đổi mới chính sách thương mại quốc tế của việt nam trong quá trình hội nhập asean - Pdf 13

Đổi mới chính sách thơng mại quốc tế của Việt Nam
trong quá trình hội nhập ASEAN
Ch ơng I
Cơ sở lý luận của đổi mới chính sách thơng mại
quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập khu
vực và quốc tế.
1.1. Tính tất yếu của đổi mới chính sách thơng mại
quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập.
1.1.1. Học thuyết của Adam Smith và các trờng phái Cổ điển
mới về tự do hoá thơng mại
1.1.1.1. Học thuyết của Adam Smith về tự do hoá thơng mại
Từ thế kỷ XVI - XVII trờng phái trọng thơng ở Tây Âu mà đại biểu là:
Thoms Mum đã đề cao vai trò của ngoại thơng đối với sự giàu có kinh tế
của một quốc gia. Các nhà kinh tế của trờng phái trọng thơng cho rằng
Nội thơng là một hệ thống ống dẫn, ngoại thơng là cái máy bơm, muốn
tăng của cải phải có ngoại thơng nhập dầu của cải qua nội thơng sự phát
triển của sản xuất t bản chủ nghĩa đã chứng minh việc tuyệt đối hoá vai trò
của ngoại thơng của trờng phái trọng thơng. Chủ nghĩa trọng thơng là t t-
ởng kinh tế của giai cấp t sản trong giai đoạn phơng thức sản xuất phong
kiến tan rã và chủ nghĩa t bản mới ra đời. Đây là giai đoạn chủ nghĩa t bản
đang trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ t bản, sẵn sàng dùng bạo lực để
thực hiện việc cớp bóc để tích luỹ. Ngoại thơng lúc đó là phơng tiện để giai
cấp t sản thực hiện cách cớp bóc ở thuộc địa thông qua việc trao đổi ngang
giá. Nói cách khác, đó là lối buôn bán theo kiểu cớp đoạt, quốc gia này có
lợi giầu lên trên cơ sở quốc gia khác chịu bất lợi, nghèo đói. Chính vì
những hạn chế đó chủ nghĩa trọng thơng đã nhờng bớc cho các học thuyết
nghiên cứu về kinh tế t bản chủ nghĩa một cách toàn diện hơn. Tuy vậy, chủ
nghĩa trọng thơng đã có những cống hiến nhất định về mặt lý luận khi chỉ
ra vai trò quan trọng của ngoại thơng đối với sự phát triển kinh tế của các
quốc gia.
Cùng với sự phát triển của sản xuất t bản chủ nghĩa từ thế kỷ XVIII

vô hình, nguyên lý nhà nớc không can thiệp vào hoạt động kinh tế đợc
đề cao. Học thuyết này cũng cho rằng việc tổ chức nền kinh tế cần tuân
theo nguyên tắc tự do, hoạt động của nó là do các quy luật khách quan chi
phối. Mỗi ngời hoạt động chỉ nhằm lợi nhuận sinh ngạch, song do bàn tay
vô hình của thị trờng chi phối hoặc ngời ta phải phục tùng tỷ suất lợi
nhuận bình quân , điều này nằm ngoài ý định của nhà nớc quả là trong quá
trình tồn tại của mình chủ nghĩa t bản đã đa lại nền sản xuất với năng suất
cao với hệ thống máy móc hiện đại và làm ra của cải xã hội lớn hơn nhiều,
so với chế độ phong kiến nh Mác-Ăngghen đã phân tích. Nhng đến cuối
thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 những mâu thuẫn vốn có và những khó khăn kinh
tế, thất nghiệp và cuộc khủng hoảng kinh tế vào những năm 1825 và 1930
đã làm nảy sinh nhiều hiện tợng kinh tế xã hội mới đòi hỏi phải có sự phân
tích kinh tế mới. Trớc bối cảnh đó, các học thuyết kinh tế của trờng phái t
4
bản cổ điểnđã tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ CNTB. Đòi hỏi phải có
những học thuyết kinh tế mới thay thế và nhiều trờng phái kinh tế chính trị
tiền hiện đại xuất hiện. Trong đó trờng phái cổ điển mới đóng vai trò
quan trọng, trờng phái này giữ vai trò thống trị vào những năm cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20. Cũng giống nh trờng phái cổ điển cũ, các nhà kinh tế
học trờng phái cổ điển mới ủng hộ tự do thơng mại, chống sự can thiệp
của nhà nớc vào kinh tế . Họ tin tởng chắc chắn vào cơ chế thị trờng tự phát
sẽ đảm bảo thăng bằng cung cầu, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển. Tr-
ờng phái cổ điển mới dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan, để giải thích các
hiện tợng và quá trình kinh tế, ủng hộ lý thuyết giá trị chủ quan theo lý
luận này, cùng một hàng hoá với ngời cần nhiều thì giá trị của hàng hoá sẽ
lớn hơn và ngợc lại. Họ chuyển sự chú ý phân tích sang lĩnh vực trao đổi, lu
thông và nhu cầu, tích cực áp dụng toán học vào phân tích kinh tế. Các nhà
kinh tế trờng phái cổ điển mới sử dụng các công cụ toán học nh công
thức đồ thị, mô hình vào phân tích kinh tếđể đa ra các khái niệm mới nh
lợi ích giới hạn năng xuất giới hạn và sản phẩm giới hạn vì vậy trờng

