Đổi mới chính sách thương mại quốc tế của VN trong quá trình hội nhập ASEAN - Pdf 11

Đổi mới chính sách thơng mại quốc tế của Việt Nam
trong quá trình hội nhập ASEAN
Ch ơng I
Cơ sở lý luận của đổi mới chính sách thơng mại
quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập khu
vực và quốc tế.
1.1. Tính tất yếu của đổi mới chính sách thơng mại
quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập.
1.1.1. Học thuyết của Adam Smith và các trờng phái Cổ điển mới
về tự do hoá thơng mại
1.1.1.1. Học thuyết của Adam Smith về tự do hoá thơng mại
Từ thế kỷ XVI - XVII trờng phái trọng thơng ở Tây Âu mà đại biểu là:
Thoms Mum đã đề cao vai trò của ngoại thơng đối với sự giàu có kinh tế của
một quốc gia. Các nhà kinh tế của trờng phái trọng thơng cho rằng Nội th-
ơng là một hệ thống ống dẫn, ngoại thơng là cái máy bơm, muốn tăng của
cải phải có ngoại thơng nhập dầu của cải qua nội thơng sự phát triển của
sản xuất t bản chủ nghĩa đã chứng minh việc tuyệt đối hoá vai trò của ngoại
thơng của trờng phái trọng thơng. Chủ nghĩa trọng thơng là t tởng kinh tế
của giai cấp t sản trong giai đoạn phơng thức sản xuất phong kiến tan rã và
chủ nghĩa t bản mới ra đời. Đây là giai đoạn chủ nghĩa t bản đang trong thời
kỳ tích luỹ nguyên thuỷ t bản, sẵn sàng dùng bạo lực để thực hiện việc cớp
bóc để tích luỹ. Ngoại thơng lúc đó là phơng tiện để giai cấp t sản thực hiện
cách cớp bóc ở thuộc địa thông qua việc trao đổi ngang giá. Nói cách khác,
đó là lối buôn bán theo kiểu cớp đoạt, quốc gia này có lợi giầu lên trên cơ sở
quốc gia khác chịu bất lợi, nghèo đói. Chính vì những hạn chế đó chủ nghĩa
trọng thơng đã nhờng bớc cho các học thuyết nghiên cứu về kinh tế t bản chủ
nghĩa một cách toàn diện hơn. Tuy vậy, chủ nghĩa trọng thơng đã có những
3
cống hiến nhất định về mặt lý luận khi chỉ ra vai trò quan trọng của ngoại th-
ơng đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia.
Cùng với sự phát triển của sản xuất t bản chủ nghĩa từ thế kỷ XVIII trở

này cũng cho rằng việc tổ chức nền kinh tế cần tuân theo nguyên tắc tự do,
hoạt động của nó là do các quy luật khách quan chi phối. Mỗi ngời hoạt
động chỉ nhằm lợi nhuận sinh ngạch, song do bàn tay vô hình của thị trờng
chi phối hoặc ngời ta phải phục tùng tỷ suất lợi nhuận bình quân , điều này
nằm ngoài ý định của nhà nớc quả là trong quá trình tồn tại của mình chủ
nghĩa t bản đã đa lại nền sản xuất với năng suất cao với hệ thống máy móc
hiện đại và làm ra của cải xã hội lớn hơn nhiều, so với chế độ phong kiến nh
Mác-Ăngghen đã phân tích. Nhng đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 những
mâu thuẫn vốn có và những khó khăn kinh tế, thất nghiệp và cuộc khủng
hoảng kinh tế vào những năm 1825 và 1930 đã làm nảy sinh nhiều hiện tợng
kinh tế xã hội mới đòi hỏi phải có sự phân tích kinh tế mới. Trớc bối cảnh
đó, các học thuyết kinh tế của trờng phái t bản cổ điểnđã tỏ ra bất lực
