TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐỀ TÀI: Tác động của chính sách cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô kể từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN (1995) - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: Tác động của chính sách cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô kể từ
khi Việt Nam gia nhập ASEAN (1995)
Tên lớp: TMA301(1-1112).1_LT
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Hoàng Việt
Nhóm 9: Bùi Thị Kim Tuyến MSV: 0957 010 076
Lê Hải Yến 0951 010 821
Đỗ Thị Thùy Vân 0957 010 083
Trần Thị Ngọc Diệp 0957 010 013
Phạm Thùy Linh 0951 010 480
Nguyễn Xuân Mạnh 0952 010 044
Hà Nội, tháng 11/2011
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
15
KẾT LUẬN 22
Tài liệu tham khảo: 23
2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và bối cảnh toàn cầu hóa, một quốc
gia muốn phát triển phải mở rộng cánh cửa, giao lưu với các nền kinh tế trên thế
giới. Hiểu được tình hình đó, Việt Nam đã và đang nỗ lực tham gia và các tổ chức,
hội nhập với nền kinh tế trên thế giới. Kể từ khi thực hiện chính sách Đổi mới vào
năm 1986, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu vẻ vang. Việc gia nhập
vào ASEAN của Việt Nam vào tháng 7/1995 đánh một dấu mốc quan trọng trong
tiến trình Việt Nam hòa nhập với thế giới. Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã thiết lập
rất nhiều các mối quan hệ với bên ngoài và tham gia vào các tổ chức lớn trên thế
giới. Quan trọng phải kể đến là việc gia nhập WTO của Việt Nam vào năm 2007.

khẩu tăng lên 1 phần nhỏ thì giá của hàng hoá tăng lên rất nhiều (do tác động của
cơ chế tính thuế thuế tiêu thụ đặc biệt đánh chồng lên thuế nhập khẩu, thuế VAT
đánh chồng lên thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế trước bạ đánh chồng lên thuế VAT).
4
Khi nhu cầu tiêu dùng hàng hoá ngoại nhập giảm xuống mà nhu cầu tiêu
dùng hàng hoá không giảm đi thì nhu cầu đối với hàng hoá nội địa tăng lên. Điều
này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng sản xuất tạo công ăn
việc làm, tăng thu thêm cho nguồn ngân sách nhà nước tăng cường khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước.
Do đó, có sự phân phối lại thu nhập từ người tiêu dùng nội địa (vì phải mua
hàng với mức giá cao hơn) sang người sản xuất trong nước (vì nhận được mức giá
cao hơn).
Thuế quan nhập khẩu cũng làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ
thuế. Thuế nhập khẩu cũng đóng góp tích cực vào việc góp phần làm giảm tham
hụt cán cân thương mại do giá của hàng hoá nhập ngoại cao lên làm nhu cầu tiêu
dùng hàng ngoại giảm xuống.
II. Các cam kết thuế quan của Việt Nam trong khuôn khổ hội nhập
Việt Nam đã có những cam kết về thuế nhập khẩu đối với ô tô nguyên chiếc sau
đây:
• Cam kết thuế quan trong khuôn khổ WTO;
• Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(CEPT/AFTA);
• Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN –
Trung Quốc (ACFTA);
• Cam kết thuế quan trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn
Quốc (AKFTA).
Ngoài ra Việt Nam cũng đang tiến hành đàm phán ký kết các hiệp định thương
mại tự do với nhiều đối tác khác (New Zealand,…) trong đó có cam kết về thuế
quan đối với ô tô nguyên chiếc và linh kiện ô tô.
5

Thuế suất
MFN tại thời
điểm gia
nhập (%)
Thuế suất cam kết trong WTO
Khi gia
nhập
(%)
Cuối
cùng (%)
Thời hạn thực
hiện (kể từ khi
gia nhập)
1
Thuế suất bình
quân chung
17,4 17,2 13,4
Chủ yếu cắt
giảm trong 3-5
năm
2 Thiết bị vận tải 35,3 46,9 37,4
Chủ yếu cắt
giảm trong 3-5
năm
3
Một số loại xe
cụ thể
a) Ô tô con
• Xe từ
2.500 cc