trí tuệ ngày càng cao. Nếu trong thời kỳ trớc đây tái sản xuất vật chất và
lao động giản đơn là nguồn lực kinh tế chủ yếu thì ngaỳ nay thông tin đang
đợc hình thành tạo nên nguồn lực kinh tế chủ yếu. Trong đó con ngời trở
thành yếu tố trung tâm của sự phát triển. Đầu t để có những ngời lao động
đợc đào tạo chính quy, có kỹ năng, có đầu óc tìm tòi sáng tạo, là đầu t quan
trọng nhất.
Trong nền kinh tế hiện đại, các ngành dịch vụ có hàm lợng tri thức
cao nh tài chính, phát thanh truyền hình, chăm sóc y tế, đào tạo nhân lực,
luật pháp, xử lý số liệu.sẽ rất phát triển . Đồng thời việc thay đổi các yếu
tố, các điều kiện sản xuất, việc cấu trúc lại nền kinh tế các quốc gia, tác
động sâu sắc đến chiều hớng phát triển và cơ cấu thơng mại thế giới theo h-
ớng:
Các loại hình dịch vụ (XK vô hình) và quyền sở hữu trí tuệ không
ngừng gia tăng về tỷ trọng trong tổng doanh số thơng mại quốc tế.
Các sản phẩm (XK hữu hình) có hàm lợng công nghệ cao, có giá trị
gia tăng lớn sẽ không ngừng tăng về giá trị và tỷ trọng trong tổng số kim
ngạch buôn bán thế giới.
Ngày nay xu hớng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
đang bớc sang 1 giai đoạn mới triệt để hơn. Với các phơng tiện thông tin
hiện đại các dịch vụ phát thanh truyền hình , đặc biệt là dịch vụ Internet đã
làm cho thế giới hình nh nhỏ bé lại trong bối cảnh đó bất cứ công ty nào
cũng có thể trở thành đa quốc gia với ý nghĩa mọi sản phẩm đều có thể
sản xuất và đợc bán ở mọi nơi , mọi lúc. Đối với Việt Nam, sự trao đổi và
phân công lao động quốc tế đang còn ở giai đoạn sơ khai, những định hớng
chiến lợc và chính sách phát triển thơng mại, vừa phải tính đén xu hớng
toàn cầu hoá, vừa phải tính đến xu hớng khu vực hoá kinh tế nhất là sau khi
Việt Nam đã trở thành, thành viên chính thức của ASEAN.
Một đặc điểm quan trọng khác của nền kinh tế thơng mại thế giới
hiện nay là tính cạnh tranh khốc liệt. Các tập đoàn kinh tế lớn coi thị trờng
6

