LI M U
Việt Nam đã trải qua lịch sử ngàn năm dựng nớc và giữ nớc. Sau cuộc
chiến tranh chống Mỹ cứu nớc đến tháng 4 năm 1975, Việt Nam hoàn toàn
giải phóng, thống nhất đất nớc và bớc vào thời kỳ xây dựng kinh tế theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, phải đến tháng 12 năm 1986, với
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI về việc thực hiện
đờng lối đổi mới kinh tế và chính sách mở cửa, đa phơng hoá quan hệ thị trờng, nền kinh tế Việt Nam mới thật sự đợc khởi sắc, bớc đầu đạt đợc những
thành tựu kinh tế quan trọng.
Thực tế cho thấy, việc xây dựng một chính sách thơng mại quốc tế phù
hợp là yêu cầu cơ bản để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội. Đã có rất nhiều quốc gia đạt đợc những thành công đáng kể trong
các thập kỷ 60, 70, 80 khi xác định đúng hớng cho Chính sách thơng mại
quốc tế của quốc gia mình, trở thành những nớc có nền kinh tế phát triển,
các nớc công nghiệp mới (Nics),... Không nằm ngoài mục tiêu đó, ngay từ
những ngày đầu thực hiện đờng lối đổi mới, Đảng ta đã xác định vai trò
quan trọng của Chính sách thơng mại quốc tế đối với nền kinh tế đất nớc,
chú trọng và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế có điều kiện và khả
năng tham gia vào hoạt động xuất, nhập khẩu, góp phần đẩy mạnh việc hội
nhập kinh tế quốc tế.
Với mục đích nh vậy, đề tài nghiên cứu về Chính sách thơng mại quốc
tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay gồm ba phần cơ bản:
Chơng I : Tổng quan về Chính sách thơng mại quốc tế
Chơng II: Thực trạng Chính sách thơng mại quốc tế Việt Nam
Chơng III
: Định hớng và một số đề xuất giải pháp
1
Mục lục
1. Hoàn thiện chính sách thơng mại quốc tế hớng tới mục tiêu
2
nâng cao chất lợng, hiệu quả và sức canh tranh của hoạt
động ngoại thơng.............................................................................................
2. Hoàn thiện chính sách thơng mại quốc tế với hớng u tiên
trọng yếu là phát triển xuất khẩu.........................................................
3. Hoàn thiện chính sách thơng mại Quốc tế bảo đảm mục tiêu
chủ động thâm nhập thị trờng Quốc tế....................................................
4. Hoàn thiện chính sách thơng mại Quốc tế trên cơ sở khai
thác triệt để thế mạnh của chính sách kinh tế nhiều thành
phần , tăng cờng tính năng động, khả năng động và khả
năng thích ứng nhanh của mọi loại hình thờng nhập..................
5. Hoàn thiện chính sách thơng mại quốc tế hớng tới mục tiêu
thay đổi căn bản về đối tợng và phơng thức quản lý nhập
khẩu.......................................................................................................................
3
Chơng I
Tổng quan về chính sách thơng mại quốc tế
I.
Khái niệm và nhiệm vụ của chính sách thơng
mại quốc tế
Chính sách thơng mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu,
3 Chính sách mặt hàng: trong đó bao gồm danh mục các mặt hàng đợc
chú trọng trong việc xuất nhập khẩu sao cho phù hợp với trình độ phát triển
và đặc điểm của nền kinh tế đất nớc cũng nh các mặt hàng cần hạn chế
hoặc cấm xuất nhập khẩu, trong một thời gian nhất định, do những đòi
hỏi khách quan của chiến lợc phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu của
việc đảm bảo an ninh, an toàn xã hội.
4 Chính sách thị trờng: bao gồm định hớng và các biện pháp mở rộng
thị trờng, xâm nhập thị trờng mới, xây dựng thị trờng trọng điểm, các biện
pháp có đi có lại giữa các quốc gia mang tính chất song phơng hoặc đa phơng, việc tham gia vào các Hiệp định thơng mại và thuế quan trong phạm vi
khu vực hay toàn cầu nhằm tạo điều kiện cho hoạt động thơng mại quốc tế
phát triển phục vụ cho các mục tiêu của chiến lợc phát triển kinh tế xã
hội.
