TIỂU LUẬN MÔN
LÝ THUYẾT CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH
CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
AN GIANG
GV hướng dẫn: GS, TS. HOÀNG THỊ CHỈNH
Lớp Cao học:
Kinh tế và Quản lý công (An Giang)
Khóa:
2014 - 2016
Nhóm 3:
1. Nguyễn Thị Thanh Loan
2. Nguyễn Thị Mỹ Linh
3. Trần Công Kha
4. Huỳnh Hồng Anh
5. Lê Thanh Tuyền
TP. HCM Tháng 3/2016
1
1
MỤC LỤC
cánh đồng lúa được nông dân trồng cùng một loại giống xác nhận. Nông dân được
doanh nghiệp cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật canh tác. Doanh nghiệp chịu
trách nhiệm vận chuyển sản phẩm đến nhà máy, sấy khô và bao tiêu. Quy trình sản
xuất này đã cho năng suất và lợi nhuận cao hơn so với canh tác trên cánh đồng nhỏ.
Từ mô hình ở An Giang, “cánh đồng mẫu lớn” đã được nhân rộng ra ở hàng chục
tỉnh thành trong cả nước, từ cây lúa, phong trào này đã được nhân rộng sang các cây
trồng khác. Vậy “Cánh đồng mẫu lớn”là gì? Về bản chất, “Cánh đồng mẫu lớn” là
tên gọi của nông dân Nam Bộ, thể hiện rằng đó là một cánh đồng trồng một hay vài
loại giống cây trồng với diện tích lớn, có cùng thời vụ và quy trình sản xuất, gắn sản
xuất với đảm bảo cung ứng về số lượng và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của
thị trường. cánh đồng mẫu lớn thể hiện sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa,
tập trung quy mô lớn. Vì vậy, có thể xem cánh đồng mẫu lớn có những đặc trưng cơ
bản sau đây:
- Là cánh đồng trồng cây hàng năm như lúa, rau, màu. Đặc điểm này giúp
phân biệt với các vườn cây cao su, cà phê hay chè.
- Diện tích trồng cây trồng đó trên cánh đồng phải “lớn”. “Mẫu lớn” là cụm
từ nông dân Nam bộ dùng để chỉ diện tích cánh đồng có thể từ vài ba chục đến hàng
trăm hécta. Không có một quy định cụ thể về diện tích cho một cánh đồng mẫu lớn.
Quy mô diện tích của cánh đồng khác nhau theo đặc điểm kinh tế-tự nhiên và xã hội
của mỗi địa phương, nhưng phải đủ lớn để sử dụng hợp lý và hiệu quả công trình
thủy lợi, máy làm đất, máy xạ, hệ thống sấy phơi và cung cấp hàng hóa cho thị
trường. Có một số người quan niệm rằng, “mẫu lớn” là “làm mẫu” trên quy mô
“lớn”. Cách giải thích này thiên về quan điểm của những người chỉ đạo và nhân
rộng mô hình hơn là từ phía nông dân. Theo quan điểm này, từ “mẫu” ở đây được
hiểu là hình mẫu trên các phương diện tổ chức sản xuất trên quy mô lớn, cùng áp
dụng quy trình sản xuất tiên tiến, cùng thời vụ sinh trưởng và phát triển, gắn sản
xuất với thị trường.
- Cánh đồng có thể có một hay nhiều hộ canh tác. Đặc điểm này nói lên
rằng, cánh đồng có thể do một chủ (do kết quả của tích tụ và tập trung ruộng đất)
nhưng cũng có thể do nhiều hộ canh tác trên cánh đồng đó. Bình quân một hộ có từ
lao động, canh tác trên 0,4-1,2 ha. Số hộ có diện tích dưới 0,5 ha chiếm tới 61,2%.