cũng nh trong cuộc đấu tranh của họ chống lại các nớc nhỏ bé hơn nhằm áp
đặt ảnh hởng của mình trên toàn thế giới. Còn toàn cầu hoá là xu thế tất
yếu phát triển mới nẩy sinh trên cơ sở trong cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ. Quốc tế hoá là một quá trình trong đó mối quan hệ đợc thể chế
hoá giữa các dân tộc dựa trên những tiêu chuẩn và hệ thống chung đã đợc
cộng đồng quốc tế chấp nhận và thực hiện thông qua việc ký kết các điều -
ớc, hiệp định và qua các tập quán quốc tế. Trên một số mặt hoạt động của
xã hội loài ngời quốc tế hoá là bớc đầu để đi đến toàn cầu hoá . Ví dụ
7
chế độ mậu dịch tự do đã đợc quốc tế hoá bằng việc ký kết hiệp định
GATT, chế độ này sẽ đợc toàn cầu hoá trong tơng lai với viẹc tham gia của
đại bộ phận các nớc trên thế giới. Còn toàn cầu hoá kinh tế là việc hình
thành một thị trờng thế giới thống nhất, một hệ thống tài chính, tín dụng
toàn cầu; là sự phát triển và mở rộng phân công lao động quốc tế theo
chiều sâu; là sự mở rộng giao lu kinh tế và khoa học công nghệ giữa các
quốc gia trên toàn cầu; là việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội có tính
toàn cầu nh vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, môi tròng và sinh thái.
Trong khi đó khu vực hoá kinh tế chỉ diễn ra trong một không gian địa lý
nhất định dới nhiều hình thuức nh khu mậu dịch tự do, đồng minh thuế
quan, đồng minh kinh tế, đồng minh tiền tệ, thị trờng chung nhằm mục
đích hợp tác, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Xoá bỏ những cản trở trong việc
di chuyển đầu t, lực lợng lao động, hàng hoá, dịch vụtiến tới tự do hoá
hoàn toàn những di chuyển nói trên giữa các nớc thành viên trong khu vực.
Nền kinh tế thế giới đợc thúc đẩy bởi cả hai xu hớng toàn cầu hoá
lẫn khu vực hoá, mậu dịch thế giới và buôn bán khu vực đan xen cùng phát
triển. Sự xuất hiện tổ chức mậu dịch thế giới (WTO) với quyền hạn rộng
lớn hơn GATT và đợc luật pháp quốc tế công nhận (điều mà GATT không
có) đã và đang làm cho các hoạt động thơng mại quốc tế có đợc ngời điều
khiển, lãnh đạo (vì trong cơ cấu của WTO có hệ thống giải quyết tranh
chấp nhất quán). Trong tơng lai khi hội tụ đợc đầy đủ tất cả các nớc, WTO

phẩm xuất khẩu phù hợp với điều kiện nớc ta và bối cảnh bên ngoài.
Tính đồng bộ và hoàn thiện hệ thống chính sách thơng mại của nớc
ta còn thấp.
1.1.3.2. Chính sách thơng mại quốc tế còn thiếu tầm chiến lợc cho hội
nhập khu vực và quốc tế.
Chính sách thơng mại khi tham gia khu vực và quốc tế cũng nh
những quy định trong các hiệp định thơng mại khu vực cha có chiến lợc hội
nhập và cha đợc tuyên truyền thông tin đầy đủ và chính xác đến các doanh
nghiệp.
Những mâu thuẫn và bất cập trong chính sách thơng mại vẫn còn
phổ biến từ luật pháp đến triển khai của chính phủ.
Tính ổn định của chính sách thơng mại cha cao. Sự thay đổi thờng
xuyên trong chính sách đã gây khó khăn cho các hoạt động thơng mại quốc
tế. Nhiều khi nó còn làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu t và gây cản trở
trong quá trình hội nhập. Bên cạnh đó cũng có những chính sách đã lạc hậu
lại chậm sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hoặc thay thế đã gây khó khăn trong
quá trình hội nhập.
Các nớc trong ASEAN đều đã phục hồi nhanh chóng trong cuộc
khủng hoảng kinh tế và đã phục hồi và tăng trởng nhanh chóng nh
Xingapore, Thái Lan
Các doanh nghiệp Việt Nam cha sẵn sàng thực hiện AFTA và hội
nhập: có t tởng cho rằng việc tham gia vào ASEAN; APEC; WTO là công
việc của nhà nớc, ở tầm vĩ mô còn các doanh nghiệp Việt Nam không có
trách nhiệm. Điều này thật là nguy hiểm vì khi thực thi các doanh nghiệp
lại là ngời trực tiếp thực hiện và tác động rất lớn tới sự tồn tại, hiệu quả
kinh doanh. Do không biết hoặc cha sẵn sàng tham gia và hội nhập nên các
doanh nghiệp không chủ động đầu t, thay đổi cách quản lý và chuẩn bị kỹ
9
lỡng nên bị động thua thiệt. Có thể khẳng định rằng khả năng chống lại tác
động tiêu cực khi thực hiện hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam là rất

