TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ: PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM - Pdf 10

Trờng đại học ngoại thơng
KHOA kinh tế và kinh doanh quốc tế
***
TIểU LUậN
MÔN: CHíNH SáCH THƯƠNG MạI QuốC Tế
Đề TàI:
PHN TCH LI TH CNH TRANH
XUT KHU GO CA VIT NAM
Giỏo viờn hng dn: V Hong Vit
Sinh viờn thc hin: nhúm 24
Thỏi Mai Tho MSV: 0951020186
Nguyn Th Phng Thy MSV: 0951020169
Hong Thựy An MSV: 0951020105
Vừ Th Thng MSV: 0952030062
Nguyn Th Thu Hng MSV: 0951020123
Trn Th Lờ M MSV: 0952040021

Hà Nội, 11 -2011
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh sản xuất các ngành
công nghiệp nhưng về cơ bản, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp. Tỷ trọng
của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế tuy gần đây bị sụt giảm nhưng vẫn
chiếm vị trí rất quan trọng. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu phải nhập khẩu
hàng triệu tấn lương thực, hiện nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và
công nghiệp, lương thực đã không chỉ được đảm bảo cung cấp cho thị trường
trong nước mà còn đem lại giá trị xuất khẩu lớn. Việc tự do hóa sản xuất nông
nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo đã giúp Việt Nam trở thành nước đứng thứ
hai thế giới về xuất khẩu gạo trong năm 2010 chỉ sau Thái Lan.
Quá trình tự do hóa thương mại ngày càng được mở rộng và diễn ra rất
mạnh mẽ khiến cho việc cạnh tranh xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng gặp nhiều
khó khăn. Chính vì thế, việc đưa ra được những chiến lược phù hợp cũng về sản

biệt là ở châu Á.
3
VẬN DỤNG MÔ HÌNH KIM CƯƠNG PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH
TRANH XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM
Yếu tố thâm dụng
Yếu tố cơ bản:
Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái
Bình Dương, có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào
và Campuchia ở phía Nam, và giáp biển Đông ở phía Đông.
Việt Nam có diện tích 330,363km2, thuộc loại trung bình trên thế giới;
đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp; bờ biển dài thuận lợi
cho giao thông và hoạt động xuất nhập khẩu thong qua đường biển. Việt Nam
nằm ở trung tâm Đông Nam Á, thuộc Bắc bán cầu, có khí hậu nhiệt đới gió mùa
rất thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng lúa. Do vậy, cây lúa là cây lương
thực truyền thống. Người Việt Nam từ xưa đến nay đã tích lũy được nhiều kinh
nghiệm canh tác lúa, làm nền tảng cho việc trồng lúa hướng đến xuất khẩu. Việt
Nam cũng là một trong những nước tham gia xuất khẩu gạo tương đối sớm so
với nhiều nước xuất khẩu khác trên thế giới (300 nghìn tấn gạo sang các nước
thuộc địa của Pháp vào năm 1880).
Việt Nam có điều kiện đất đai tốt, đất rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi
cho phát triển nông, lâm nghiệp. Đất đai là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để
tiến hành trồng trọt, chăn nuôi. Quý đất, tính chất đất và độ phig của đất có ảnh
hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng, vật nuôi. “Đất
nào, cây ấy”, kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với sự phát triển
và phân bố nông nghiệp; và theo đó, cây lúa rất thích hợp với điều kiện đất đai
Việt Nam, tạo nền tảng thuận lợi trong việc xuất khẩu lúa, gạo của nước ta.
Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc, chảy theo hai hướng
chính là tây bắc – đông nam và vòng cung. Hai sông lớn nhất là sông Hồng và
sông Mê Kông tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu. Hệ thống
sông suối hàng năm được bổ sung khoảng 310 tỷ mét khối nước.

được cải thiện đáng kể, điều kiện sống, ăn ở, đi lại, hay là bộ mặt kinh tế - xã hội
nông thôn đã và đang có những thay đổi tích cực rõ rệt.
Ngoài ra, người nông dân cũng có những sáng tạo tạo điều kiện thuận lợi
cho nghề trồng lúa. Ví dụ, ở một số vùng bị nhiễm phèn, ngoài việc dùng vôi
hay phân bón giảm lượng phèn, người nông dân còn dùng thêm bột thuốc lá để
tăng độ xốp của đất, nhiều dinh dưỡng, hạn chế tác hại của phèn, sâu đục thân và
các loại rầy Hay có người nông dân đã phát minh ra những máy móc, dụng cụ
phục vụ tốt cho nghề trồng lúa như máy gặt năng suất cao, hiệu quả tốt hay
những phương pháp chọn lọc, cấy cây giống
Những yếu tố cơ bản và tăng cường nói trên đã tạo nên nền tảng vững
chắc, từ đó thúc đẩy phát triển sản xuất lúa, gạo hướng xuất khẩu ở Việt Nam.
Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ
Công nghiệp sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
Thắng lợi của lĩnh vực nông
n
g
h
i