Nhiều nơi ở đồng bằng sông Hồng và miền Trung chỉ dưới 0,3 ha/hộ, cá biệt có xã
quy mô đất sản xuất dưới 0,1 ha/hộ. Sự phân tán và manh mún như vậy sẽ cản trở
sự phát triển nông nghiệp hiện đại và hiệu quả. Để phát triển được nông nghiệp
4
4
hàng hóa cần thiết phải có sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn. Vì vậy, việc
xây dựng cánh đồng mẫu lớn là tất yếu và là cụ thể hóa của chủ trương xây dựng
vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản
phẩm thông qua hình thức hợp đồng với quy mô sản xuất lớn. Hơn nữa, xây dựng
cánh đồng mẫu lớn thực hiện nội dung cơ bản của xây dựng nông thôn mới là đổi
mới tổchức sản xuất, phát triển kinh tế và góp phần thực hiện nghị quyết 26 của
Trung ương về Phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
2.3 Vai trò của “Cánh đồng mẫu lớn”:
Về lý luận, cánh đồng mẫu lớn tuân theo nguyên lý ”Kinh tế của quy mô”
(Economize of scale) của sản xuất nông nghiệp. “Cánh đồng mẫu lớn” có vai trò
quan trọng cho phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa:
- Gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến và tiêu thụ, gắn sản xuất với thị
trường. Sản xuất trên quy mô thể hiện sự liên kết giữa người chế biến và tiêu thụ
sản phẩm. Việc sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo quy mô lớn để đáp ứng tốt hơn
đòi hỏi của thị trường về nông phẩm.
- Do sản xuất trên quy mô lớn, nên tạo điều kiện ứng dụng được quy trình
sản xuất tiên tiến để tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Chỉ trên cơ sở
quy mô lớn mới phát huy hiệu quả các công trình thủy lợi, cơ giới hóa khâu làm đất,
gieo cấy, áp dụng công nghệ sau thu hoạch và chế biến.
- Tạo điều kiện cho nông dân tiết kiệm được chi phí sản xuất và nâng cao
hiệu quả sản xuất. Do ưu thế kinh tế của quy mô, sản xuất trên quy mô lớn, với sự
ứng dụng của công nghệ tiên tiến, nông dân có cơ hội tiết kiệm được chi phí (giống,
các vùng đồng bằng, nhất là Nam bộ và sẽ là khó khăn với các vùng canh tác trên
đất dốc, vùng đồng bằng địa hình không bằng phảng, không đồng nhất về chất đất.
- Thống nhất về quy trình sản xuất và hình thức liên kết.
- Được đầu tư về cơ sở hạ tầng hệ thống kênh mương, máy móc, sấy, phơi
phục vụ cho sản xuất tập trung - Có sự liên kết giữa nông dân với nông dân. Để
hình thành cánh đồng mẫu lớn, các nông dân cần phải có sự liên kết với nhau hình
thành nên “nhóm liên gia”, “tổ hợp tác”, “nhóm nông dân cùng sở thích” để hợp tác
trong các khâu làm đất, tưới nước, chăm sóc, bảo vệ thực vật và thu hoạch. Sự liên
kết giữa nông dân với nông dân sẽ làm tăng “sức mặc cả” của nông dân khi đàm
phán hợp đồng với doanh nghiệp và đảm bảo cho nông dân làm đúng quy trình sản
xuất, tăng cao chất lượng và giảm chi phí.
6
6
- Có hoạt động hiệu quả của cơ quan quản lý chuyên ngành trong cung cấp
các dịch vụ công (thủy lợi, bảo vệ thực vật và khuyến nông, khuyến thương) để
giúp cho doanh nghiệp và nông dân triển khai thực hiện tốt hợp đồng.
3. Thực trạng triển khai mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” ở An Giang
3.1 Thực trạng hoạt động động mô hình ở An Giang, giai đoạn 2011-2012:
Từ tháng 3 năm 2011 trên địa bàn tỉnh An Giang đã triển khai những mô
hình “ Cánh đồng mẫu lớn” theo tiêu chí của Bộ NN&PTNT và đã đem lại thành
công cho tỉnh về mặt chất lượng và hiệu quả sản xuất của nông dân và doanh
nghiệp. Cánh đồng mẫu lớn đã thể hiện ở kết quả của nền sản xuất nông nghiệp theo
cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Mọi quyết định sản xuất theo kế hoạch của “nhà
nước” dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh và tín hiệu thị trường, điều hành của nền
kinh tế tập trung dưới hai hình thức sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước.
