạn ngạch
tính
trung
kỹ để đưa
ra
mức hạn
ngạch
hợp lý.
WTO cho phép các nước thành viên áp
dụng
hạn
ngạch
thuế
quan.
Theo tư
liệu
của WTO, các nước có số lượng hạn
ngạch
nhiều
nhất
gồm Na Uy
(232),
Ba
Lan
(109),
EU cũ
(90),
Bungari
(73),
Hàn Quốc
(67),
Colombia
(67),
trợ
cấp.
• Thuế
chống
bán phá
giá:
Là một
loại
thuế
quan
đặc
biệt
được áp
dụng
để
ngăn
chặn
và
đối
phó
với
hàng
nhập khẩu
được bán phá giá vào
thị
trường
nội
địa
tạo
ra
hơn
về thuế đối với
hàng
xuất
khẩu
từ
nước áp
dụng
vào nhữmg nước đó.
• Thuế bổ
sung:
Là một
loại
thuế
được
đặt ra
để
thực hiện biện
pháp
tự
vệ
trong
trường hợp
khẩn cấp.
Các Chính phủ có
thể
áp
dụng
thuế
bổ
cho
từng
loại
sản
phẩm. Thông thường được áp
dụng
cho mặt hàng nông
sản,
khi
vào
thời
vụ
thu
hoạch
trong
nước
thì
áp
dụng
mức
thuế suất
cao nhằm bảo hộ
sản
xuất
trong
nước,
khi
hết
thời
vụ
tổng
hợp phân
loại
có hệ
thống
mức
thuế
quan
đối với
tất
cả
hàng hoa
chịu
thuế
khi
đưa vào lãnh
thổ thuế
quan của
một
nước.
Biổu thuế
có
thổ
cấu
tạo từ
một
cột
thuế,
gọi
là
mức
thuế
trở
lên cho
từng
loại
hàng
hoa.
Hàng hoa
nhập khẩu
từ
các nước khác
nhau
có
thổ
chịu
những
mức
thuế
khác
nhau.
Việc
sử
dụng
biổu thuế
kép
thổ hiện
sự
phân
biệt
thương
lượng.
Các mức
thuế
thương lượng
chỉ
áp
dụng
cho hàng hoa
trao
đổi
của
các bên
tham
gia
Hiệp
định.
Hiện
nay có một số
loại
thuế suất
cụ
thổ
được áp
dụng
trong
thương mại
quốc
tế
như
nằm
trong
khoảng từ
20-
110%.
• Thuế
tối
huê quốc (MFN): Là
loại
thuế
mà các nước thành viên WTO áp
dụng
cho
những
nước thành viên khác
hoặc
theo
các
Hiệp
định
song
phương về ưu
li
đãi
thuế
quan.
Đây là
loại
thuế
có mức
có
thể
bằng
không
đối với nhiều
mặt
hàng.
• Thuế quan ưu
đãi
phổ
cây
(GSP):
Là
loại
thuế
ưu đãi đặc
biệt,
do các nước công
nghiệp
phát
triển
đơn phương
dành cho hàng hoa
của
những
nước đang và chậm phát
triển
khi
thâm
nhập
lại,
thuế
GSP là
loại
thuế
mang
tính
chất
đơn
phương,
một
chiểu.
Mức
thuế
được tính trên cơ sả
thuế
tối
huệ
quốc
MFN, thông thường
thuế
GSP được
giảm
5% so
với thuế
MFN. Một số nước còn
miễn
thuế
hoàn toàn cho
hàng hoa được hưảng GSP. Hàng hoa được hưảng GSP
một số nước không cho hưảng
GSP do sợ
bị
cạnh
tranh
về
kinh
tế
và
chính
trị.
Đó
là
nước và hàng
thuộc diện
nước
trưảng
thành như
Singapore,
Hồng Rông (có GDP bình quân đầu
người
là
6000
USD/năm) và hàng trường thành (là
những
hàng
xuất
khẩu
vào các nước công
nghiệp
dược,
sản
phẩm
ôtô
cũng
dành cho
nhau
các ưu đãi
thuế
quan
đặc
biệt
đối với
các
sản
phẩm này.
Trong
biểu thuế xuất
nhập
khẩu
của các nước thường có
nhiều
loại
thuế
cụ
thể
khác
nhau
cho cùng một
loại
sẽ
trở
thành rào
cản
thuế
quan.