5 Chính sách hỗ trợ: bao gồm các chính sách và biện pháp kinh tế
nhằm tác động một cách gián tiếp đến hoạt động thơng mại quốc tế nh:
chính sách đầu t, chính sách tín dụng, chính sách giá cả và tỷ giá hối đoái,
cũng nh chính sách sử dụng các đòn bẩy kinh tế,... Các chính sách này có
thể gây tác động thúc đẩy hay điều chỉnh sự phát triển của hoạt động thơng
mại quốc tế.
II. Vai trò của Chính sách thơng mại quốc tế
Chính sách thơng mại quốc tế là một bộ phận trong chính sách đối
ngoại của một quốc gia. Chính sách kinh tế đối ngoại là tổng thể các
nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp có mối liên hệ hữu cơ và mang
tính đồng bộ nhằm đạt đợc các mục tiêu đã định, trong việc phát triển lĩnh
vực kinh tế đối ngoại của quốc gia trong từng thời kỳ nhất định,
Chính sách kinh tế đối ngoại bao gồm Chính sách thơng mại quốc tế
(chính sách ngoại thơng), chính sách đầu t nớc ngoài, chính sách phát triển
các dịch vụ thu ngoại tệ (du lịch quốc tế, giao thông vận tải quốc tế, bảo
hiểm quốc tế, xuất và nhập khẩu sức lao động, ...), chính sách tỷ giá hối
đoái,...
Nh vậy, Chính sách thơng mại quốc tế là một bộ phận của chính sách
nớc. Theo đó, Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá
xuất khẩu hay nhập khẩu của mỗi quốc gia, có vai trò quan trọng trong việc
bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ mới đợc hình thành cha có khả năng
cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ là thuế
quan (bao gồm cả thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu) đều sẽ làm giảm lợng
cầu quá mức trong nớc đối với hàng có thể xuất khẩu, đồng thời chúng sẽ
tác động đến các điều kiện thơng mại khác cũng nh phân phối các loại lợi
ích. Do đó, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, vai trò của thuế quan đã phần
nào bị suy giảm, đặc biệt với các nớc công nghiệp phát triển. Xu hớng hiện
nay là các quốc gia chuyển dần từ hình thức thuế quan sang hình thức phi
thuế quan mang tính mềm dẻo và tế nhị hơn để bảo hộ sản xuất trong nớc.
6
2. Hạn ngạch (Quato)
Hạn ngạch hay hạn chế số lợng đã trở nên ngày càng quan trọng trong
những năm gần đây, một công cụ phổ biến trong hàng rào phi thuế quan.
Hạn ngạch đợc hiểu là quy định của nhà nớc về số lợng cao nhất của một
mặt hàng hay một nhóm hàng đợc phép xuất hoặc nhập khẩu từ một thị trờng trong một thời gian nhất định, thông qua hình thức cấp giấp phép. Công
cụ hạn ngạch cho phép thực hiện mục tiêu sản xuất trong nớc thay thế nhập
khẩu, bảo hộ sản xuất trong nớc. Tuy nhiên, việc sử dụng hạn ngạch dẫn tới
sự lãng phí nguồn lực của xã hội, có thể biến một doanh nghiệp trong nớc
thành một nhà độc quyền, ảnh hởng tiêu cực tới nền kinh tế trong nớc. Do
đó trong thực tiễn ngời ta thờng chỉ áp dụng hạn ngạch nhập khẩu cho một
số loại sản phẩm đặc biệt hay cho sản phẩm với thị trờng đặc biệt.
3. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Đây là hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan. Hạn chế xuất
khẩu tự nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu, mà theo đó, một quốc
gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lợng hàng xuất
đời sống kinh tế thế giới với nhữg cấp độ là toàn cầu hoá và khu vực hoá,
lực lợng sản xuất phát triển vợt ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia, sự
phân công lao động quốc tế phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu, vai trò của
các công ty đa quốc gia đợc tăng cờng, hầu hết các quốc gia chuyển sang
xây dựng mô hình kinh tế mở với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế
so sánh của nền kinh tế mỗi nớc. Tự do hoá thơng mại đa lại lợi ích cho mỗi
quốc gia, mặc dù trình độ phát triển có khác nhau và nó phù hợp với xu thế
phát triển chung của nền văn minh nhân loại.