p
là sự tổng hợp của nhiều yếu tố
nhưng
trong đó phải
k

đến vai trò khá quan trọng của
ngành
phân bón.
Sản lượng cần tăng lên trong khi diện tích
đ

p
nên có
mối liên hệ mật thiết đến tính mùa vụ v
à
sự phân bố diện tích đất nông
n
g
h
i

p
.

Trong vài năm qua, tiêu thụ phân bón của
V
i

t
Nam gia tăng mạnh.
Ngành sản xuất phân
b
ó
n
trong nước vẫn chưa đáp ứng được đủ nhu cầu
nhưng
cũng đã dần
thoát
khỏi sự bảo hộ
c


i

p
,
tuy nhiên đây cũng là một khoản chi phí
tương đối
l

n
.
Nhu cầu phân bón hằng năm của
V
i

t
Nam
khoảng
7,5 – 8
6
triệu tấn phân bón các loại trong
đó
loại phân
NPK
có nhu cầu cao nhất
khoảng
2,5 triệu
t

n
/


p
khẩu 100%. Sản xuất trong nước chỉ có
khả năng cung cấp 3 loại
p
h
â
n
:
- Phân
đ

m
:

H
i

n
cả hai nhà máy Đạm Hà Bắc v à Đạm Phú Mỹ có
khả
n
ă
n
g
đáp ứng được một nửa nhu cầu đạm trong
n
ư

c.

/
n
ă
m
.
Năng lực sản xuất phân
l
â
n
trong nước
đã đáp ứng được phần lớn nhu
c

u
.
-
NPK
phối
t
r

n
:
số lượng các nhà máy có cung cấp phân
NPK
trong
nước
k
h
á

lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, nhưng chỉ tạo ra chưa đầy
20% GDP, dẫn đến chênh lệch thu nhập giữa nông dân và thị dân ngày càng cao.
Do vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế,
sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp tại Việt Nam đã được quan tâm hơn, với
đa dạng các chủng loại sản phẩm gồm: động cơ đốt trong đến 30 mã lực, máy
làm đất (máy cày 4 và 2 bánh), máy thu hoạch (gặt đập liên hợp, gặt lúa xếp dãy,
máy tuốt lúa), máy bơm nước, máy phun thuốc sâu, máy bảo quản và chế biến
(xay xát lúa gạo, máy sấy). Duy trì và đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và đầu tư
là nỗ lực không ngừng của các doanh nghiệp sản xuất máy nông nghiệp hiện
nay. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã vấp phải không ít khó khăn, thách thức, đó
là chính sách hỗ trợ nông dân mua máy nông nghiệp trong nước sản xuất chưa
phát huy được như mong muốn, và các biến động về thị trường tiêu thụ sản
phẩm, thị trường vốn, về giá cả các yếu tố đầu vào cho sản xuất
Xét về vị trí cạnh tranh giữa các đơn vị sản xuất máy động lực và máy
nông nghiệp trong nước có tính chất công nghiệp (tức là có chi tiết nội địa hoá
trên 60%) thì VEAM là đơn vị đứng đầu về máy động lực và máy nông nghiệp
sản xuất trong nước. Tuy nhiên, về thị phần thì hiện nay, các doanh nghiệp trong
nước mới chiếm khoảng 30% (trong đó VEAM chiếm 25%).
Những năm gần đây, các hệ thống thiết bị chế biến nông sản được chế tạo
trong nước ngày càng nhiều hơn với công suất và chất lượng ngày càng cao hơn.
Ngành công nghiệp chế biến.
8
Trong những năm qua ở nước ta đã hình thành những vùng sản xuất nông
nghiệp hàng hóa tập trung, với quy mô lớn, đã và đang phát huy thế mạnh, tiềm
năng của các địa phương. Ðó là các vùng sản xuất lúa gạo ở đồng bằng sông
Hồng và đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long. Công nghiệp chế biến lương
thực thực phẩm là một trong những ngành công nghiệp trọng điểm với cơ cấu
ngành đa dạng nhờ nguồn nguyên liệu tại chỗ phong phú và thị trường tiêu thụ
rộng lớn ở trong và ngoài nước… Hằng năm đồng bằng sông Cửu Long có
khoảng 11 triệu tấn gạo nhưng công nghệ xay xát đến nay vẫn chưa có gì đổi