1.3. ưu, nhược điểm khi sử dụng rào cản thuế quan
a) Ưu điếm
• Các
biện
pháp
thuế
quan
có ưu
điểm
cơ bản
là
rõ
ràng,
ổn
định,
dễ tính toán
và
ít
bóp méo thương mại
nhất,
do đó đưục WTO
thừa
nhận
là công cụ bảo hộ hụp
• Tuy
nhiên,
một đặc
điểm
dê
thấy
của
thuế
quan
là không
tạo ra
đưục sự bảo
hộ
nhanh
chóng.
• Làm cho
tín
hiệu thị
trường kém
trung thực
• Do đặc tính rõ ràng nên
trong
các
cuộc
đàm phán thương mại
song
phương
và đa phương,
thuế
quan
nhất
trong
thương mại
quốc
tế.
2. Rào cản phi thuê
quan
(Non -
tariff
Barriers)
2.1. Khái niệm
Biện
pháp
phi thuế
quan
là
những
biện
pháp nằm ngoài
thuế
quan,
có liên
quan hoặc
ảnh
hưởng
trực
tiếp
đến
sự
luân
một
biện
pháp
phi thuế
quan
gây cản
trở
đến thương mại của
quốc gia
13
khác mà không dựa trên cơ sở pháp lý
khoa
học
hoặc
bình đẳng thì bị
coi
là một
hàng rào
phi thuế
quan.
Như
vậy,
hàng rào
phi thuế
quan
bao hàm
nghĩa
rộng
hơn các
biện
nước.
2.2. Phăn loại
Rào
cản
phi thuế
quan
bao gụm
nhiều
loại
khác
nhau,
có
thể
được áp
dụng
ờ
biên
giới
hay
nội
địa,
có
thể
là
biện
pháp hành chính và
cũng
có
thể
là các
là
một
số
biện
pháp
phi thuế
quan chủ yếu:
• Các
biên
pháp cấm:
trong
số các
biện
pháp cấm được sử
dụng
trong thực
tiễn
thương mại
quốc
tế
có các
biện
pháp như cấm vận toàn
diện,
cấm vận
từng
phần,
cấm
xuất
khẩu hoặc nhập khẩu
Nhà nước về
số
lượng
hoặc
trị
giá
của
một mặt hàng nào đó
được
phép
xuất,
nhập khẩu
nói
chung hoặc
từ
một
thị
trường nào đó
trong
một
thời
kỳ
nhất
định (thường là Ì
năm).
Mục đích của hạn
ngạch
là dẫn
tới
sự hạn
tự
nguyện).
Hiện
nay WTO cho
rằng
hạn
ngạch là
một
biện
pháp bảo hộ
cứng
rắn
quá và
phản khoa học.
Vì vậy WTO quy định các nước thành viên không được phép áp
dụng,
trừ
một
số
trường
hợp như
tự
vệ
thương
mại,
trả
đũa thương mại
hoặc
khi
cán
cách cấp cho nhà
xuất
nhập khẩu
giấy
phép
xuất
nhập
khẩu.
Đây
là
biện
pháp
mang
tính
chất thủ tặc
hành
chính.
Các
thủ
tặc
cấp
giấy
phép
xuất
nhập khẩu
có
thể
ảnh
hưởng
tiêu cực đến dòng di
đối với
một số
loại
hàng hoa
hoặc
phương
thức
kinh
doanh
xuất
nhập khẩu
nào
đó, chẳng
hạn
là
giấy
phép cho phép
doanh
nghiệp
có
vốn
đầu tư nước ngoài được phép mua, bán hàng hoa trên
thị
trường
nội địa, giấy
phép
nhập khẩu
thuốc
lá
điếu
lý để
điều
tiết
hoạt
động
xuất
nhập khẩu chứ
không nhằm
cản
trở
hoạt
động thương
mại.
Nhưng
việc
sử dặng
các
biện
pháp
cấp
phép không
tặ
động có
thể
dẫn
tới
các rào
cản
thương mại về
thủ tặc
trở
thành các rào cản
phi thuế
quan.
Chẳng
hạn,
các quy định về
kiểm
tra
trước
khi
xếp
hàng,
quy định về cửa
khẩu
thông
quan,
quy định về
trị
giá tính
thuế
hải
quan cũng
sẽ
trở
thành rào cản
khi
mà nó chưa được phù hợp
với
quy
thuật,
các quy
15
định
về phòng thí
nghiệm
và quy định về công
nhận
hợp
chuẩn.
Hàng hoa không
đáp ứng được
những
tiêu
chuẩn
đó
sẽ
không được nước đó
nhập khẩu.
Hiện
có
rất
nhiều
các quy định về hệ
thống
tiêu
chuẩn
được áp
dụng
trên
kỹ
thuật
trong
thương
mại quốc
tế.