Nội dung của tự do hoá thơng mại là Nhà nớc áp dụng các biện pháp
cần thiết để từng bớc giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan và
hàng rào phi thuế quan trong quan hệ mậu dịch quốc tế, nhằm tạo điều kiện
ngày càng thuận lợi hơn cho việc phát triển các hoạt động thơng mại quốc
tế cả bề rộng lẫn bề sâu. Tự do hoá thơng mại trong thơng mại trớc hết
nhằm vào việc thực hiện chủ trơng mở rộng qui mô xuất khẩu của mỗi nớc
cũng nh đạt tới những điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu. Kết quả
của tự do hoá thơng mại là ngày càng mở cửa dễ dàng hơn thị trờng nội địa
cho hàng hoá, công nghệ nớc ngoài, cũng nh các hoạt động dịch vụ quốc tế
đợc xâm nhập vào thị trờng nội địa, đồng thời cũng đợc một sự thuận lợi
hơn từ phía các bạn hàng trong việc xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ từ trong
nớc ra nớc ngoài. Điều đó có nghĩa là phải đạt tới một sự hài hoà giữa tăng
cờng xuất khẩu và nới lỏng nhập khẩu.
Các biện pháp để thực hiện tự do hoá thơng mại là việc điều chỉnh theo
chiều hớng nới lỏng dần với bớc đi phù hợp trên cơ sở các thoả thuận song
8
phuơng và đa phơng giữa các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch
đã và đang tồn tại trong quan hệ thơng mại quốc tế. Việc hình thành các
liên kết kinh tế quốc tế với các tổ chức kinh tế quốc tế cũng tạo thuận lợi
cho tự do hoá thơng mại trớc hết trong khuôn khổ các tổ chức đó.
7 Thứ hai, lý lẽ về việc tạo nên nguồn tài chính công cộng. Theo lý lẽ
này, các loại thuế nhập khẩu là cần thiết để đảm bảo nguồn thu cho chính
phủ để đáp ứng các chi phí trong việc cung cấp các hàng hoá công cộng, để
tiến hành việc trả nợ và giải quyết các khoản chi trả khác. Trong các loại
thuế khác nhau mà trong thực tế ngời ta đã đáp ứng nh thuế doanh thu, thuế
thu nhập, hay thuế tiêu dùng thì thuế nhập khẩu vẫn là ít gây méo mó hơn
cả và việc thực thi sẽ có nhiều thuận lợi hơn do hoạt động buôn bán quốc tế
tập trung ở một số cửa khẩu.
8 Thứ ba, lý lẽ về việc khắc phục một phần tình trạng thất nghiệp
thông qua việc thực hiện chế độ thuế quan bảo hộ. Theo lý lẽ này, các loại
thuế nhập khẩu đánh vào các sản phẩm có thể thay thế nhập khẩu sẽ tạo
điều kiện để mở rộng thêm việc sản xuất cho các sản phẩm loại ấy và tạo
thêm việc làm cho ngời lao động trong nớc, vì khi ấy các hãng sẽ có thể trả
cho ngời lao động mức lơng cao hơn. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến cho
rằng thuế nhập khẩu là một loại trợ cấp việc làm, song việc trợ cấp này chỉ
diễn ra ở các ngành sản xuất hàng hoá có thể thay thế nhập khẩu (khu vực
này hạn chế), mặt khác sự trợ cấp này lại không chỉ riêng cho việc làm (hay
lao động) mà tơng đơng cho việc thuê cả các yếu tố sản xuất khác nh đất
đai, tiền vốn hay nguyên liệu (không cần thiết hoặc không tốt).