trong việc bảo vệ CNTB. Đòi hỏi phải có những học thuyết kinh tế mới thay
thế và nhiều trờng phái kinh tế chính trị tiền hiện đại xuất hiện. Trong đó tr-
ờng phái cổ điển mới đóng vai trò quan trọng, trờng phái này giữ vai trò
thống trị vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Cũng giống nh trờng
phái cổ điển cũ, các nhà kinh tế học trờng phái cổ điển mới ủng hộ tự
do thơng mại, chống sự can thiệp của nhà nớc vào kinh tế . Họ tin tởng chắc
chắn vào cơ chế thị trờng tự phát sẽ đảm bảo thăng bằng cung cầu, đảm bảo
cho nền kinh tế phát triển. Trờng phái cổ điển mới dựa vào yếu tố tâm lý
chủ quan, để giải thích các hiện tợng và quá trình kinh tế, ủng hộ lý thuyết
giá trị chủ quan theo lý luận này, cùng một hàng hoá với ngời cần nhiều thì
giá trị của hàng hoá sẽ lớn hơn và ngợc lại. Họ chuyển sự chú ý phân tích
sang lĩnh vực trao đổi, lu thông và nhu cầu, tích cực áp dụng toán học vào
phân tích kinh tế. Các nhà kinh tế trờng phái cổ điển mới sử dụng các công
cụ toán học nh công thức đồ thị, mô hình vào phân tích kinh tế để đ a ra các
khái niệm mới nh lợi ích giới hạn năng xuất giới hạn và sản phẩm giới
hạn vì vậy trờng phái này còn mang tên là trờng phái giới hạn thành viên
của (áo) trờng phái giới hạn Mỹ, trờng phái Lausanni (Thuỵ sĩ) trờng phái
Cambrridge (Anh)

của sự phát triển. Đầu t để có những ngời lao động đợc đào tạo chính quy, có
kỹ năng, có đầu óc tìm tòi sáng tạo, là đầu t quan trọng nhất.
6
Trong nền kinh tế hiện đại, các ngành dịch vụ có hàm lợng tri thức
cao nh tài chính, phát thanh truyền hình, chăm sóc y tế, đào tạo nhân lực,
luật pháp, xử lý số liệu .sẽ rất phát triển . Đồng thời việc thay đổi các yếu
tố, các điều kiện sản xuất, việc cấu trúc lại nền kinh tế các quốc gia, tác
động sâu sắc đến chiều hớng phát triển và cơ cấu thơng mại thế giới theo h-
ớng:
Các loại hình dịch vụ (XK vô hình) và quyền sở hữu trí tuệ không
ngừng gia tăng về tỷ trọng trong tổng doanh số thơng mại quốc tế.
Các sản phẩm (XK hữu hình) có hàm lợng công nghệ cao, có giá trị
gia tăng lớn sẽ không ngừng tăng về giá trị và tỷ trọng trong tổng số kim
ngạch buôn bán thế giới.
Ngày nay xu hớng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
đang bớc sang 1 giai đoạn mới triệt để hơn. Với các phơng tiện thông tin
hiện đại các dịch vụ phát thanh truyền hình , đặc biệt là dịch vụ Internet đã
làm cho thế giới hình nh nhỏ bé lại trong bối cảnh đó bất cứ công ty nào
cũng có thể trở thành đa quốc gia với ý nghĩa mọi sản phẩm đều có thể sản
xuất và đợc bán ở mọi nơi , mọi lúc. Đối với Việt Nam, sự trao đổi và phân
công lao động quốc tế đang còn ở giai đoạn sơ khai, những định hớng chiến
lợc và chính sách phát triển thơng mại, vừa phải tính đén xu hớng toàn cầu
hoá, vừa phải tính đến xu hớng khu vực hoá kinh tế nhất là sau khi Việt Nam
đã trở thành, thành viên chính thức của ASEAN.