Đối với CEPT/AFTA, mức cam kết là 5% tại thời điểm 1/1/2006 và cắt giảm
xuống còn 0% vào 2015, đối với ASEAN – Trung Quốc, mức cắt giảm cuối cùng
là 5% vào năm 2018.
III. Chính sách thuế của chính phủ Việt Nam đối với mặt hàng ô tô
1. Tình hình thực hiện chính sách thuế của chính phủ
a. Đối với ô tô nhập khẩu nguyên chiếc.
Cùng với lộ trình gia nhập thì chính phủ Việt Nam phải thực hiện theo cam
kết lộ trình giảm thuế. Tuy nhiên tuỳ theo tình hình của nền kinh tế mà chính phủ
cũng có những điều chỉnh cho phù hợp. Đặc biệt bởi tính chất của mặt hàng ô tô là
mặt hàng được bảo hộ cao, thuế suất áp dụng với mặt hàng này có những sự biến
động theo chiều hướng không ổn định.
Năm 2007 là một năm đáng chú ý của thị trường ôtô nhập khẩu với 3 lần
liên tiếp thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc được điều chỉnh giảm, đưa từ
8
mức 90% xuống còn 60%, mang đến tin vui cho thị trường. Tuy nhiên, hai đợt điều
chỉnh vào tháng 3 và 4/2008 đã tăng thuế ô tô nguyên chiếc nhập khẩu mới lên
70%, rồi lên tiếp đến 83%. Nguyên nhân được đưa ra cho những sự điều chỉnh này
là hạn chế nhập siêu và giảm ùn tắc tại các thành phố lớn.
Năm 2009 chứng kiến không nhiều những biến động về thuế, mức thuế suất
là 83%.
Tuy thế, năm 2010, biểu thuế nhập khẩu có sự thay đổi đối với một vài dòng
xe. Theo biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi do Bộ Tài chính xây dựng để áp dụng từ
1/1/2010, thuế suất thuế nhập khẩu đối với các loại ôtô dưới 9 chỗ ngồi chạy xăng
có dung tích xi-lanh từ 2,5 lít trở lên sẽ giảm 3% xuống còn 80%; đối với các loại
xe 4 bánh 2 cầu chủ động giảm 6% xuống còn 77%. Riêng các loại xe chạy xăng
có dung tích xi-lanh dưới 2,5 lít và xe chạy dầu (diesel) giữ nguyên mức thuế suất
2009 là 83%.
Đầu năm 2011 Bộ tài chính đã ban hành biểu thuế mới. Theo đó, mức thuế
suất mới đối với các dòng xe chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (thuộc nhóm
8703) có dung tích xi-lanh dưới 2.5 lít sẽ giảm nhẹ từ 83% xuống còn 82%. Mức

xe) và dung tích xi-lanh.
Cụ thể, ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi loại có dung tích xi-lanh dưới 1.0 lít
sẽ có mức thuế tuyệt đối là 3.500 USD, loại có dung tích xi-lanh từ 1.0 lít đến dưới
1.5 lít có mức thuế tuyệt đối là 8.000 USD.
10
Đối với mặt hàng ô tô chở người từ 10 - 15 chỗ ngồi loại có dung tích xi-
lanh từ 2.0 lít trở xuống sẽ được áp mức thuế tuyệt đối 9.500 USD. Loại có dung
tích xi-lanh trên 2.0 lít đến 3.0 lít có mức thuế 13.000 USD. Mức thuế tuyệt đối
17.000 USD được áp dụng với xe có dung tích xi-lanh trên 3.0 lít.
Riêng đối với mặt hàng ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi sẽ được áp dụng
phương pháp tính thuế mới.
Trong đó, xe có dung tích xi-lanh từ 1.5 lít đến dưới 2.5 lít được áp dụng
công thức: Mức thuế nhập khẩu = X + 5.000 USD. Xe có dung tích xi-lanh từ 2.5
lít trở lên được áp dụng công thức: Mức thuế nhập khẩu = X + 15.000 USD.
Tại công thức trên, X = giá tính thuế ô tô cũ nhập khẩu x (nhân) với mức
thuế suất thuế nhập khẩu của dòng xe cùng loại chưa qua sử dụng quy định trong
biểu thuế nhập khẩu ưu đãi có hiệu lực tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
b. Đối với linh kiện và phụ tùng ô tô.
Mức thuế suất của mặt hàng linh kiện và phụ tùng ô tô trong biểu thuế ban
hành 10/8/2005 dao động từ 0-40%, so sánh với biểu thuế áp dụng từ 1/1/2011,
mức thuế suất dao động từ 0-26%, ta thấy đã có những điều chỉnh giảm của Chính
phủ cho mặt hàng này.
Đối với các loại linh kiện phụ tùng ô tô nhập khẩu từ các nước ASEAN,
mức thuế mới áp dụng chung cho giai đoạn từ 2008 đến 2013 là 5% và thấp hơn
khoảng 5-10% so với các nước nằm ngoài khối.
Có thể thấy từ tất cả các điều chỉnh trên đây, Chính phủ đã thực hiện bám sát
cam kết về lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT/AFTA. Tuy nhiên, như đã nói ở trên
11
ô tô là một trong những ngành được bảo hộ hàng đầu ở nước ta nên song song với
sự cắt giảm thuế nhập khẩu là những sự gia tăng lệ phí trước bạ.