9 Thứ t, lý lẽ về việc thực hiện phân phối lại thu nhập thông qua việc
áp dụng chế độ bảo hộ. Theo lý lẽ này, các loại thuế nhập khẩu sẽ làm
chuyển dịch một phần thu nhập của ngời tiêu dùng giàu có hơn sang cho
những ngời sản xuất các loại hàng hoá nhập khẩu. Điều đó sẽ có lợi về mặt
xã hội, tuy nhiên cũng có những ý kiến cho rằng thuế quan nhập khẩu cha
hẳn đã đáp ứng đợc mục tiêu mong muốn.
3. Mối quan hệ giữa xu hớng tự do hoá thơng mại và xu hớng bảo hộ
mậu dịch
Từ những lý luận từ hai xu hớng trên trong Chính sách thơng mại quốc
cho các ngành sản xuất trong nớc trong quá trình cạnh tranh với hàng hoá
từ bên ngoài mà còn phải tạo điều kiện cho các ngành sản xuất trong nớc vơn lên cạnh tranh thắng lợi không chỉ ở thị trờng nội địa mà cả ở thị trờng
quốc tế, có nghĩa phải vận dụng các công cụ bảo hộ một cách tích cực và
năng động. Việc thực hiện bảo hộ phải gắn liền với các bớc tiến của quá
trình tự do hoá thơng mại đạt đợc trong quan hệ quốc tế.
4. Những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ thơng mại quốc tế.
Chính sách thơng mại quốc tế của một quốc gia có ảnh hởng đến nhiều
quốc gia khác, bởi vậy nó chịu ảnh hởng của nguyên tắc nhằm chống sự
phân biệt đối xử, bảo đảm sự có đi có lại nh sau:
1.1.
Chế độ u đãi nhất
Chế độ u đãi nhất (chế độ tối huệ quốc) là chế độ mà các nớc giành cho
nhau trong quan hệ kinh tế và buôn bán về các mặt thuế quan, hàng rào trao
đổi, tàu bè chuyên chở, quyền lợi pháp nhân và tự nhiên của các nớc này
trên lãnh thổ của nớc kia... Theo tập quán quốc tế, khi một nớc cam kết cho
một nớc khác hởng chế độ này thì phải dành cho nớc đó tất cả những u đãi
11
mà mình đã hoặc dành cho một nớc thứ ba.
Chế độ tối huệ quốc có thể là vô điều kiện hoặc có điều kiện. Trong trờng hợp vô điều kiện thì các nớc cam kết dành cho nhau hởng mặc nhiên
bất cứ một quyền lợi nào đó mà một trong các bên đã hoặc sẽ dành cho bất
kỳ nớc thứ ba nào. Trong trờng hợp có điều kiện thì một nớc đã cho một nớc thứ ba hởng chế độ u đãi với điều kiện nh thế nào thì một quốc gia khác
muốn đợc hởng tất cả những u đãi nh đã đợc dành cho nớc thứ ba đó cũng
phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nh thế. Chế độ tối huệ quốc thờng đợc
quy định cụ thể trong một khoản riêng của một hiệp ớc hoặc hiệp định thơng mại, do đó thờng gọi là điều khoản tối huệ quốc.
Tuy nhiên, chế độ tối huệ quốc không đợc áp dụng trong buôn bán đờng
biên, buôn bán truyền thống và trờng hợp có những u đãi thuế quan đặc
hối đoái tăng do kết quản của sự bảo hộ và khuyến khích nhập khẩu sản
phẩm chế tạo. Khi ấy nếu khu vực nông thôn phát đạt thì sẽ gây tổn thất cho
các nhà sản xuất công nghiệp. Cách khắc phục là có thể trợ cấp cho những
nhà sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ.
2. Các chính sách hớng ngoại ban đầu
Đặc điểm của chính sách này là nhiều nớc đang phát triển trong giai
đoạn đầu hớng vào xuất khẩu những loại hàng nông sản truyền thống và ngời ta thực hiện chính sách đánh thuế nhập khẩu tơng đối thấp để tăng nguồn
thu cho chính phủ, vì ở giai đoạn này không có khả năng lựa chọn các loại
thuế khác. Điều này đa tới ảnh hởng xấu là tăng giá cả tiêu dùng và một số
ngành sản xuất thay thế nhập khẩu trở nên phi hiệu quả. Tuy nhiên, nhờ
nguồn thuế tăng nên ngời ta có thể chi tiêu nhiều hơn vào hạ tầng cơ sở để
hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu.