gạo của Việt Nam. Theo ông Trương Thanh Phong – chủ tịch VFA (Hiệp hội
lương thực Việt Nam) thì xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2010 về giá và lượng
đều tăng đáng kể, đạt mức cao nhất trong hơn chục năm qua. Cả năm đạt 6,754
triệu tấn gạo xuất với trị giá gần 3 tỷ USD, giá xuất khẩu bình quân trên
431USD/tấn và gần bằng với mức giá gạo Thái Lan.
Châu Á vẫn là thị trường truyền thống của Việt Nam khi lượng gạo Việt
Nam xuất vào thị trường này chiếm đến 59,4%, tiếp đến là thị trường Châu Phi
23,55%. Gần đây, nhu cầu của thị trường nước ngoài với lúa gạo của Việt Nam
tăng cao, thị trường lúa gạo đang có những diễn biến bất ngờ, như Indonesia liên
tiếp trong 2 năm (2008, 2009) không nhập khẩu gạo nhưng đến năm 2010 lại
nhập đến 1,5 triệu tấn gạo của Việt Nam. Tương tự là Bangladesh trong năm
2010 nhập tổng cộng 400.000 tấn gạo, vượt ngoài tính toán từ đầu năm. Trong
năm 2011, hai thị trường này dự tính có thể sẽ nhập 700.000 tấn gạo của Việt
Nam. Bên cạnh đó, một số thị trường truyền thống như Philippines cũng có
những thay đổi về chính sách lương thực nên nhu cầu của thị trường này cũng
thay đổi. Đáng lưu ý, theo VFA, trong 9 tháng vừa qua, giá xuất khẩu bình quân
FOB đạt trên 520USD/tấn, tăng 133USD/tấn so với cùng kỳ. Bởi hiện nay thị
trường xuất khẩu biến đổi theo chiều hướng có lợi cho Việt Nam. Cụ thể, thị
trường giờ đã hình thành 2 cấp, một là nhu cầu gạo cấp thấp, giá rẻ với nguồn
cung từ Ấn Độ; hai là, nhu cầu gạo cao cấp, giá cao từ Thái Lan, Việt Nam. Với
10
việc Thái Lan áp dụng chính sách hỗ trợ nâng giá lúa sẽ khiến giá gạo tăng cao,
điều này chưa hẳn đã được các nước nhập khẩu gạo chấp nhận vì các nước này
đang chịu lạm phát. Khả năng các nước đổ sang tìm nguồn cung ở Việt Nam là
điều dễ thấy. Trong khi đó, Việt Nam ngoài việc có thể cạnh tranh thị phần gạo
cấp cao với Thái Lan trong lúc họ biến động, thì có thể giành được thị trường
gạo cấp thấp và cấp trung bình ở gần địa giới, bởi cước vận chuyển thấp, chất
lượng và nguồn hàng ổn định hơn Ấn Độ. Với thị trường toàn cầu, gạo Việt Nam
ngày càng khẳng định được vị trí, giữ được giá xuất khẩu và có khả năng cạnh
tranh cao ở loại gạo cấp trung bình. Việc duy trì các thị trường truyền thống và