Một đặc điểm quan trọng khác của nền kinh tế thơng mại thế giới hiện
nay là tính cạnh tranh khốc liệt. Các tập đoàn kinh tế lớn coi thị trờng thế
giới là sân chơi riêng của mình với luật chơi tự do thơng mại nhằm đạt
mục tiêu duy nhất là tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lợi nhuận. Chính
họ có lợi thế nhất trong việc thu nhập, xử lý thông tin, tạo ra và áp dụng trớc
nhất các công nghệ mới, vì vậy họ chiếm địa vị chi phối. Những tập đoàn

nghệ. Quốc tế hoá là một quá trình trong đó mối quan hệ đợc thể chế hoá
giữa các dân tộc dựa trên những tiêu chuẩn và hệ thống chung đã đợc cộng
đồng quốc tế chấp nhận và thực hiện thông qua việc ký kết các điều ớc, hiệp
định và qua các tập quán quốc tế. Trên một số mặt hoạt động của xã hội loài
ngời quốc tế hoá là bớc đầu để đi đến toàn cầu hoá . Ví dụ chế độ mậu
dịch tự do đã đợc quốc tế hoá bằng việc ký kết hiệp định GATT, chế độ này
8
sẽ đợc toàn cầu hoá trong tơng lai với viẹc tham gia của đại bộ phận các nớc
trên thế giới. Còn toàn cầu hoá kinh tế là việc hình thành một thị trờng thế
giới thống nhất, một hệ thống tài chính, tín dụng toàn cầu; là sự phát triển và
mở rộng phân công lao động quốc tế theo chiều sâu; là sự mở rộng giao lu
kinh tế và khoa học công nghệ giữa các quốc gia trên toàn cầu; là việc giải
quyết các vấn đề kinh tế xã hội có tính toàn cầu nh vấn đề dân số, tài nguyên
thiên nhiên, môi tròng và sinh thái. Trong khi đó khu vực hoá kinh tế chỉ
diễn ra trong một không gian địa lý nhất định dới nhiều hình thuức nh khu
mậu dịch tự do, đồng minh thuế quan, đồng minh kinh tế, đồng minh tiền tệ,
thị trờng chung nhằm mục đích hợp tác, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Xoá bỏ
những cản trở trong việc di chuyển đầu t, lực lợng lao động, hàng hoá, dịch
vụ tiến tới tự do hoá hoàn toàn những di chuyển nói trên giữa các n ớc
thành viên trong khu vực.
Nền kinh tế thế giới đợc thúc đẩy bởi cả hai xu hớng toàn cầu hoá lẫn
khu vực hoá, mậu dịch thế giới và buôn bán khu vực đan xen cùng phát triển.
Sự xuất hiện tổ chức mậu dịch thế giới (WTO) với quyền hạn rộng lớn hơn
GATT và đợc luật pháp quốc tế công nhận (điều mà GATT không có) đã và
đang làm cho các hoạt động thơng mại quốc tế có đợc ngời điều khiển, lãnh
đạo (vì trong cơ cấu của WTO có hệ thống giải quyết tranh chấp nhất quán).
Trong tơng lai khi hội tụ đợc đầy đủ tất cả các nớc, WTO sẽ thực sự trở
thành tổ chức mậu dịch chung cho toàn thế giới. Tuy nhiên WTO xuất hiện
sẽ thúc đẩy xu hớng đa phơng hoá nhng không ngăn cản đợc xu hớng hình
thành các tổ chức khu vực. Trên thế giới cho đến nay đã có tới 12 khu vực

1.1.3.2. Chính sách thơng mại quốc tế còn thiếu tầm chiến lợc cho hội
nhập khu vực và quốc tế.
Chính sách thơng mại khi tham gia khu vực và quốc tế cũng nh những
quy định trong các hiệp định thơng mại khu vực cha có chiến lợc hội nhập và
cha đợc tuyên truyền thông tin đầy đủ và chính xác đến các doanh nghiệp.
Những mâu thuẫn và bất cập trong chính sách thơng mại vẫn còn phổ
biến từ luật pháp đến triển khai của chính phủ.
Tính ổn định của chính sách thơng mại cha cao. Sự thay đổi thờng
xuyên trong chính sách đã gây khó khăn cho các hoạt động thơng mại quốc
tế. Nhiều khi nó còn làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu t và gây cản trở
trong quá trình hội nhập. Bên cạnh đó cũng có những chính sách đã lạc hậu
lại chậm sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hoặc thay thế đã gây khó khăn trong
quá trình hội nhập.