khăn mà trớc hết đó là những hậu qủa nặng nề của quá khứ điều này dẫn
đến sự khác nhau về thể chế và cơ chế quản lý kinh tế. Nớc ta đang ở trong
giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh
tế thị trờng. Các quan hệ thị trờng trong nền kinh tế Việt Nam thực sự cha
đủ lớn (cái bảo thủ của cung cách quan liêu bao cấp trong quản lý còn nặng
10
nề) điều này thể hiện mức độ sẵn sàng đón nhận tiến trình AFTA cha cao
xét về mặt cơ chế quản lý.
Quan trọng hơn nữa là khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế
giữa Việt Nam và các nớc ASEAN (về thu nhập, bình quân trên đầu ngời,
dự trữ ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu t , trình độ công nghệ) cho thấy sự
cách biệt quá lớn bất lợi cho Việt Nam là mối lo ngại cho quá trình hoà
nhập, trình độ công nghệ sản xuất nh hiện nay, đặc biệt trong các ngành
chủ chốt nh công nghệ chế biến, chế tạo máy còn ở mức yếu kém thì sẽ
không đủ sức để cạnh tranh chiếm lĩnh thị trờng và có thể sẽ là nơi tiêu thụ
hàng hoá của các nớc ASEAN thậm chí có thể nhiều doanh nghiệp bị phá sản.
Cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và các nớc
ASEAN là tơng đối giống nhau vì vậy có thể gây ra sự cạnh tranh trong
khu vực, trong việc thu hút đầu t, tìm kiếm thị trờng và công nghệ (ở mức
độ khác nhau) và còn phải nói đến sự cạnh tranh của Việt Nam và cả khối
với Trung Quốc trong lĩnh vực thơng mại lẫn thu hút đầu t nớc ngoài.
Ngoài ra, khó khăn lớn nhất mà Việt Nam sẽ phải đơng đầu trong
quá trình hội nhập sẽ là nhân tố về con ngời do trình độ kể cả cán bộ quản
lý kinh tế và của các doanh nhân còn cha đáp ứng đợc với nhu cầu đặt ra
của tình hình mới.
Môi trờng vĩ mô của Việt Nam cha đợc ổn định (trong đó có thủ tục
hành chính con ngời, cơ chế hạ tầng cơ sở) vẫn cha sẵn sàng hội nhập.
Một thách thức lớn nữa là cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam luôn
luôn bị nhập siêu trong khi đó có một số nớc trong khu vực mong muốn hội
nhập quốc tế nhanh hơn đó là: Singapo, Thái Lan, Inđônexia

nhiều quốc gia khác. Bởi vậy nó chịu ảnh hởng của nhiều nguyên tắc nhằm
chống lại sự phân biệt đối sử, đảm bảo sự có đi có lại cho các bên tham gia
hợp tác và buôn bán quốc tế.
Do môi trờng kinh tế thế giới đang còn bị chi phối và tác động bởi vì
mối quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách
thơng mại quốc tế của mỗi quốc gia cùng phải đáp ứng với nhiều mục tiêu
cụ thể khác nhau của từng thời kỳ. Những mục tiêu chung của chính sách
thơng mại quốc tế là nhằm điều chỉnh các hoạt động thơng mại quốc tế
theo chiều hớng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong
điều kiện mở rộng và phát triển các quan hệ hợp tác và phân công lao động
quốc tế.
12
* Nội dung của chính sách thơng mại quốc tế.
Chính sách thuế quan và hạn ngạch
Chính sách tài trợ xuất khẩu
Chính sách kỹ thuật thực thi nhập khẩu
Chính sách điều chỉnh về thể chế thơng mại
Chính sách điều chỉnh về khuôn khổ luật pháp
Chính sách điều chỉnh về hệ thống kinh doanh phục vụ
* Chính sách quản lý xuất nhập khẩu là: Nhà nớc quản lý và điều
tiết hoạt động thơng mại quốc tế thông qua công cụ rất quan trọng là chính
sách quản lý. Chính sách quản lý thơng mại quốc tế của nhà nớc là các
nghị định, quyết định, quy định của chính phủ và các cơ quan của chính
phủ về lĩnh vực thơng mại quốc tế đó là các chính sách quản lý xuất nhập
khẩu .
* Nội dung của chính sách quản lý xuất nhập khẩu là:
Chính sách quản lý về mặt hàng xuất nhập khẩu
Chính sách quản lý về cơ chế giá cả
Chính sách quản lý về quota và giấy phép xuất nhập khẩu
Chính sách quản lý về tỷ giá hối đoái