sản xuất lúa gạo để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Đẩy mạnh công nghệ, tăng năng lực cạnh tranh.
Để phát huy lợi thế của vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng
gạo xuất khẩu, các vùng chuyên canh lúa xuất khẩu đã tập trung đầu tư phát
triển công nghệ trong các khâu từ canh tác đến chế biến gạo.
Đặc biệt phải kể đến tỉnh Vĩnh Long đã đầu tư các cụm chế biến xay xát
gạo chất lượng cao theo công nghệ liên hoàn từ khâu sấy khô, bảo quản đến xay
xát chế biến, tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn, có sức cạnh tranh và giá trị cao
đồng thời hạ giá thành sản phẩm để nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Công ty cổ
phần lương thực thực phẩm Vĩnh Long tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh, đồng bộ thiết
bị xay xát, đánh bóng ở xí nghiệp chế biến lương thực số 5, 7, 8 kho Phú Lộc.
Trong đó trọng điểm là dự án đầu tư 8 tỷ đồng trang bị máy tách màu chuyên
sản xuất chế biến gạo cao cấp, gạo đặc sản, gạo đồ để xuất khẩu sang các thị
trường có nhu cầu cao như Iran, khối các nước Ả Rập, Nhật Bản, Malaysia và
dự án đầu tư 9 tỷ đồng xây dựng nhà máy sản xuất bao bì để giảm giá thành xuất
khẩu gạo. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu gạp và nhà máy xay xát, cơ
sở chế biến gạo liên kết tổ chức mạng lưới mua gắn với vùng nguyên liệu trong
12
tỉnh và khu vực, nâng cấp mạng lưới khi dự trữ và công nghệ bảo quản nhằm
khắc phục tình trạng chỉ hoạt động hết công suất vào các tháng mùa vụ, chủ
động nguyên liệu nâng sản lượng xay xát chế biến phục vụ nhu cầu xuất khẩu và
tiêu thụ nội địa.
Áp dụng trồng giống lúa chất lượng cao.
Trong những năm qua, mặt sản xuất lúa theo tiêu chuẩn GlobalGAP (an
toàn, sạch, có chất lượng cao) ở Đồng bằng sông Cửu Long tuy còn gặp nhiều
khó khăn và đang còn mới mẻ đối với nông dân, nhưng đã có một số vùng sản
xuất có kết quả và đạt tiêu chuẩn được công nhận. Áp dụng tiêu chuẩn
GlobalGAP trong sản xuất lúa còn kết hợp các biện pháp về giống lúa cho năng
suất cao, phẩm chất gạo ngon, kháng sâu bệnh chính và áp dụng các kỹ thuật
canh tác tiến bộ như 3 giảm 3 tăng, 5 giảm 1 phải… nhằm giảm chi phí sản xuất,

Nhận định về thị trường xuất khẩu gạo trong thời gian gần đây, ông
Huỳnh Minh Huệ cho biết, yếu tố chính tạo áp lực thay đổi thị trường trong thời
gian qua là chương trình can thiệp tăng giá gạo tại Thái Lan và yếu tố này đã
xảy ra nhưung tình hình có vẻ không như mong đợi, giá đã không tăng cao như
dự báo. Trong khi đó, Ấn Độ xuất khẩu trở lại bình thường và có đủ khả năng để
bù vào khoảng trống do Thái Lan để lại, đặc biệt là gạo đồ và ngay cả gạo 5%
tấm với tín hiệu trúng thầu Iraq. Theo đánh giá, Ấn Độ đang là trung tâm thu hút
sự quan tâm của thương mại gạo thế giới. Song khả năng cung ứng, giao hàng
chậm do điều kiện hậu cần yếu và chất lượng chưa ổn định, nhưng vấn đề này có
thể khắc phục.
14
Trước tình hình trên, các chuyên gia dự báo thị trường gạo Việt Nam sẽ có
sự thay đổi nhất định trong thời gian tới do đối thủ cạnh tranh với Việt Nam ở
thời điểm này không còn là Thái Lan nữa mà là Ấn Độ và Pakistan. Cạnh tranh
sẽ gay gắt hơn vì giá gạo Ấn Độ và Pakistan đang thấp hơn giá gạo Việt nam rất
nhiều (trên 100USD/tấn). Việt Nam có lợi thế với thị trường gần và cung cấp ổn
định nhưng giá từ các nguồn khác quá thấp sẽ hình thành giá nơi đến cũng thấp
hơn.
Theo VFA, tính chung trong 7 tháng đầu năm 2011, xuất khẩu gạo đạt
4,619 triệu tấn. Giá xuất khẩu bình quân đạt 473,37 USD/tấn, tăng 35,11
USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt trong tuần cuối tháng 7, giá gạo
Việt Nam tăng do ảnh hưởng tâm lý từ thị trường Thái Lan (tăng từ 50-70
USD/tấn). VFA dự báo, sắp tới giá gạo xuất khẩu sẽ còn tiếp tục tăng do ảnh
hưởng từ giá gạo Thái Lan. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho ngành sản xuất
lúa gạo Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh nhiều cơ hội như trên, xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn
phải đối mặt với nhiều thách thức không thể chủ quan. Khi giá gạo xuất khẩu
tăng, bên cạnh có thể mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao giá bán
sẽ có nhiều rủi ro do thị trường biến động thường xuyên, giá tăng cao ngoài dự
kiến, có thể nhiều doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn không kịp đáp ứng nguồn hàng