10
Các nớc trong ASEAN đều đã phục hồi nhanh chóng trong cuộc
khủng hoảng kinh tế và đã phục hồi và tăng trởng nhanh chóng nh
Xingapore, Thái Lan
Các doanh nghiệp Việt Nam cha sẵn sàng thực hiện AFTA và hội
nhập: có t tởng cho rằng việc tham gia vào ASEAN; APEC; WTO là công
việc của nhà nớc, ở tầm vĩ mô còn các doanh nghiệp Việt Nam không có
trách nhiệm. Điều này thật là nguy hiểm vì khi thực thi các doanh nghiệp lại
là ngời trực tiếp thực hiện và tác động rất lớn tới sự tồn tại, hiệu quả kinh
doanh. Do không biết hoặc cha sẵn sàng tham gia và hội nhập nên các doanh
nghiệp không chủ động đầu t, thay đổi cách quản lý và chuẩn bị kỹ lỡng nên
bị động thua thiệt. Có thể khẳng định rằng khả năng chống lại tác động tiêu
cực khi thực hiện hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam là rất yếu.
Tổ chức điều hành thực hiện chính sách còn nhiều nhợc điểm tính
đồng bộ và hoàn thiện hệ thống chính sách ở nớc ta còn cha cụ thể và còn
thấp. Điều này một mặt do cơ sở luật pháp cha có hệ thống, mặt khác do hệ
thống hành chính của ta còn cồng kềnh, quan liêu còn nặng, sự phối hợp

(cái bảo thủ của cung cách quan liêu bao cấp trong quản lý còn nặng nề)
điều này thể hiện mức độ sẵn sàng đón nhận tiến trình AFTA cha cao xét về
mặt cơ chế quản lý.
Quan trọng hơn nữa là khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa
Việt Nam và các nớc ASEAN (về thu nhập, bình quân trên đầu ngời, dự trữ
ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu t , trình độ công nghệ ) cho thấy sự cách
biệt quá lớn bất lợi cho Việt Nam là mối lo ngại cho quá trình hoà nhập,
trình độ công nghệ sản xuất nh hiện nay, đặc biệt trong các ngành chủ chốt
nh công nghệ chế biến, chế tạo máy còn ở mức yếu kém thì sẽ không đủ sức
để cạnh tranh chiếm lĩnh thị trờng và có thể sẽ là nơi tiêu thụ hàng hoá của
các nớc ASEAN thậm chí có thể nhiều doanh nghiệp bị phá sản.
Cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và các nớc ASEAN
là tơng đối giống nhau vì vậy có thể gây ra sự cạnh tranh trong khu vực,
trong việc thu hút đầu t, tìm kiếm thị trờng và công nghệ (ở mức độ khác
nhau) và còn phải nói đến sự cạnh tranh của Việt Nam và cả khối với Trung
Quốc trong lĩnh vực thơng mại lẫn thu hút đầu t nớc ngoài.
12
Ngoài ra, khó khăn lớn nhất mà Việt Nam sẽ phải đơng đầu trong quá
trình hội nhập sẽ là nhân tố về con ngời do trình độ kể cả cán bộ quản lý
kinh tế và của các doanh nhân còn cha đáp ứng đợc với nhu cầu đặt ra của
tình hình mới.
Môi trờng vĩ mô của Việt Nam cha đợc ổn định (trong đó có thủ tục
hành chính con ngời, cơ chế hạ tầng cơ sở) vẫn cha sẵn sàng hội nhập.
Một thách thức lớn nữa là cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam luôn
luôn bị nhập siêu trong khi đó có một số nớc trong khu vực mong muốn hội
nhập quốc tế nhanh hơn đó là: Singapo, Thái Lan, Inđônexia
1.2. chính sách thơng mại quốc tế và Nội dung đổi mới chính
sách thơng mại quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội
nhập khu vực ASEAN.