Cánh đồng mẫu lớn thể hiện tư tưởng thay đổi phát triển nông nghiệp
hướng cung cầu của thị trường và sự nhạy bén của các doanh nghiệp và nông dân
18.600
Vụ Hè Thu
3.100
5.650
9.500
16.900
Vụ Thu Đông
3.550
6.350
10.500
19.400
Tổng diện tích CĐML
6.650
22.950
34.000
năm 2012. Đến năm 2013 diện tích cánh đồng mẫu lớn là 34.000 ha với 8 doanh
nghiệp tham gia chiếm 5,3% tổng diện tích gieo trồng . Sang năm 2014 diện tích
cánh đồng mẫu lớn là 50.600 ha tăng 20.600 ha so với năm 2013 với gần 20 doanh
nghiệp tham gia chiếm 7,9% tổng diện tích gieo trồng. Địa bàn triển khai tập trung
vào các xã thuộc huyện Thoại Sơn, huyện Châu Thành, Huyện Châu Phú, huyện
Tịnh Biên.Đây là những nơi có điểu kiện thuận lờ về giao thông đường bộ, giao
thông đường thủy, hệ thống thủy lợi nội đồngđảm bảo phục vụ tưới tiêu. Các hộ
tham gia thường có diện tích lớn và trung bình phổ biến là trên 1 ha ( 10.000m 2)
diện tích sản xuất lúa.
Hiện nay, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh đang làm cầu nối trung gian giữa
doanh nghiệp cung ứng giống vật tư nông nghiệp và doanh nghiệp kinh doanh
lương thực để cùng hổ trợ tham gia chia sẽ trách nhiệm, quyền lợi cho các vùng
nguyên liệu theo mô hình “ Cánh đồng mẫu lớn, Cánh đồng lớn” thông qua hợp
đồng cụ thể giữa doanh nghiệp kinh doanh lương thực và người nông dân thông qua
HTX và THT thành liên kế dọc và hợp đồng cụ thể giữa doanh nghiệp kinh doanh
lương thực và doanh nghiệp cùng cung ứng đầu vào hình thành liên kết ngang.
Hiện thì các công ty chủ lực của tỉnh tham gia mạnh mẽ vào mô hình CĐL
như: Công ty Angimex-Kitoku, Tập đoàn Lộc Trời( tiền thân là Công ty Cổ phần
Dịch vụ Bảo vệ thực vật An Giang), Công ty Afiex, Công ty Khiêm Thanh, Công ty
Angimex, Công ty toàn cầu…. về hình thức liên kết thì các công ty tùy heo tình
hình tài chính mà có các hình thức khác nhau. Nhưng nhìn chung đều có những đặc
điểm sau :
- Công ty tổ chức sản xuất với nông dân qua đại diện nhóm tổ chức Hợp tác
xã và Tổ hợp tác nông dân ngay trước khi nông dân chuẩn bị xuống giống và sự hổ
trợ của cấp chính quyền hình thành liên kế bền vững.
8
8
- Công ty sẽ cung cấp các vật tư đầu vào cho nông dân từ đầu vụ đến khi
ô
ô
hì
hì
n
Đ
nh
h
v
ng
L
t
oà
K
i
C
L (
Đ
K +
M
/)
Tổng 1 18 1
chi
. .2 8. 7
phí
0 27 94 2
0
9 2
0
0
- Giá
6, 6, 0
0
bán
11 33 ,
đ
2
/
2
h
a
1
.
0
3
0 37
Tổng
6.
0 .2
thu
08
đ 71
1
/
h
a
1
.
0
2
0,
10
10
suất
lợi
nhuậ
n
.
0
0
0 05
91
đ %
/
h
a
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu phát triển nông thôn – Đại học An Giang
Từ kết quả nghiên cứu trên ta hấy nông dân tham gia trực tiếp vào mô hình
liên kết CĐML của tập đoàn Lộc Trời cò chi phí sản xuất lúa thấp hơn so với các hộ
không tham gia vào mô hình liên kết là 700 ngàn đồng/ha. Đặc biệt là lợi nhuận
thuần tham của nông dân tham gia vào mô hình bình quân trên ha là 19 triệu đồng
cao hơn gần 2 triệu đồng/ha so với nông dân không tham gia mô hình “Cánh đồng
mẫu lớn”.
Theo đánh giá của trung tâm này thì nông dân và doanh nghiệp khi tham gia
- Hầu hết các doanh nghiệp tham gia liên kết với nông dân ở các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long là các doanh nghiệp cung cấp đầu vào. Có rất ít doanh nghiệp
tha gia liên kết tiêu thụ sản phẩm. (Nguyễn Trí Ngọc, 2012). Đây là một nguyên
nhân cơ bản làm cho “Cánh đồng mẫu lớn” không được phát triển mạnh, và liên kết
bền vững.