WTO đã
phải thống nhất
các nguyên
tộc
chung
và được cam
kết
tại
"Hiệp
định về hàng rào kỹ
thuật
trong
thương
mại"
nhưng cách
thức
mà
nhiều
nước đang áp
dụng
hiện nay,
đặc
biệt
là
đông
thực
vát
(SPS):
theo Hiệp
định về các
biện
pháp
kiểm
dịch
động
thực vật
của
WTO
thì
các
biện
pháp
vệ
sinh
động
thực vật
bao gồm
tất
cả
luật,
nghị
định,
quy
định,
hay
thực
vặt
hay gộn
với
các nguyên
liệu
cần
thiết
cho sự
tổn
tại
cùa
chúng
trong
khi
vận
chuyển, thủ tục lấy
mẫu và đánh giá
nguy cơ,
các yêu cầu
đóng gói và nhãn mác
liên
quan
trực
tiếp
đến an toàn
thực
phẩm. Vì định
nghĩa
Đây là một
trong
những
loại
rào cản phổ
biến nhất hiện
nay
và mức độ
của
nó ngày càng
tinh vi.
• Các quy
đinh
vé
thương
mai
đích
vu:
như quy định về
lập
cõng
ty,
chi
nhánh
và văn phòng
của
nước ngoài
tại
nước sở
tại,
tiến
thương
mại ,
đều có
thể
trở
thành các rào cản
trong
thương mại
quốc
tế
nếu
các quy định này
là
không
minh bạch
và có
sự
phân
biệt
đối
xử.
16
• Các quy
đinh
về đầu
tư
có
liên
quan đến
tư nước ngoài, quy định
bắt buộc
về phát
triển
vùng nguyên
liệu Các
quy
định
trên nếu có sự phân
biệt
đối
xử
giạa
các
doanh
nghiệp trong
nước
với
các
doanh
nghiệp
có vốn đẩu tư nước ngoài đều được
gọi
là rào cân và
hiện
tại
đã
trờ
thành
chủ
nước để nhằm
xác định xem một hàng hoa có
phải
là hàng
nội
địa
hay không và có sự phân
biệt
đối
xử
giạa
các thành viên
thì
quy định về
xuất
xứ đó
vi
phạm
Hiệp
định
về
quy
tắc
xuất
xứ của WTO và đương nhiên
trở
thành rào cản
trong
thương mại
quốc
và nhãn
hiệu nổi
tiếng
của
các công
ty
hay
tập
đoàn xuyên
quốc
gia,
điều
đó gây khó khăn
cho
các
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ
mới
tham
gia
vào
thị
trường
thế
giới.
• Các quy
đinh chuyên ngành
thành viên
của
WTO đều có các quy định
quốc
gia
cho
một
số
hàng hoa
thuộc
diện
quản
lý
theo
chuyên
ngành.
Cách
thức
và
biện
pháp
quản
lý
của
các nước
cũng
rất
khác
nhau.
Đó
loài rùa
biển
và
việc
cấm
nhập khẩu
tôm do đánh
bắt bằng
lưới
quét );
các quy
định
trực
tiếp
về môi trường
trong
lãnh
thổ
quốc-
gia
(quy
định về tiêu
chuẩn
môi
trường,
bao
bì
và
tái chế bao
bì,
về văn hoa và cách nhìn
nhận,
đánh
giá về giá
trị
đạo đức xã
hội
cũng
trở
thành một
trong
các rào
cản
phi thuế
quan
trong
thương mại
quốc
tế.
Trên
thế
giới
có
nhiều
nén văn hoa khác
nhau,
vói
ngẻn
ngữ,
chữ
nước,
luật
lệ
của Chính phủ
Trung
ương
cũng
có sự khác
biệt
so
với
các quy định
mang
tính địa phương. Chẳng hạn nhu
quy
định về
xuất
nhập khẩu
tiểu
ngạch,
quy định về phân
luẻng
đường
cho các
phương
tiện
vận
chuyến
hàng
hoa,
điểm
cơ bản là
phong
phú về hình
thức
nên khả năng tác động và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng
cũng
rắt
đa
dạng.
Do đó nếu
sử dụng
các
biện
pháp
phi thuế
quan
để
phục
vụ một mục tiêu cụ
thể
thì
sẽ
có
nhiều lựa
chọn
mà không bị bó hẹp
trong
khuôn khổ một công cụ duy
nhất
phi thuế
quan
chưa bị cam
kết
ràng
buộc
cắt
giảm
hay
loại
bỏ.