1.2.1. Các chính sách thơng mại quốc tế

mối quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách
thơng mại quốc tế của mỗi quốc gia cùng phải đáp ứng với nhiều mục tiêu cụ
thể khác nhau của từng thời kỳ. Những mục tiêu chung của chính sách thơng
mại quốc tế là nhằm điều chỉnh các hoạt động thơng mại quốc tế theo chiều
hớng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong điều kiện
mở rộng và phát triển các quan hệ hợp tác và phân công lao động quốc tế.
14
* Nội dung của chính sách thơng mại quốc tế.
Chính sách thuế quan và hạn ngạch
Chính sách tài trợ xuất khẩu
Chính sách kỹ thuật thực thi nhập khẩu
Chính sách điều chỉnh về thể chế thơng mại
Chính sách điều chỉnh về khuôn khổ luật pháp
Chính sách điều chỉnh về hệ thống kinh doanh phục vụ
* Chính sách quản lý xuất nhập khẩu là: Nhà nớc quản lý và điều
tiết hoạt động thơng mại quốc tế thông qua công cụ rất quan trọng là chính
sách quản lý. Chính sách quản lý thơng mại quốc tế của nhà nớc là các nghị
định, quyết định, quy định của chính phủ và các cơ quan của chính phủ về
lĩnh vực thơng mại quốc tế đó là các chính sách quản lý xuất nhập khẩu .
* Nội dung của chính sách quản lý xuất nhập khẩu là:
Chính sách quản lý về mặt hàng xuất nhập khẩu
Chính sách quản lý về cơ chế giá cả
Chính sách quản lý về quota và giấy phép xuất nhập khẩu
Chính sách quản lý về tỷ giá hối đoái
Chính sách quản lý về đối tợng kinh doanh xuất nhập khẩu
Chính sách quản lý về thuế xuất nhập khẩu
15
Chính sách quản lý về cán cân thơng mại và cán cân thanh toán quốc tế
Chính sách quản lý về tài trợ và bảo hiểm xuất khẩu.
1.2.1.2. Chính sách thuế xuất nhập khẩu

D1-S1 (nh hình b). Bây giờ, nếu chính phủ giảm thuế nhập khẩu, giá cả hàng
hoá trong nớc sẽ giảm từ Pw(1+t) xuống còn Pw, điều này làm giảm chi phí
sản xuất trong nớc và qua đó khuyến khích xuất khẩu.
Sơ đồ 1.1: Tác động của thuế xuất nhập khẩu đến hoạt động xuất
khẩu
Miễn hoặc giảm thuế xuất khẩu: Khi đánh thuế xuất khẩu, giá cả trong
nớc sẽ thấp hơn giá cả quốc tế. Sản xuất trong nớc sẽ giảm từ S0 xuống S1,
tiêu dùng trong nớc sẽ tăng từ Do lên D1, do vậy xuất khẩu sẽ giảm từ So -
Do xuống còn S1 - D1. Ngợc lại, khi chính phủ miễn hoặc giảm thuế xuất
khẩu, điều ngợc lại sẽ xảy ra khối lợng hàng hoá xuất khẩu sẽ tăng lên. (xem
hình b).
1.2.1.3. Chính sách phi thuế quan
Trong điều kiện của chính sách tự do hoá thơng mại nhà nớc vẫn quản
lý xuất nhập khẩu thông qua hạn ngạch (quota) và giấy phép xuất nhập khẩu.
Trên thế giới quản lý bằng hạn ngạch thờng chỉ đặt ra đối với hàng nhập
khẩu, hạn ngạch nhập khẩu có thể mang tính chất chung nhằm quy định số l-
ợng (hoặc giá trị) nhập khẩu đối với từng nớc nhằm bảo vệ thị trờng nội địa
cải thiện cán cân thanh toán hoặc là điều kiện để mặc cả trong các cuộc th-
ơng lợng buôn bán.
Hạn ngạch xuất khẩu là quy định của nhà nớc về số lợng hoặc giá trị
của một mặt hàng hoặc nhóm mặt hàng đợc phép xuất khẩu.