- Một số doanh nghiệp khi tham gia liên kết chưa công bố rõ ràng về tiêu
chí về nông phẩm cần mua và chưa phổ biến một cách kỹ càng các cam kết của hai
bên tới nông dân.
- Doanh nghiệp phá vỡ hợp đồng. Sự phá vỡ hợp đồng thể hiện qua tình
trạng không thu mua hoặc không mua đúng hạn nông sản.
-Việc không thực hiện đúng hợp đồng bao tiêu sản phẩm chủ yếu là do
năng lực của doanh nghiệp xuất khẩu thấp. Rất nhiều doanh nghiệp không đủ năng
lực trong khâu vận chuyển phơi sấy khô trú đã ký hợp đồng với nông dân. Điều này
dẫn đến tình trạng nông dân thu hoạch đồng loạt dẫn đến tồn ứ doanh nghiệp không
mua hết lúa của nông dân.
- Một số nơi việc triển khai khi xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn” chưa lồng
ghép với nội dung xây dựng nông thôn mới phát triển nông nghiệp theo hướng
VietGAP.
12
12
- Một số nơi nông dân thiếu vốn mua máy để thực hiện cơ giới hóa ( máy sạ
hàng, lò sấy, thùng phá thuốc tập trung, máy gặt đập liên hợp...). Nông dân chưa
định hình rõ tới giống mà thị trường cần và nguồn giống tốt .
- Sự liên kết của doanh nghiệp và nông dân đã được hình thành tuy nhiên
còn mang tính hình thức không thiết thực. Nguyên nhân là do: Quan hệ nông dân doanh nghiệp mới xác lập, doanh nghiệp chưa đủ thời gian tiếp cận nông dân;
doanh nghiệp chưa uyển chuyển trong việc điều chỉnh giá ở mức thỏa mãn tâm lý
nông dân; việc tổ chức thu mua còn nhiều sơ sót, làm phiền hà nông dân.
cận được nguồn vốn tín dụng để xây dựng đủ kho trữ hàng, nguồn giống cung ứng
vật tư phân bón vận chuyển phơi sấy đủ điều kiện thực hiện hợp đồng theo
109/2010/NĐ-CP . Mặt khác doanh nghiệp cần công bố tiêu chí thu mua nông sản
rõ ràng phổ biến tới người dân trước khi ký kết hợp đồng để hình thành một liên kết
bền vững làm ăn lâu dài dựa trên chữ "Tín".
- Cần triển khai lòng ghép việc xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn” với chương
trình xây dựng nông thôn mới đang triển khai các huyện, xã phát triển theo hướng
VietGAP để đảm bảo đủ các têu chí xuất khẩu hàng hóa của thế giới.
- Triển khai thực hiện tốt Nghị định NĐ 41 của Chính phủ cho vay vốn cho
nông dân đủ vốn thực hiện mua máy móc trang bị có giờ hóa sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó nghị định cần phải tăng mức vay tín chấp từ 50 triệu lên 100 triệu
đồng/ hồ đề nông dân có vốn mua máy móc tốt hơn áp dụng vào sản xuất.
- Cần làm tốt việc cung cấp dịch vụ công như thủy lợi hệ thống đường xá,
bảo vệ thực vật và khuyến nông.Cần có hỗ trợ cho nông dân ở giai đoạn đầu trong
tiếp cận tới được giống tốt nhất.Đổi mới công tác khuyến nông với nhơn nông dân
ttrong việc chỉ đạo thực hiện từng mẫu cho phù hợp với từng loại giống cây trồng.
KẾT LUẬN
Mô hình cánh đồng mẫu lớn với bước khởi đầu còn nhiều khó khăn nhưng
với sự đồng thuận cao nhất của nhiều cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân và nông dân
nên bước đầu đã cho thấy xu thế tất yếu của sự liên kết sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, là giải pháp thiết thực nhất cho sản xuất trồng trọt nói chung và cho sản xuất
lúa nói riêng hiện nay và tương lai.
Mục tiêu xây dựng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” đối với sản xuất lúa gạo
nhằm thực hiện tốt việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến một cách đồng bộ,
hiệu quả trên một diện tích lớn, rút ngắn khoảng chênh lệch về năng suất giữa các
hộ nông dân, các thửa ruộng, các vùng sản xuất, nâng cao năng suất bình quân trong
14
14