(tháng 10/2011), mức thuế suất thấp nhất hiện này là 72% áp dụng cho loại xe 2
cầu chủ động. Các loại xe khác có sự điều chỉnh giảm xuống từ 1-6% so với năm
2010. Điều nay thể hiện Việt Nam chưa đáp ứng được đúng lộ trình đã cam kết
năm 2011. Xét theo nguyên nhân khách quan thì với một mặt hàng nhập khẩu có
giá trị lớn như ô tô, việc giảm thuế 13% một năm là tương đối khó khăn. Xét theo
nguyên nhân chủ quan là do khả năng cạnh tranh còn thấp của các doanh nghiệp
trong nước và tâm lí người tiêu dùng. Những nguyên nhân trên buộc Chính phủ
phải đưa ra những quy định về mức thuế sao cho vừa đảm bảo được đáp ứng lộ
trình cam kết CEPT/AFTA, vừa phải bảo hộ ngành công nghiệp sẩn xuất ô tô còn
chưa vững mạnh trong nước.
IV. Tác động tích cực của các biện pháp cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô
Khi gia nhập vào tổ chức thương mại tự do thế giới theo lộ trình đối với nhiều
mặt hàng trong đó có mặt hàng ô tô thì giá cả của hàng hoá giảm xuống cụ thể như
sau :
VD: Giá của một chiếc xe mới tại thị trường Mỹ có giá là 16 000$ khi nhập
chiếc xe đó về thị trường Việt Nam thuế nhhập khẩu tại thời điểm gia nhập là 90%,
13
tại thời điểm cuối khi gia nhập theo lộ trình là 60% (xe trên 2500cc). Thuế tiêu thụ
đặc biệt theo thời điểm hiện tại là 50% và thuế VAT 5%, thuế trước bạ là 6%.
Giá của một chiếc xe đến tay người tiêu dùng là :
Giá của xe = giá nhập khẩu + thuế nhập khẩu + thuế TTĐB + thuế VAT +thuế
trước bạ:
Bảng 5: Tính giá của ô tô (ĐVT USD)
Chỉ tiêu Cách tính
Thời điểm gia
nhập
Thời điểm cuối cùng khi
gia nhập
Giá nhập
khẩu

Thuế
trước bạ
Giá trị của
xe * thuế
suất
(16000+14400+15
200+
2280)* 6%
=2872.8
(16000+9600+12800+192
0* 6% =2419.2
Giá phải
trả của
NTD
Giá + tất
cả các loại
thuế trên
1600 + 14400 +
15200 + 2280 +
2872.8 = 50752.8
16000
+9600+12800+1920+
2419.2 = 42739.2
Như vậy khi kết thúc lộ tình giảm thuế thì giá của cùng một chiếc xe ô tô
giảm đi là = 50 752.8- 42739.2= 8013.7$ (đối với cùng một chiếc xe có giá tại thị
trường nước ngoài là 16000$) như vậy khi giảm thuế thì người tiêu dùng sẽ phải
chi trả ít hơn cho cùng một chiếc xe.
Để thấy được tác động của việc giảm thuế ta có đồ thị sau:
15
Qua đồ thị trên ta thấy khi thuế giảm thì giá giảm từ G xuống H làm cho nhu