Chính sách thơng mại ở đây thiên về ủng hộ cho sự thay thế nhập khẩu
và tạo ra một biểu thuế nhập khẩu đem lại nguồn thu thích hợp mà không
cần tới sự bảo hộ mạnh mẽ.
3. Các chính sách hớng nội tiếp theo
Chính sách thơng mại nông nghiệp hớng nội sẽ đa tới sự mở rộng cho
các ngành công nghiệp nhỏ với sự trợ cấp nh nói ở trên đã dần dần khuyến
khích nền công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu. Các công cụ của chính sách
thơng mại thờng đợc sử dụng phục vụ cho hớng đó.
Bên cạnh chính sách bảo hộ chung ngời ta có thể thực hiện sự hỗ trợ có
lựa chọn cho nền công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, đó là một nền công
nghiệp non trẻ.
Về mặt lịch sử, luận chứng về nền công nghiệp non trẻ đã bị lạm dụng
quá mức ở các nớc đang phát triển. Ngời ta có thể đa ra biểu thuế nhập khẩu
tới 50%, nhng đôi khi đã đẩy quá tới mức 300% mà không chú ý tới việc
đảm bảo cho các ngành này có thể trởng thành. Yêu cầu đặt ra với chính
sách thơng mại ở đây là phải tránh đợc lệch lạc kéo theo cho ngời tiêu
dùng, tránh lựa chọn sai các ngành non trẻ để hỗ trợ, can thiệp để khắc phục
đợc những khiếm khuyết của thị trờng. Có thể thực hiện các khoản trợ cấp
sách thay thế nhập khẩu. Có ý kiến cho rằng chính sách thay thế nhập khẩu
là gia đoạn đầu cần thiết của một chính sách hớng mạnh về xuất khẩu, bởi
vì trớc khi có thể xuất khẩu mạnh mẽ ra thị trờng thề giới cần phải đáp ứng
đợc yêu cầu của thị trờng nội địa và cần phải bảo vệ thị trờng nội địa. Tuy
nhiên, cả về lý luận và thực tiễn thì nội dung và mục tiêu cũng nh phơng
tiện cần sử dụng của chính sách hớng mạnh về xuất khẩu có nhiều vấn đề
khác so với chính sách thay thế nhập khẩu. Điều rõ ràng là cơ cấu của hàng
14
hoá hớng mạnh hớng mạnh về xuất khẩu sẽ khác xa so với cơ cấu của hàng
hoá thay thế nhập khẩu. Chính điều này quyết định việc bố trí cơ cấu kinh
tế, việc áp dụng khoa học và công nghệ, việc phân bố các nguồn lực cũng
nh việc sử dụng các công cụ của chính sách thơng mại. Từ đó sẽ đa đến
hiệu quả khác nhau của chính sách hớng mạnh về xuất khẩu đối với chính
sách nhập khẩu. Thực tiễn cho thấy, nếu thực hiện tốt chính sách hớng
mạnh về xuất khẩu thì cũng tạo điều kiện để thực hiện tốt chính sách thay
thế nhập khẩu, trong khi đó điều ngợc lại ít xảy ra.
15
Chơng II
Thực trạng Chính sách thơng mại quốc tế Việt
Nam
Kinh tế Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển lịch sử nhất định.
Cho đến trớc khi thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa (tháng 12/1986),
nền kinh tế Việt Nam vẫn là nớc nhỏ, lạc hậu, quan hệ buôn bán chủ yếu
diễn ra đối với các nớc xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý theo mô hình chỉ
2006 sẽ tới 56%, và năm 2007 là 80%, ngang bằng với ô tô nhập khẩu cùng
chủng loại). Nh vậy, hiện nay ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn đang
đợc Nhà nớc bảo hộ, đợc đa vào danh mục loại trừ tạm thời, không phải cắt
giảm theo chơng trình thuế quán có hiệu lực chung (CEPT) trong ASEAN.
Đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, theo số liệu thống kê
của Bộ Thơng mại hoạt động thơng mại năm 2004 của nớc ta chịu nhiều
ảnh hởng kinh tế thơng mại trong và ngoài nớc. Kinh tế thế giới đang
trên đà hồi phục với sự tăng trởng mạnh của các nền kinh tế lớn nh: Hoa
Kỳ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc dù vẫn song hành nhiều nhân tố bất ổn
nh: nguy cơ khủng bố luôn đe doạ nhiều nền kinh tế lớn, căng thẳng chính
trị ở Trung Đông và những khu vực khác, dịch cúm gia cầm lan rộng, cha đợc khống chế triệt để ở nhiều nớc Châu á, thiên tai, động đất và dịch bệnh
xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, Tuy nhiên, kim ngạch xuất nhập khẩu
của Việt Nam cũng đã đạt đợc một số kết quả nhất định.
Cả năm 2004, xuất khẩu của Việt Nam ớc đạt đợc mô tả theo bảng số
liệu sau:
Năm
Kim ngạch (triệu USD)
Tăng trởng (%)
DN 100% vốn trong nớc
Tăng trởng (%)
DN có vốn ĐTNN
Tăng trởng (%)
2001
2002
15.027
104
8.228
77.909
115,81
38.319
111,23
39.093
120,34
Nh vậy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ớc đạt 26.003 triệu USD,
tăng 29% so với thực hiện năm 2003. Trong đó các doanh nghiệp 100% vốn
trong nớc đạt 11.742 triệu USD, tăng 17,28%; các doanh nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoàI đạt 14.261 triệu USD, tăng 40,3%. Tổng kim ngạch xuất khẩu
thực hiện năm 2004 bằng 115,8% kế hoạch; Các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực đạt mức tăng trởng cao là dầu thô tăng 48,3% so với năm 2003 (vợt
49,7% kế hoạch năm 2004); than đá tăng 46.8% (vợt 50,2% kế hoạch năm
2004); gạo tăng 30,7% (vợt 34,4% kế hoạch 2004); cà phê tăng 18% (vợt
25% kế hoạch 2004); sản phẩm gỗ tăng 86% (vợt 57.3% kế hoạch 2004);
dây điện và cáp điện tăng 46.4% (vợt 13% kế hoạch 2004); các mặt hàng
xuất khẩu chủ lực khác nh hạt điều, hạt tiêu, dệt may, giày dép, đề có mức
tăng trởng khá.
17
Thị trờng xuất khẩu đợc mở rộng cả số lợng và quy mô so với năm
2003. Các thị trờng xuất khẩu có mức tăng trởng nhanh hơn mức tăng trởng
xuất khẩu bình quan của cả nớc năm 2004 là Nam Phi, Thuỵ Sỹ, AiLen,
Trung Quốc, Canada, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Các tiểu vơng quốc ả Rập
thống nhất, Philippin, Thái Lan, Iraq, New Zealand, Campuchia, Anh, Tây
Ban Nhan, Bỉ, Singapore, Phần Lan.