ờng hợp sau:
Miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu: Xem xét trong trờng hợp một nớc
nhỏ, khi không có thuế, nớc này sẽ sản xuất ở mức So, tiêu dùng ở mức Do
và cần phải nhập khẩu một khối lợng là Do-So (hình a). Nếu chính phủ
đánh thuế nhập khẩu, giá hàng hoá trong nớc sẽ tăng lên tới Pw(1+t), tiêu
dùng sẽ giảm xuống D1, sản xuất trong nớc sẽ tăng lên S1 và khối lợng
nhập khẩu là D1-S1 (nh hình b). Bây giờ, nếu chính phủ giảm thuế nhập
khẩu, giá cả hàng hoá trong nớc sẽ giảm từ Pw(1+t) xuống còn Pw, điều
này làm giảm chi phí sản xuất trong nớc và qua đó khuyến khích xuất
khẩu.
Sơ đồ 1.1: Tác động của thuế xuất nhập khẩu đến hoạt động xuất
khẩu
14
E
P
P
W
(1+t)
P
W
P
W
(1+t)
D1 DoSo
S1
S1 So
Dd
P
W
EDW

giữa chúng có một số điểm khác biệt, thể hiện:
Hạn ngạch cho biết trớc số lợng hàng hoá xuất khẩu, còn thuế quan
thì không.
Hạn ngạch không đem lại thu nhập cho chính phủ và không có tác
dụng hỗ trợ các loại thuế khác.
Hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp trong nớc trở thành nhà độc
quyền (trong trờng hợp chỉ có doanh nghiệp đó là ngời duy nhất nhận đợc
hạn ngạch).
Trong thực tế, hạn ngạch có thể đem lại lợi nhuận rất lớn cho ngời xin
đợc, vì vậy dễ dẫn đến tình trạng tiêu cực khi xin hạn ngạch. Để hạn chế
hiện tợng này, ngời ta áp dụng biện pháp bán đấu giá hạn ngạch. Ví dụ nh
vừa qua Bộ thơng mại Việt Nam đã áp dụng thí điểm đối với hàng dệt may.
1.2.1.4. Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái.
Đây là hình thức nhà nớc đòi hỏi tất cả các khoản thu chi ngoại tệ phải
đợc thực hiện qua hệ thống ngân hàng hoặc cơ quan quản lý ngoại hối.
Trên cơ sở đó nhà nớc có thể kiểm soát đợc các nghiệp vụ thanh toán ngoại
tệ của các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu để qua đó điều tiết hoạt động
ngoại thơng.
Ví dụ nhà nớc hạn chế việc rút ngoại tệ ở tài khoản để thanh toán
hàng nhập khẩu với các mặt hàng hạn chế nhập khẩu và tạo điều kiện thanh
toán nhanh, đơn giản các mặt hàng khuyến khích xuất khẩu.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (The nominal exchange rate - NER):
Tỷ giá hối đoái có thể định nghĩa theo nhiều cách. Cách định nghĩa
đơn giản nhất, tỷ giá hối đoái danh nghĩa (NER) là giá đồng nội tệ của một
đơn vị ngoại tệ. Cách định nghĩa khác, NER là tỷ lệ trao đổi tiền tệ hay tỷ
lệ mà hai đồng tiền trao đổi với nhau. Một đồng tiền đợc coi là giảm (tăng)
giá trị khi tăng (giảm) đơn vị nội tệ đợc mua bởi một đơn vị ngoại tệ. Tỷ
giá hối đoái danh nghĩa có thể đợc xác định chính thức hoặc không chính
thức. Do vậy, ở trên thị trờng không đợc thừa nhận chính thức hoặc không
có một thị trờng tơng tự. Điều này có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa

mà trớc hết là tác động tới xuất nhập khẩu, trong hai trờng hợp: nâng giá
hoặc giảm đồng nội tệ.
1.2.1.5. Chính sách cán cân thơng mại và cán cân thanh toán
Cán cân th ơng mại:
Cán cân kim ngạch xuất nhập khẩu vừa phản ánh độ mở của nền
kinh tế sự tiến triển của quốc tế công nghiệp hoá, vừa phản ánh thể trạng
sức khoẻ của nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn thuần
17
là xuất siêu hay nhập siêu mà là những mục tiêu phát triển dài hạn. Ví dụ
nh Hàn Quốc , Đài Loan những năm 60, Trung Quốc thập kỷ 80 - khi mà
các nớc này mới bắt đầu tiến hành công nghiệp hoá đều ở trong tình trạng
nhập siêu nhng chỉ ít năm sau trên cơ sở nhập siêu trong trạng thái nóng
của nền kinh tế nên các nớc này đã cân bằng đợc xuất nhập và chuyển sang
xuất siêu (Hàn quốc, Đài Loan đầu thập kỷ 70 Trung quốc đầu thập kỷ 90).
Rõ ràng chấp nhận nhập siêu trong tơng lai là phơng hớng chiến lợc và là
vấn đề phơng pháp luận của việc sử lý cán cân thơng mại của nớc ta hiện
nay. Cố nhiên để thực hiện đợc phơng hớng đó thì phải có điều kiện và
những biện pháp đồng bộ.
Cán cân thanh toán quốc tế:
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm cán cân thanh toán vãng lai (trao
đổi hàng hoá về dịch vụ) và cán cân vốn (trao đổi vốn) tức là một tài khoản
tổng hợp tất cả đồng ngoại tệ vào ra của đất nớc trong một thời kỳ nhất
định thờng là quý hoặc năm. Khi dòng ngoại tệ ra lớn hơn dòng vào gọi là
thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế. Trong trờng hợp ngợc lại gọi đó là
thặng d cán cân thanh toán. Cán cân vãng lai là tổng hợp các giao dịch về
hàng hoá và dịch vụ đợc thực hiện giữa nớc ta với nớc ngoài, bao gồm tất
cả các hoạt động xuất nhập khẩu chênh lệch xuất nhập khẩu chỉ là một
thành phần của cán cân vãng lai nhng là phần quan trọng nhất. Hiện nay tất
cả các nớc , các tổ chức quốc tế đều chú trọng biến động của cán cân thanh
toán vãng lai.