không dòng xe nào đạt được số lượng đủ lớn cho việc NĐH để hạ giá thành. Hệ
quả là, trong thời gian ngắn từ nay đến 2018, các dòng xe sản xuất trong nước
không cạnh tranh nổi với xe nhập khẩu nguyên chiếc và Việt Nam không những
không phát triển được công nghiệp ô tô và công nghiệp phụ trợ mà còn gia tăng
thâm hụt thương mại (theo dự tính của Bộ Công Thương, kim ngạch nhập khẩu ô
tô năm 2025 có thể lên tới 12 tỷ USD)”.
Đối với việc nhập khẩu, do chi phí vận chuyển và vị trí địa lý gần nhau của
các đối thủ cạnh tranh sản xuất ô tô, giảm thuế quan sẽ không làm tăng đáng kể
nhập khẩu các sản phẩm ô tô lắp ráp từ châu Âu, bởi lợi ích của việc cắt giảm thuế
quan có thể bị vô hiệu hóa bởi chi phí vận chuyển quá cao. Điều này không đúng
đối với nhập khẩu thiết bị và phụ tùng lắp ráp mà trong một số trường hợp có thể
được nhập khẩu số lượng lớn từ các nhà sản xuất châu Âu. Thực tế, mức độ biến
động giá của các sản phẩm thiết bị và phụ tùng lắp ráp rất cao và giảm thuế quan
về mặt lý thuyết sẽ tác động lên xuất khẩu. Mặt khác, không có một ngành sản xuất
nội địa cạnh tranh và không có các nhà đầu tư châu Âu tại Việt Nam có nhu cầu
lắp ráp thiết bị thì ngay cả giảm thuế cũng sẽ chỉ có tác động hạn chế tới nhập khẩu
Do việc không cạnh tranh được về giá dẫn đến mất thị phần các doanh
nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước nên nhiều doanh nghiệp có xu hướng
chuyển sang nhập khẩu ô tô nguyên chiếc trong đó đứng đầu là Toyota Việt Nam
đã có tối hậu thư gửi lên các chính phủ và thủ tướng yêu cầu có những ưu tiên đối
với ngành công nghiệp ô tô trong nước .
17
VI. Các biện pháp tăng cường tác động tích cực của chính sách thuế
1. Biện pháp của chính phủ
Thứ nhất, là phải tạo thị trường để các hãng ô tô mạnh dạn đầu tư. Cần biết,
năm 2006 Trung Quốc đã sản xuất trên 7 triệu chiếc ô tô và năm 2008 có khả năng
làm ra 9 triệu chiếc. Nếu Việt Nam chỉ giới hạn ở con số 220.000 xe trong năm
2020 như mục tiêu đã đề ra thì đó chỉ là sự “tính toán tiểu thương” mà thôi. Nhưng
muốn mở rộng thị trường trong nước thì ngoài việc giảm thuế nhập khẩu đối với ô
tô nguyên chiếc (theo lộ trình cam kết trong khối ASEAN chúng ta buộc sẽ phải

sản lượng, hệ quả là sẽ thúc đẩy việc hình thành các ngành sản xuất linh kiện để
phục vụ chủ trương “nội địa hóa”. Và Nhà nước sẽ thúc đẩy phát triển lĩnh vực này
bằng cách ưu đãi tối đa về thuế cho những nhà sản xuất linh kiện đạt tiêu chuẩn kỹ
thuật tiên tiến của các hãng sản xuất ô tô. Nếu sản phẩm được nhà sản xuất ô tô
tiêu thụ hay những phụ tùng được những nhà sản xuất ô tô chính thức công nhận,
sẽ được miến thuế VAT và thuế thu nhập doanh nghiệp từ 10 năm trở nên chẳng
hạn.
Thứ ba, để có một nền công nghệ cao về ô tô, nên áp dụng tiêu chuẩn cao
hơn về khí thải (Euro 3, Euro4 hoặc cao hơn), đồng thời chỉ cho lưu hành xăng dầu
“sạch” không cần có lộ trình. Làm điều này Việt Nam không mất gì cả, không tốn
kém gì cả, chỉ mất các “xiềng xích” kỹ thuật lạc hậu và ô nhiễm môi trường mà
thôi. Nhưng cái được thì rất lớn. Khi đó, thị trường càng được mở rộng, vì ô tô sản
xuất ở Việt Nam hoàn toàn có thể xuất khẩu ra nước ngoài.
19
2. Các biện pháp của nhà sản xuất trong nước
Trong thời gian tới để theo đuổi mục tiêu nội địa hoá ngành công nghiệp ô tô
chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm đi trước của các nước trong khu vực ví dụ như
cần phải xác định được dòng xe chiến lược, dòng xe chủ lực mà chúng ta có điều
kiện và thế mạnh để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước. Như
Thái Lan xác định được pick-up là dòng xe chiến lược rất đúng đắn. Về dòng xe
chiến lược thì mỗi doanh nghiệp phải tự xác định trước đã, như việc sẽ định hướng
vào phân khúc nào. Ví dụ, họ hướng tới nông thôn, sau này, sẽ có hàng vạn xe
công nông cần thay thế, đường sá chưa phát triển, sản xuất còn mang tính gia đình
thì dòng xe tải nhỏ, đa dụng có thể là chiến lược. Còn với xe du lịch, xe con, họ sẽ
phải tính đến nhằm đối tượng nào, phổ biến hay thu nhập cao. Đó là việc của từng
doanh nghiệp.
Hầu hết các liên doanh ô tô trong nước đều là một chi nhánh của tập đoàn
đa quốc gia trên thế giới. Thay vì nhập khẩu các linh phụ kiện từ các chi nhánh
khác của tập đoàn trên thế giới hay từ các nhà cung cấp phụ kiện nước ngoài thì
các liên doanh của Việt Nam có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của tập

Hữu Khải, Nhà xuất bản thông tin và truyền thông, 2009
2. />vuc-thuong-mai-hang-hoa/nganh-o-to
3. />oto.htm
4. />23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status