• Có
khả
năng hạn
chế nhập khẩu
một cách
nhanh
chóng
b) Nhược điểm
18
• Không
mang
lại
nguồn
thu
cho ngân sách nhà nước mà còn kèm
theo
là
các
khoản
quyền
Ụ một
số doanh
nghiệp.
HI. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH SỬDỤNG
1. Vị trí, vai trò của các
loại
rào cản
trong
thương mại
quốc
tế
Rào cản thương mại
quốc
tế
được
thể hiện trong
các chính sách thương mại
và các chính sách
hoặc
cơ
chế quản
lý
trong
tổng
thể
hệ
thống
pháp
luật
của mỗi
quốc
gia.
Trước
hết,
hàng rào bảo hộ
sẽ
tạo
điêu
kiện
cho
nhiều
ngành
sản
xuất
có sức
cạnh
tranh
kém hem
so
với
nước ngoài có
thể
tiếp
tục
duy
trì
và phát
triển.
Trong
nâng
cao
trình độ
quản
lý, đổi
mới công
nghệ.
Hơn
thế nữa,
các mục tiêu ổn định xã
hội,
tạo
công ăn
việc
làm thông qua
các
biện
pháp hỗ
trợ
cho
một
số
ngành,
một
số địa
phương
cũng
được
thực
hiện
và
vai
trò
nhất
định.
Chẳng hạn để bảo hộ sản
xuất
trong
nước
người
ta
có
thể
sử
dụng
các
biện
pháp
thuế
quan;
trước các tình
thế
khẩn
cấp, khi
kim
ngạch
nhập
khẩu của
một mặt hàng nào đó tăng
nhanh
đứng
dòng
nhập khẩu ngay
lập tức
lại
tỏ ra
hữu
hiệu.
Để
phục
vụ cho một mục tiêu
nhất
định (ví dụ để bảo hộ sản
xuất
thép)
có
thể
đồng
thời
áp
dụng
các
biện
pháp
phi
thuê
quan
khác
nhau.
Mặt
lại
có tác động gián
tiếp tựi
bảo hộ
sản
xuất
trong
nưực.
Tuy
nhiên,
do các
biện
pháp
thuế
quan
và
phi thuế
quan
có
những
ưu
điểm
và nhược
điểm
nhất
định
nên chúng thường được
sử dụng
đổng
thời.
các Chính phủ vận
dụng
các quy định
trong
nhiều
Hiệp
định và Công ưực
quốc
tế
để ban hành thành hệ
thống
pháp
luật
của
quốc
gia.
Trong
hệ
thống
pháp
luật
của các
quốc
gia
cũng
không có quy định
chính
thức dưựi
tên
gọi
từng
bưực dỡ bỏ các rào cản thương mại
quốc
tế
để thúc đẩy
tự
do hoa
thương mại nhưng các rào cản thương mại
quốc
tế
vẫn
được dỡ bỏ
rất
chậm
chạp,
thậm
chí
còn được
tạo
dựng
mựi một cách
hết
sức
tinh
vi.
Việc
sử dụng
các rào cản
kỹ
thuật
quốc
gia trên thê
giựi
Mặc dù ủng hộ
tự
do hoa thương
mại,
Chính phủ các
quốc
gia
vẩn cứ
dựng
lên các rào cản
đối vựi
thương mại
quốc
tế,
về hình
thức
có
thể
thay
đổi
nhưng
phạm
vi
và mức độ
của
rào
cản
sở
hữu
trí
tuệ.
Nếu như
trước
đây các
biện
pháp được áp
dụng
chủ yếu là
các
biện
pháp hành chính
(cấm, hạn
ngạch
và
giấy
phép)
thì
ngày nay nó
hết
sức đa
dạng,
tinh
vi
và
phức
tạp,
các
đó là về chính
trỳ,
kinh tế
và
văn
hoa.
Sau đây là phân tích một số mục đích và phạm
vi
sử
dụng
rào cản
trong
thương mại
quốc
tế:
2.1. Vì mục đích chính trị
Chính phù
phải
đưa
ra
các
quyết
đỳnh về chính sách thương mại dựa trên sự
tính toán cân
nhấc
tới
nhiều
yếu
tố
có liên
đối với
hoạt
động thương mại
quốc
tế
của
một nước
khác,
ngược
lại
họ
cũng
có
thể
dành các ưu
đãi
đặc
biệt
cho
một
quốc
gia
nào đó vì mục đích chính
trỳ
(trường hợp rõ
nhất
là
Mỹ dành cho
Israen chế
độ
gia.