mức giá hàng xuất khẩu trên thị trờng khu vực giảm mạnh (chẳng hạn giá
dầu mỏ, giá hàng may mặc gia công), bạn hàng không có khả năng thanh
toán. Mối đe doạ này còn đợc tăng thêm bởi tình trạng các doanh nghiệp
trong nớc ganh đua nhau để giảm giá hàng xuất khẩu nhằm giữ chân bạn
hàng và đối tác làm giảm lợi ích quốc gia và doanh nghiệp. Hoạt động đầu
t nớc ngoài vào Việt Nam có xu hớng chậm lại và nhiều nhà đầu t nớc
ngoài đã rút lui khỏi thị trờng Việt Nam. Hàng trăm dự án đầu t đã ngừng
hoạt động. Vì vậy, mục tiêu đặt ra là phải tìm biện pháp để hạn chế các tác
động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ và khai thác các tác
động tích cực nhằm thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu và kiểm soát nhập
khẩu hợp lý, tạo điều kiện để bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nớc phát
triển. Các biện pháp sẽ thực hiện trớc mắt là biện pháp về tài chính - tiền tệ
mà chủ yếu là áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp để vừa khuyến
khích xuất khẩu, vừa phản ánh đúng tơng quan về tiềm lực kinh tế giữa
Việt Nam với các nớc, vừa bảo đảm bảo hộ sản xuất có hiệu quả. Sử dụng
có hiệu quả công cụ lãi suất để tăng cờng thu hút vốn vào việc thực hiện
các mục tiêu của chính sách đối ngoại. Điều chỉnh bộ máy quản lý thơng
mại để tránh tình trạng gây ách tắc đối với hoạt động xuất nhập khẩu của
19
các doanh nghiệp. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trờng và xây dựng
hệ thống thông tin về thị trờng xuất khẩu và nhập khẩu trung thực, cập nhật
phục vụ cho các hoạt động thơng mại.
Tích cực chống các hiện tợng buôn lậu biên giới và gian lận thơng
mại, xử lý nghiêm minh các vi phạm. Đây là biện pháp để tăng cờng quản
lý xuất khẩu và nhập khẩu nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo đảm môi tr-
ờng kinh doanh đối ngoại có tính pháp lý cao, có mức độ bảo hộ tốt và hình
thành nền nếp kinh doanh ổn định, có trật tự, tạo lòng tin đối với các bạn
hàng nớc ngoài.
Mục tiêu dài hạn:
Phát triển hoạt động thơng mại quốc tế nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế,