17
E
P
P
W
(1+t)
P
W
P

Trong thực tế, hạn ngạch có thể đem lại lợi nhuận rất lớn cho ngời xin
đợc, vì vậy dễ dẫn đến tình trạng tiêu cực khi xin hạn ngạch. Để hạn chế
hiện tợng này, ngời ta áp dụng biện pháp bán đấu giá hạn ngạch. Ví dụ nh
vừa qua Bộ thơng mại Việt Nam đã áp dụng thí điểm đối với hàng dệt may.
1.2.1.4. Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái.
Đây là hình thức nhà nớc đòi hỏi tất cả các khoản thu chi ngoại tệ phải
đợc thực hiện qua hệ thống ngân hàng hoặc cơ quan quản lý ngoại hối. Trên
cơ sở đó nhà nớc có thể kiểm soát đợc các nghiệp vụ thanh toán ngoại tệ của
các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu để qua đó điều tiết hoạt động ngoại
thơng.
18
Ví dụ nhà nớc hạn chế việc rút ngoại tệ ở tài khoản để thanh toán hàng
nhập khẩu với các mặt hàng hạn chế nhập khẩu và tạo điều kiện thanh toán
nhanh, đơn giản các mặt hàng khuyến khích xuất khẩu.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (The nominal exchange rate - NER):
Tỷ giá hối đoái có thể định nghĩa theo nhiều cách. Cách định nghĩa đơn
giản nhất, tỷ giá hối đoái danh nghĩa (NER) là giá đồng nội tệ của một đơn
vị ngoại tệ. Cách định nghĩa khác, NER là tỷ lệ trao đổi tiền tệ hay tỷ lệ mà
hai đồng tiền trao đổi với nhau. Một đồng tiền đợc coi là giảm (tăng) giá trị
khi tăng (giảm) đơn vị nội tệ đợc mua bởi một đơn vị ngoại tệ. Tỷ giá hối
đoái danh nghĩa có thể đợc xác định chính thức hoặc không chính thức. Do
vậy, ở trên thị trờng không đợc thừa nhận chính thức hoặc không có một thị
trờng tơng tự. Điều này có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa không nhất
thiết phải là duy nhất. Thông thờng, có thể có hai tỷ giá danh nghĩa hoặc
nhiều hơn cùng đợc xác định.
Tỷ giá hối đoái thực tế (The real exchange rate - RER):
Tỷ giá hối đoái thực tế đợc sử dụng để đo tỷ lệ trao đổi hàng hoá và
dịch vụ giữa nền kinh tế trong nớc và nớc ngoài. Nó đợc xác định bởi sự điều
chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa theo giá trong nớc và nớc ngoài.
RER = Ro(Pw/Pd)

xuất siêu hay nhập siêu mà là những mục tiêu phát triển dài hạn. Ví dụ nh
Hàn Quốc , Đài Loan những năm 60, Trung Quốc thập kỷ 80 - khi mà các n-
ớc này mới bắt đầu tiến hành công nghiệp hoá đều ở trong tình trạng nhập
siêu nhng chỉ ít năm sau trên cơ sở nhập siêu trong trạng thái nóng của nền
kinh tế nên các nớc này đã cân bằng đợc xuất nhập và chuyển sang xuất siêu
(Hàn quốc, Đài Loan đầu thập kỷ 70 Trung quốc đầu thập kỷ 90). Rõ ràng
chấp nhận nhập siêu trong tơng lai là phơng hớng chiến lợc và là vấn đề ph-
ơng pháp luận của việc sử lý cán cân thơng mại của nớc ta hiện nay. Cố
20
nhiên để thực hiện đợc phơng hớng đó thì phải có điều kiện và những biện
pháp đồng bộ.
Cán cân thanh toán quốc tế:
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm cán cân thanh toán vãng lai (trao
đổi hàng hoá về dịch vụ) và cán cân vốn (trao đổi vốn) tức là một tài khoản
tổng hợp tất cả đồng ngoại tệ vào ra của đất nớc trong một thời kỳ nhất định
thờng là quý hoặc năm. Khi dòng ngoại tệ ra lớn hơn dòng vào gọi là thâm
hụt cán cân thanh toán quốc tế. Trong trờng hợp ngợc lại gọi đó là thặng d
cán cân thanh toán. Cán cân vãng lai là tổng hợp các giao dịch về hàng hoá
và dịch vụ đợc thực hiện giữa nớc ta với nớc ngoài, bao gồm tất cả các hoạt
động xuất nhập khẩu chênh lệch xuất nhập khẩu chỉ là một thành phần của
cán cân vãng lai nhng là phần quan trọng nhất. Hiện nay tất cả các nớc , các
tổ chức quốc tế đều chú trọng biến động của cán cân thanh toán vãng lai.