Các thị trờng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với năm 2003 là Ba Lan,
16.412
2004
31.500
123
20.554
2001 2004
92.622
119,14
Dựa trên biểu đồ, có thể thấy tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2004 ớc
đạt 31.523 triệu USD, tăng 25% so với thực hiện năm 2003. Trong đó khu
vực 100% vốn trong nớc đạt 20.554 54 triệu USD, tăng 25,2%; khu vực có
vốn đầu t nớc ngoài đạt 10.969 triệu USD, tăng 24,4%. So với kế hoạch
năm, mức nhập khẩu thực hiện năm 2004 vợt 19%; có 2/31 mặt hàng chủ
yếu kim ngạch giảm là: máy móc thiết bị phụ tùng giảm 4,5%,
nguyên phụ liệu thuốc là giảm 6,9% so với năm 2003; có 29/31 mặt hàng
chủ yếu kim ngạch tăng, trong đó tăng cao nhất là cao su (113%), bột giấy
(87,5%), gỗ nguyên liệu (87,6%), bông (84%), kim loại thờng (83%), phôi
thép (65%), chất dẻo nguyên liệu (56%), vảI (40%),; nhiều mặt hàng có
kim ngạch nhập khẩu vợt xa kế hoạch năm 2004 là linh kiện xe gắn máy (vợt 33%), thép thành phẩm (47%), phôI thép (38%), phân bón các loại
(37%), xăng dầu (43%), bông (51%), bột giấy (67%), cao su (73%), Các
thị trờng có tốc độ tăng trởng nhập khẩu cao trong năm 2004 là: Thuỵ Sĩ,
18
Uc, Pháp, Phần Lan, Thái Lan, Lào, Philippin, Trung Quốc, Ân Độ,
18.12
2003
20,706
25,227
-5,051
25.03
2004
26,003
31,523
-5,520
21.23
2001-2004
77,912
92,645
-14,913
19.14
Năm 2004 mức nhập siêu của cả nớc là 5.520 triệu USD, bằng 21% kim
ngạch xuất khẩu, và giảm gần 4% so với mức nhập siêu năm 2003 (nhập
siêu năm 2003 bằng 25.03 kim ngạch xuất khẩu). Trong đó, khối doanh
nghiệp 100% vốn trong nớc nhập siêu 8.812 triệu USD, khối doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoàI xuất siêu 3.292 triệu USD.
Trong khi đó, xuất khẩu dịch vụ cả năm 2004 đạt 3,405 triệu USD, tăng
8.8% so với năm 2003, và vợt 3.2% so với kế hoạch. Nhập khẩu dịch vụ
2004; xuất khẩu vào Châu Âu và EU từ 21.9% và 19.6% năm 2003 lên
22.6% và 20% năm 2004), các thị trờng khác có xu hớng ổn định. Khối
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tiếp tục đóng góp tích cực vào mức
tăng trởng xuất khẩu, tỷ trọng của khối này trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nớc đạt xấp xỉ 55%, tăng 5% so với tỷ trọng của khối này trong tổng
kim ngạch của cả nớc năm 2003. Bên cạnh đó, xuất khẩu của khu vực này có
xu hớng tăng liên tục trong những năm gần đây (năm 2004 tăng 40,4% so
với năm 2003), dần trở thành động lực chính dẫn dắt tăng trởng xuất khẩu
của nớc ta.
Một trong số những nguyên nhân quan trọng làm tăng mạnh do sản xuất
công nghiệp tăng trởng với tốc độ cao, giá trị sản xuất công nghiệp năm
2004 ớc đạt 354 ngàn tỷ đồng, tăng 6.6% so với kế hoạch và tăng 16% so
với năm 2003. Trong đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nớc tăng 11.8%, ngoài
quốc doanh tăng 22,8%, khu vực đầu t nớc ngoài tăng 15,7%. Trong nớc, các
doanh nghiệp chủ động chuẩn bị hàng, tận dụng tốt cơ hội nhằm đẩy mạnh
xuất khẩu.
20
Đối với nhập khẩu, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu giảm so với năm
2003 theo hớng hợp lý, đảm bảo góp phần nguyên nhiên phụ liệu để
phát triển sản xuất, xuất khẩu và ổn định thị trờng trong nớc. Kim ngạch
nhập khẩu tăng là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm sự tăng trởng
của GDP và xuất khẩu.
Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu tiếp tục dịch chuyển theo hớng tích cực:
nhóm hàng phục vụ sản xuất (nguyên, nhiên vật liệu) chiếm tỷ trọng ngày
càng cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu, tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu
nhóm hàng tiêu dùng giảm trong tổng kim ngạch. Cơ cấu thị trờng nhập
khẩu của Việt Nam tiếp tục chuyển biến tích cực: tăng nhập khẩu hàng máy
trọng nhóm hàng nguyên liệu, khoáng sản từ 19% (năm 2003) tăng lên mức
23% năm 2004. Tăng trởng xuất khẩu của hàng công nghiệp nhẹ và tiểu
thủ công nghiệp giảm từ 28,8% năm 2003 xuống còn 27,1% năm 2004. Nh
vậy, tăng trởng xuất khẩu chủ yếu do kim ngạch xuất khẩu của nhóm nguyên
liệu khoảng sản tăng mạnh với sự dẫn dắt của yếu tố tăng giá trên thị trờng thế giới, trong khi hàm lợng gia công của nhiều mặt hàng trong nhóm
công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp còn cao nh dệt may, giày dép, lắp
ráp linh kiện máy tính, nên ít đợc hởng lợi từ yếu tố tăng giá trên thị trờng
thế giới.