Nhưng
xuất
phát
từ
động cơ
chính
trỳ
thì
các
biện
pháp
mạnh
thường được
sử
dụng
như cấm
vận,
cấm
nhập
khẩu
hoặc
xuất
khẩu
một
loại
hàng hoa nào đó
hoặc
là
áp
phát
triển
cũng
được các
quốc
gia
áp
dụng
rất
khác
nhau
và thường không
phải
là
tất
cả các nước
thuộc
đối
tượng trên đều được ưu đãi như
nhau.
Sự ưu đãi không
công
bằng
đó chính là rào cản
với
các nước không được ưu đãi
(chẳng
hạn nhu
không được hưởng
chế
những
ảnh
hường
lớn
ở
Châu
Á,
Nhật
Bẳn
chiếm
một
phần
lớn
nhập khẩu
và
xuất
khẩu
ở
nhiều
nước Châu
Á và đã cho
khu
vực
này
vay
một lượng
lớn
tiền
đủ giúp các nước
này
như
vậy.
Tương
tự,
Hoa Kỳ đã
đi
những
bước đi dài
đủ
giành
và
duy
trì
sự
kiủm
soát
các sự
kiện
ờ
Trung,
Bắc và Nam Mỹ
cũng
như ở
vùng
vịnh
Caribe.
Đây
là
một lý
do
duy
trì
cấm
vận
đối với
Cu Ba và dỡ
bỏ
cấm
vận
với
một số
nước
khác
ở Á Rập
một cách
nhanh
chóng.
2.2. Bảo hộ nền sản xuất trong nước
Bào
hộ
là
công cụ phổ
biến
được Chính phủ các nước
sử dụng
đủ
nâng
đỡ
các
doanh
rõ ràng
nhất
có
thủ
nhận
thấy
ờ
các nước đang phát
triủn
như
các
nước
Châu
Mỹ
Latinh,
các
nước Đông
Nam Á, nơi
tồn
tại
số lượng
lớn
các
doanh
nghiệp
Nhà
nước.
Hầu
hết
các
nguyên nhân
sâu
xa
có
thủ
là
thiếu
vốn,
hạn
chế
trong
vấn
đề
đào
tạo
nhân
lực,
thậm
chí
là yếu
kém
trong
khâu
quản lý
Mặc dù
vậy,
việc
giải
thủ
các
thủ
có
thủ
là những
cú
sốc
lớn
cả về
kinh tế
và chính
trị.
Hơn
nữa,
nguyên nhân khác
khiến
Chính phủ
khó
giải
thủ
các
doanh
nghiệp
này còn là
do
họ
vẫn
còn
đặt
niềm
tin
đạt
được mục tiêu về
giảm tỷ
lệ
thất
nghiệp
và
tạo việc
làm cho
người
lao
động
trong
nưậc,
Chính phủ có
thể
sử
dụng
các
biện
pháp khác
nhau
để hạn
chế nhập
khẩu,
thậm
chí cả hạn
chế nhập
khẩu
lao
biện
pháp được
sử dụng
có
thể
là
thuế
quan
nhập
kháu
rất
cao
(ở
vào mức
thuế
đỉnh),
hạn
ngạch cũng
được sử
dụng
bên
cạnh
thuế
thời
vụ, thuế
chống
trợ
cấp
và
thuế
đặt
các quy định về tiêu
chuẩn
trách
nhiệm
xã
hội theo
SA
8000
2.4. Bảo vệ người tiêu dùng trong nước
Kinh tế
càng phát
triển
thì
người
tiêu dùng càng đòi
hỏi
cao hơn về
chất
lượng
hàng hoa và
dịch
vụ,
người
tiêu dùng có sự
quan
tâm
nhiều
hơn đến các vấn
để về
đó mà lây
lan
toàn
câu. Bởi
vậy,
Chính phủ
cần
có các
biện
pháp nhằm tác động
tậi
các
sản
phẩm
nhập khẩu
thông qua các quy
định
về tiêu
chuẩn
chất
lượng sản phẩm, nhãn
hiệu
và đòi
hỏi
bao
gói.
Vậi các
nưậc
công
nghiệp
sự phát
triển
mậi
của
công
nghiệp thực
phẩm,
nhiều
sản phẩm
biến
đổi
gen sẽ đưa vào
thị
trường,
mặc dù chưa đủ
bằng chứng
khoa
học về tác
hại
nhưng
vẫn
có
thể
bị
cấm. Chẳng
hạn,
thịt
bò xử
lý hooc
môn