Tăng cờng hiệu lực thực hiện của các văn bản pháp luật về thơng mại
(tăng cờng pháp chế thơng mại). Xử lý nghiêm minh các trờng hợp vi
phạm các quy định pháp luật về quản lý thơng mại cả cơ quan quản lý nhà
nớc lẫn các doanh nghiệp xuất khẩu.
Cải thiện điều kiện thơng mại, gia tăng tỷ lệ các hàng xuất khẩu chế
biến sâu nâng tỷ lệ này lên 50% vào năm 2000.
Bảo đảm cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu để cải thiện cán cân th-
ơng mại. Loại bỏ tình trạng nhập khẩu các loại hàng hoá mà trong nớc có
thể sản xuất hoặc sản xuất với chất lợng cao hơn. Tích cực thúc đẩy xuất
khẩu theo phơng châm đa dạng hoá và đa phơng hoá thị trờng.
21
1.2.2.2. Đổi mới các chính sách phù hợp với tiến trình hội nhập ASEAN
Nội dung các chính sách thơng mại đợc đổi mới phải phù hợp với yêu
cầu của tiến trình hội nhập sự đổi mới ấy phải đáp ứng đợc các nguyên tắc
sau:
Một là, nguyên tắc t ơng hỗ:
Nguyên tắc này là các nớc có quan hệ ngoại thơng dành chonhau
những u đãi và nhân nhợng tơng xứng nhau trong quan hệ buôn bán dựa
trên cơ sở tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Thông thờng, bên yếu hơn
sẽ chịu sự lép về và thờng bị buộc phải chấp nhận những điều kiện do bên
có thực lực kinh tế mạnh hơn đa ra. Song, ngày nay trong điều kiện quốc tế
hoá nền kinh tế thị trờng nên nguyên tắc này đợc ít áp dụng hơn.
Hai là, nguyên tắc tối huệ quốc:
Đây là một phần trong chính sách không phân biệt đối xử, nghĩa là
các nớc tham gia trong quan hệ buôn bán ngoại thơng sẽ dành cho nhau
những điều kiện u đãi theo nguyên tắc là: Tất cả những u đãi và miễn giảm
mà một bên nớc thứ ba nào, thì cũng đợc dành cho bên tham gia kia đợc h-
ởng một cách vô điều kiện.
Hay nói cách khác cụ thể hơn là : Tất cả các hàng hoá di chuyển từ
một bên tham gia trong quan hệ buôn bán ngoại thơng đa vào lãnh thổ của

định thơng mại kinh tế có quy định các nguyên tắc ngang bằng dân tộc.
1.2.2.3. Đổi mới công tác xây dựng và thực thi chính sách thơng
mại quốc tế
Tăng c ờng sự phối kết hợp giữa các bộ, ngành trong việc hoạch định
chính sách, cơ chế và xây dựng các văn bản pháp luật về ngoại th ơng.
Một trong những vấn đề khá nổi cộm hiện nay là thiếu sự phối hợp
chặt chẽ giữa các Bộ, ngành hữu quan trong việc ra các văn bản về chính
sách, cơ chế và pháp lý có liên quan đến ngoại thơng. Sự đơn phơng và
riêng rẽ của một số Bộ ngành trong việc ra các văn bản pháp lý cũng nh
quyết định điều hành vĩ mô sản xuất - kinh doanh của các ngành có liên
quan đến định hớng chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu kết họp
với thay thế nhập khẩu đã một mặt chỉ tính đến lợi ích của nền kinh tế. Mặt
khác, làm giảm hiệu lực điều hành vĩ mô nền kinh tế của nhà nớc, giảm
hiệu quả của chính sách các văn bản pháp lý đó. Vì thế, tăng cờng sự phối
hợp giữa các Bộ, ngành và các cơ quan chức năng quản lý nhà nớc trong
việc ra các văn bản pháp lý, chính sách và các quyết định quản lý và điều
hành vĩ mô các hoạt động ngoại thơngđợc coi là một điều kiện, biện pháp
vĩ mô để tiếp tục hoàn chỉnh các công cụ chính sách ngoại thơng.
Trong thời gian tới, cần tăng cờng sự phối hợp kết hợp giữa các Bộ,
ngành trong việc ra các văn bản về các công cụ chính sách ngoại thơng.
Trách nhiệm của Bộ th ơng mại và các ngành liên quan
23
Nghị định 57/CP ngày 31-7-1998 của Chính phủ về quản lý nhà nớc
đối với hoạt động xuất nhập khẩu đã quy định: Bộ thơng mại là cơ quan
thực hiện chức năng quản lý nhà nớc thống nhất đối với hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu.
Trong thời gian tới, nhằm cải cách một bớc nền hành chính nhà nớc,
trớc hết là cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu,
Bộ thơng mại cần thực hiện những việc sau:
- Tiếp tục rà soát các quy định hiện hành trong chính sách và cơ chế