1.2.2. Nội dung đổi mới chính sách thơng mại quốc tế của Việt Nam
1.2.2.1.Đổi mới mục tiêu của chính sách thơng mại quốc tế Việt Nam
Trong thời gian tới, để thúc đẩy hoạt động thơng mại quốc tế trong điều
kiện Việt Nam là thành viên đầy đủ của khu vực mậu dịch ASEAN (AFTA),
là thành viên của diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái bình Dơng (APEC),
chuẩn bị là thành viên của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) đồng thời Việt
Nam đang chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu á
do đó, các mục tiêu của chính sách thơng mại quốc tế của Việt Nam bao

cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ và khai thác các tác động tích cực nhằm
thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu hợp lý, tạo điều
kiện để bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nớc phát triển. Các biện pháp sẽ
thực hiện trớc mắt là biện pháp về tài chính - tiền tệ mà chủ yếu là áp dụng
chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp để vừa khuyến khích xuất khẩu, vừa phản
ánh đúng tơng quan về tiềm lực kinh tế giữa Việt Nam với các nớc, vừa bảo
đảm bảo hộ sản xuất có hiệu quả. Sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất để
tăng cờng thu hút vốn vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách đối
22
ngoại. Điều chỉnh bộ máy quản lý thơng mại để tránh tình trạng gây ách tắc
đối với hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Đẩy mạnh hoạt
động nghiên cứu thị trờng và xây dựng hệ thống thông tin về thị trờng xuất
khẩu và nhập khẩu trung thực, cập nhật phục vụ cho các hoạt động thơng
mại.
Tích cực chống các hiện tợng buôn lậu biên giới và gian lận thơng mại,
xử lý nghiêm minh các vi phạm. Đây là biện pháp để tăng cờng quản lý xuất
khẩu và nhập khẩu nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo đảm môi trờng kinh
doanh đối ngoại có tính pháp lý cao, có mức độ bảo hộ tốt và hình thành nền
nếp kinh doanh ổn định, có trật tự, tạo lòng tin đối với các bạn hàng nớc
ngoài.
Mục tiêu dài hạn:
Phát triển hoạt động thơng mại quốc tế nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế,
gia tăng các ngành sản xuất có hàm lợng khoa học - công nghệ và vốn đầu t
cao, khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển , tăng trởng kinh tế
nhanh, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho ngời lao động.
Thực hiện quá trình tự do hoá thơng mại từ thấp đến cao theo xu hớng
chung của các nớc trong khu vực và trên thế giới. Việc làm này nhằm thực
hiện việc giảm thiểu các hàng rào cản trở các hoạt động xuất và nhập khẩu
hiện nay.
Bảo đảm tính nhất quán và tính ổn định của hệ thống luật pháp, chính

sản xuất hoặc sản xuất với chất lợng cao hơn. Tích cực thúc đẩy xuất khẩu
theo phơng châm đa dạng hoá và đa phơng hoá thị trờng.
24
1.2.2.2. Đổi mới các chính sách phù hợp với tiến trình hội nhập ASEAN
Nội dung các chính sách thơng mại đợc đổi mới phải phù hợp với yêu
cầu của tiến trình hội nhập sự đổi mới ấy phải đáp ứng đợc các nguyên tắc
sau:
Một là, nguyên tắc t ơng hỗ:
Nguyên tắc này là các nớc có quan hệ ngoại thơng dành chonhau những
u đãi và nhân nhợng tơng xứng nhau trong quan hệ buôn bán dựa trên cơ sở
tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Thông thờng, bên yếu hơn sẽ chịu sự
lép về và thờng bị buộc phải chấp nhận những điều kiện do bên có thực lực
kinh tế mạnh hơn đa ra. Song, ngày nay trong điều kiện quốc tế hoá nền kinh
tế thị trờng nên nguyên tắc này đợc ít áp dụng hơn.