sát sao mọi hoạt động của thị trường gạo để có có các hành động thúc đẩy, phát
triển thị trường, cũng như kịp thời xử lí những vấn để phát sinh khi thị trường
biến động và kịp thời báo cáo Chính phủ nếu vấn đề vượt qua tầm kiểm soát để
có thể giải quyết nhanh và kịp thời, không gây thiệt hại lớn cho ngành sản xuất
và tiêu thụ gạo. Hiệp hội lương thực Việt Nam có nhiệm vụ tìm kiếm thị trường,
khách hàng để bảo đảm thu hút được cá hợp đồng có giá trị lớn, lâu dài; hướng
16
dẫn các khung giá xuất khẩu và tổ chức đăng kí hợp đồng xuất khẩu linh hoạt
đối với các hợp đồng thương mại.
Trợ cấp
Với những vụ mùa gặp nhiều khó khăn như hạn hán, sâu bệnh, nước biển
xâm mặn hay thiên tai khiến cho hiệu suất lúa giảm hiệu quả hay ngay cả khi
nông dân được mùa nhưng giá gạo xuống thấp thì chính phủ sẽ kịp thời có các
chính sách hỗ trợ đặc biệt giúp những người nông dân có thể giảm thiểu những
thiệt hại. Một trong những biện pháp hữu hiệu đó là hỗ trợ lãi suất hoặc thu mua
lúa gạo trong mùa thu hoạch, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo.
Năm 2009, dù các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long được mùa lúa nhưng
giá gạo giảm nên lợi nhuận thu được từ mùa vụ của những người nông dân
giảm. Trước hoàn cảnh đó, để tháo gỡ khó khăn cho bà con nông dân, Hiệp hội
Lương thực Việt Nam đã chỉ đạo các công ty lương thực tăng lượng gạo dự trữ
để đảm bảo cho người sản xuất có lãi từ 30% trở lên. Và hỗ trợ lãi suất vay cho
nông dân để đầu tư mua vật tư nông nghiệp phục vụ mùa sản xuất tới.
Năm 2010, Do gặp nhiều thiên tai như hạn hán, lũ lụt và sâu bệnh nên
việc sản xuất lúa gạo gặp nhiều khó khăn. Một động thái tích cực của Hiệp hội
lương thực dưới sự chỉ đạo cuả ban điều hành xuất khẩu gạo đã bám sát thị
trường, cả đầu ra lẫn đầu vào để đưa ra những quyết định xuất khẩu và giá để
làm sao có thể vừa thu mua hết lúa, vừa đảm bảo được lợi ích của người sản
xuất lúa. Chủ trương là thu hoạch đến đâu thu mua đến đó, chính phủ đã ra
Quyết định số 993/ QĐ –TTg, trong đó nêu rõ, ngân sách nhà nước hỗ trợ 100%
vốn lãi suất cho các doanh nghiệp.

nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng bộ tài chính và một số bộ, ngành điều
tra thực địa và đưa ra mức giá bảo hiểm là 3.800 đồng/kg. Nghĩa là trong vụ này,
nếu giá lúa rớt xuống 3.800 đồng/kg, người trồng lúa sẽ được bảo hiểm tức là đủ
bù 3.800 đồng/kg.
Đây là chủ trương nhằm khuyến khích người dân trồng lúa trong cả
nước yên tâm sản xuất.
18
KẾT LUẬN
Thế giới luôn thay đổi từng ngày về mọi mặt, nhu cầu về lúa gạo
không phải ở thời điểm nào cũng giống nhau nhưng nhìn chung vẫn liên tục tăng
vì đây là một trong những loại lương thực chủ yếu phục vụ con người. Việt Nam
đã tận dụng được những lợi thế vốn có và khắc phục phần nào những yếu điểm
để trở thành nước xuất khẩu nhiều lúa gạo đứng thứ hai trên thế giới, điều này
đã được thực tế chứng minh. Đây là thành quả đáng quý và cần phát huy ngày
một tốt hơn của chúng ta.
Tuy nhiên đi đôi với nhu cầu về lượng, sự đòi hỏi về chất cũng ngày
một cao, do vậy ta cần nâng cao hiệu quả sản xuất hơn nữa. Nhìn chung năng
lực cạnh tranh của Việt Nam không phải là nhỏ nhưng vẫn còn thấp hơn một số
nước khác. Phương thức sản xuất của chúng ta vẫn còn nhỏ lẻ và lạc hậu, chưa
áp dụng triệt để được những tiên tiến của khoa học kỹ thuật. Vì vậy, sự quan tâm
và đầu tư đúng mức của Nhà nước là hết sức quan trọng để ta có thể giữ vững
thậm chí nâng cao vị trí một trong những đất nước xuất khẩu lúa gạo lớn nhất
thế giới.

19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình kinh tế Ngoại thương – Nhà xuất bản Kinh tế lao động
Hà Nội năm 2007.
- “Thị trường gạo thế giới” – Tạp chí Ngoại thương.
- “Sản xuất, lưu thông, xuất khẩu gạo của Thái Lan và Việt Nam, những chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status