1.3.1. Chính sách thơng mại quốc tế của Hàn Quốc và Singapo.
So với các quốc gia đang phát triển thì Hàn Quốc là một trong bốn n-
ớc NIC
S
có xuất phát điểm thấp , tài nguyên nghèo nàn, thị trờng nội địa
không lớn. Điều gì đã tạo ra sự thần kỳ trong phát triển kinh tế của NIC
S

mặc dù chiến lợc phát triển kinh tế tổng quát về cơ bản là nh nhau nhng n-
ớc này đã tìm đợc, hay nói đúng hơn là sáng tạo những chính sách thơng
mại phù hợp với điều kiện lịch sử của mình. Chính vì vậy họ đã khai thác tối
u lợi thế so sánh, chọn đợc nhiều giải pháp đúng đắn.
Vào những năm 50 và 60 Singapo và Hàn Quốc là một trong bốn nớc
NIC
S
Châu á sớm áp dụng chiến lợc thơng mại theo hớng khai thác tối u
lợi thế so sánh để tăng trởng kinh tế. Chiến lợc này chỉ chú ý đến một số
ngành cụ thể , các lãnh vực cụ thể có lợi thế so sánh, có khả năng đột phá
tạo ra sự tăng trởng kinh tế với tốc độ nhanh.
Vào thời kỳ đầu công nghiệp hoá Singapo và Hàn Quốc đã lựa chọn
chiến lợc cơ cấu khác với các nớc đang phát triển. Dành phần lớn thời gian
và sự u tiên cho phát triển thơng mại dịch vụ đi đôi với phát triển công
nghiệp. Trong thơng mại - dịch vụ, các hình thức hỗn hợp sở hữu. Các
thành phần kinh tế này đan xen nhau, cùng tồn tại và phát triển nhng lại có
tính chất phân chia hơn là cạnh tranh.
Kinh tế quốc doanh đều hiện diện và có vị trí rất quan trọng trong nền
kinh tế của Singapo Hàn quốc; với hai vai trò : một là, cung cấp cơ sở hạ
tầng, giao thông, thông tin và các dịch vụ công cộng khác và hai là, đảm
nhận vai trò mở đờng bằng việc thành lập các doanh nghiệp thuộc các
ngành mũi nhọn mà vì nhiều lý do t nhân cha sẵn sàng đầu t.

xuất khẩu.
Khởi đầu quá trình công nghiệp hoá bằng bớc thay thế nhập khẩu. Tuy
nhiên chiến lợc thay thế nhập khẩu không quá kéo dài, Hàn Quốc chấm dứt
vào cuối kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1962-1966) . Nguyên nhân chủ yếu
là sức mua thị trờng nội địa quá thấp vì thu nhập của dân c còn hạn chế;
một số nhà sản xuất ít quan tâm đến cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất
lao động, hạ giá thành sản phẩm. Mặt khác, khi áp dụng công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu thì cán cân ngoại thơng không đợc cải thiện, mức thâm
hụt vẫn tăng lên vì để thay thế nhập khẩu hàng tiêu dùng, vẫn phải nhập
khối lợng lớn vật t, nguyên liệu, thiết bị, máy móc.
26
Singapo và Hàn quốc đã nhanh chóng chuyển sang bớc đẩy mạnh xuất
khẩu hàng công nghiệp nhẹ đồng thời xây dựng các ngành công nghiệp
nặng để có sản phẩm trung gian, thiết bị máy móc thay thế nhập khẩu. Việc
phát triển công nghiệp nặng lúc đầu cũng chú ý thị trờng trong nớc trớc khi
xuất khẩu. Việc đẩy mạnh xuất khẩu trong những ngày đầu của Hàn quốc
và Singapo cũng khác các nớc đang phát triển ở chỗ phần lớn các nớc đang
phát triển xuất khẩu nông sản và khoáng sản còn bốn nớc này lại bắt đầu
bằng những sản phẩm công nghiệp tiêu dùng sử dụng nhiều lao động, đồng
thời cũng là những ngành họ có lợi thế so sánh trong phân công lao động
quốc tế.
Singapo Hàn quốc đã khai thác nguồn tiềm năng lao động. Họ nghiên
cứu kỹ những chỗ trống trong nhu cầu thị trờng quốc tế và quyết định sử
dụng lao động để sản xuất các sản phẩm nhỏ, cần ít vốn đầu t nhng khả
năng tiêu thụ trên thị trờng rất lớn. Nhờ bớc đi này, Hàn quốc và Singapo
không những phát triển những ngành công nghiệp hớng ngoại mà còn giải
quyết đợc tình trạng thất nghiệp. Bài học quan trọng rút ra từ kinh nghiệm
của Hàn Quốc và Singapo là phải tìm ra cho đợc các mặt hàng có lợi thế so
sánh và có khối lợng tiêu thụ lớn mà các nớc cha sản xuất hoặc sản xuất
còn ít. Việc nghiên cứu thị trờng quốc tế phải đi trớc một bớc và có ý nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status