Hai là, nguyên tắc tối huệ quốc:
Đây là một phần trong chính sách không phân biệt đối xử, nghĩa là các
nớc tham gia trong quan hệ buôn bán ngoại thơng sẽ dành cho nhau những
điều kiện u đãi theo nguyên tắc là: Tất cả những u đãi và miễn giảm mà một
bên nớc thứ ba nào, thì cũng đợc dành cho bên tham gia kia đợc hởng một
cách vô điều kiện.
Hay nói cách khác cụ thể hơn là : Tất cả các hàng hoá di chuyển từ một
bên tham gia trong quan hệ buôn bán ngoại thơng đa vào lãnh thổ của bên
tham gia kia sẽ không phải chịu mức thuế và các tốn phí cao hơn những thuế
quan và những thủ tục phiền toái hơn thuế quan và thủ tục đang áp dụng đối
với hàng hoá nhập vào từ nớc thứ ba khác. Theo luật pháp thơng mại quốc tế
thì đây là một nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ thơng mại và kinh tế
giữa các nớc trên cơ sở hiệp định, hiệp ớc giữa các nớc một cách bình đẳng
có đi có lại hai bên cùng có lợi. Xét về luật quốc tế thì đó không phải cho
nhau hởng các đặc quyền mà là nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng giữa các
quốc gia có chủ quyền với mục đích thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nớc

hớng chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu kết họp với thay thế nhập
khẩu đã một mặt chỉ tính đến lợi ích của nền kinh tế. Mặt khác, làm giảm
hiệu lực điều hành vĩ mô nền kinh tế của nhà nớc, giảm hiệu quả của chính
26
sách các văn bản pháp lý đó. Vì thế, tăng cờng sự phối hợp giữa các Bộ,
ngành và các cơ quan chức năng quản lý nhà nớc trong việc ra các văn bản
pháp lý, chính sách và các quyết định quản lý và điều hành vĩ mô các hoạt
động ngoại thơng đ ợc coi là một điều kiện, biện pháp vĩ mô để tiếp tục
hoàn chỉnh các công cụ chính sách ngoại thơng.
Trong thời gian tới, cần tăng cờng sự phối hợp kết hợp giữa các Bộ,
ngành trong việc ra các văn bản về các công cụ chính sách ngoại thơng.
Trách nhiệm của Bộ th ơng mại và các ngành liên quan
Nghị định 57/CP ngày 31-7-1998 của Chính phủ về quản lý nhà nớc đối
với hoạt động xuất nhập khẩu đã quy định: Bộ thơng mại là cơ quan thực
hiện chức năng quản lý nhà nớc thống nhất đối với hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu.
Trong thời gian tới, nhằm cải cách một bớc nền hành chính nhà nớc, tr-
ớc hết là cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, Bộ
thơng mại cần thực hiện những việc sau:
- Tiếp tục rà soát các quy định hiện hành trong chính sách và cơ chế
quản lý để trình Chính phủ hoặc Bộ quyết định nhằm loại bỏ những thủ tục
hành chính không phù hợp.
- Bãi bỏ tiếp một số thủ tục hành chính đang còn tồn tại những thấy
không cần thiết, cần tiếp tục nghiên cứu xử lý nh: cấp giấy phép kinh doanh
xuất nhập khẩu, giao chỉ tiêu xuất nhập khẩu các mặt hàng theo kế hoạch
định hớng.
Tiếp tục bãi bỏ cơ chế quản lý bằng kế hoạch định hớng đối với một số
mặt hàng phân bón, xe ô tô dới 12 chỗ ngồi, xe 2 bánh gắn máy chỉ giữ lại
2 mặt hàng là gạo và xăng dầu, coi nh nhà nớc vẫn còn tạm thời độc quyền 2
mặt hàng này và nhà nớc chỉ giao cho một số đơn vị đợc chỉ định làm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status