Ngoài ra, khối doanh nghiệp 100% vốn trong nớc tiếp tục đóng góp
kim ngạch xuất khẩu của cả nớc ở mức khiêm tốn, xấp xỉ 45%, tơng đơng
với tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nớc năm 2003. Nguyên nhân do các doanh nghiệp 100% vốn trong nớc cha
thực sự năng động và theo kịp với tình hình mới, nhiều doanh nghiệp còn
biểu hiện trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nớc.
Có thể nói các rào cản thơng mại của các quốc gia nhập khẩu là một
trong những yếu tố hạn chế xuất khẩu của Việt Nam. Một số rào cản của các
quốc gia nhập khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu ở Việt Nam: Quy định hạn
ngạch đối với mặt hàng dệt may của Việt Nam (kể từ năm 2005, EU sẽ bỏ
hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt Nam); quy định thuế suất cao đối
với mặt hàng tôm khi xuất khẩu vào thị trờng Mỹ, Australia; Mỹ kiện Việt
Nam trong việc bán phá giá cá Basa vào thị trờng Mỹ, gây ra những khó
khăn không nhỏ cho doanh nghiệp Việt Nam khi tiến hành hoạt động xuất
khẩu hàng hoá ra nớc ngoài.
Nhập khẩu của Việt Nam trong năm qua, bên cạnh những mặt đợc nh đã
phân tích ở trên, còn có những hạn chế:
Thứ nhất, tốc độ tăng trởng và kim ngạch nhập khẩu lẫn tỷ trọng nhập
khẩu (so với tổng kim ngạch nhập khẩu) nhóm hàng máy móc, thiết bị và
phụ tùng giảm nhiều so với năm 2003 (chiếm 21%) thì sang năm 2004 chỉ
còn chiếm 16% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nớc. Trong bối cảnh
nớc ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cố gắng mở rộng
nhng do quy mô nhập khẩu lớn hơn nhiều so với quy mô xuất khẩu nên cả nớc vẫn nhập siêu với quy mô lớn.
Thứ ba, giá cả hàng hoá trên thị trờng thế giới tăng, hình thành một mặt
bằng mới so với những năm trớc. Cơ cấu nhập khẩu còn cha hợp lý, tỷ trọng
nhập khẩu từ các nớc ASEAN vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn so với các thị trờng khác.
Thứ t, đó là về chính sách về quản lý cho vay ngoại tệ, ngoại hối cởi mở
một mặt tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động nhập khẩu, mặt khác là
nguyên nhân tăng nhập siêu.
Đối với cán cân thơng mại dịch vụ, trong năm 2004, nhập siêu dịch vụ
là 1.575 triệu USD, bằng 46% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ. Nguyên
nhân của tình trạng này là do tỷ trọng nhập siêu dịch vụ nớc ta cao hơn
nhiều so với mức nhập siêu hàng hoá. Đồng thời, việc điều chỉnh nhập siêu
23
dịch vụ của nớc ta trong những năm qua cha đợc chú trọng và quan tâm
đúng mức để có các giải pháp hạn chế nhập siêu trong lĩnh vực này.
24
Chơng III
Định hớng và một số đề xuât giải pháp
I. Định hớng:
Chính sách thơng mại Quốc tế của mỗi quốc gia rất khác nhau qua
mỗi giai đoạn phát triển kinh tế do các điều kiện kinh tế xã hội chính
trị tự nhiên trong từng thời kỳ lịch sử quy định. Song dù khác nhau nh
thế nào chúng đều vận động theo qui luật chung và chịu sự chi phối của hai
xu hớng cơ bản sau: Xu hớng tự do hoá thơng mại và xu hớng bảo hộ mậu
dịch, hai xu hớng này mang tính khách quan và tạo nên cơ sở cho việc hình