các lý thuyết thương mại quốc tế - Pdf 12

Bài thuyết trình “ Các lý thuyết thương mại quốc tê”
Lớp H33
PHẦN I: CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG
I. Hoàn cảnh ra đời của trường phái trọng thương.
Trường phái trọng thương là hệ thống tư tưởng kinh tế đầu tiên của
giai cấp tư sản, ra đời trong thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong
kiến, phát sinh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,chuyển từ kinh tế
hàng hóa giản đơn sang kinh tế thị trường. Nó ra đời vào khoảng những năm
1450, phát triển tới những năm 1650 và sau đó bị suy đồi. Về mặt lịch sử,
đây là thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản.
Trong thời kỳ đầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, vì sản
xuất chưa phát triển, để có tiền tích lũy phải thông qua hoạt động thương
mại, mua bán, trao đổi. Đặc biệt, với sự khám phá ra châu Mỹ, một làn sóng
du thương phát triển mạnh mẽ để chuyển vàng từ châu Mỹ về châu Âu. Điều
này chứng tỏ vai trò của tư bản thương nghiệp. Nó đòi hỏi phải có lí thuyết
kinh tế chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động thương nghiệp. Học thuyết kinh tế
trọng thương xuất hiện.
II. Bản chất của chủ nghĩa trọng thương.
Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương phát triển, vàng và bạc được sử
dụng như những phương tiện chủ yếu trong trao đổi thương mại và chính nó
đã tạo nên kho của cải của các quốc gia. Một quốc gia càng tích luỹ được
nhiều vàng bạc thì càng trở nên giàu có và hùng mạnh hơn. Do vậy, mục tiêu
chủ yếu trong các chính sách kinh tế của mỗi nước là phải gia tăng được
khối lượng tiền tệ, cụ thể là vàng, bạc. Học thuyết này cho rằng hàng hoá
không phải là của cải mà nó chỉ là phương tiện để làm tăng thêm khối lượng
tiền tệ. Các học giả trọng thương đã đứng trên quan điểm coi tiền (vàng) là
1
đại biểu duy nhất của của cải, là tiêu chuẩn để đánh giá mọi hình thức nghề
nghiệp. Những hoạt động nào không dẫn đến tích luỹ tiền tệ là những hoạt
động tiêu cực, không có lợi. Ví dụ như nông nghiệp không làm tăng thêm và
cũng không làm tiêu hao của cải; hoạt động công nghiệp cũng không là

thực dân cố tìm cách đạt được thặng dư mậu dịch từ các thuộc địa của họ.
Họ coi đây như là một phương tiện để đem lại của cải cho quốc gia mình.
Họ thực hiện điều này không chỉ bằng cách giữ độc quyền các quan hệ
thương mại thực dân mà còn ngăn cản các nước thuộc địa sản xuất. Do đó,
các nước thuộc địa phải xuất khẩu nguyên liệu thô, kém giá trị hơn và nhập
khẩu những sản phẩm có giá trị cao hơn. Có thể nói, lý thuyết trọng thương
mang lại lợi ích to lớn cho các cường quốc thực dân.
Ảnh hưởng của lý thuyết trọng thương đã bị mờ nhạt đi sau năm 1800.
Các cường quốc thực dân đã giảm bớt hạn chế sự phát triển khả năng công
nghiệp ở các nước thuộc địa của họ, nhưng bằng các thủ đoạn hợp pháp vẫn
buộc chặt quan hệ thương mại của các nước thuộc địa.
III. Hình thức quản lý thương mại
Theo lý thuyết trọng thương, thương mại phải được quản lý theo cách
có lợi cho cán cân thương mại. Đó là:
 Thuế nhập khẩu đối với hàng hóa thành phẩm cao, còn thuế
nhập khẩu đối với nguyên liệu thô thì thấp để thúc đẩy sản xuất và xuất
khẩu.
 Một số mặt hàng công nghiệp xuất khẩu được chính phủ trợ cấp
hoặc được hoàn thuế nhập khẩu linh kiện và nguyên liệu.
3
 Lương và giá được kiểm soát, duy trì ở mức thấp với mục đích
đạt thặng dư thương mại.
 Chính phủ có những biện pháp khuyến khích, thưởng công cho
những người sáng lập ra các ngành công nghiệp mới và có các chính sách
khuyến khích, hỗ trợ cho các ngành công nghiệp chủ chốt.
 Chính phủ xây dựng sức mạnh hàng hải để chiếm lĩnh và kiểm
soát thị trường nước ngoài. Xây dựng đội tàu thương mại hùng mạnh giúp
cho quốc gia dễ dàng mở rộng thị trường nước ngoài và không phải tốn
vàng, bạc thuê tàu nước ngoài để vận chuyển hàng hóa thương mại. Ngoài
ra, đội tàu thương mại giúp nâng cao hình ảnh quốc gia và tăng cường sức

làm cho giá cả hàng hóa nhập khẩu đắt tương đối trên thị trường trong nước,
khiến cho người tiêu dùng chuyển sang tiêu thụ sản phẩm trong nước và do
đó giúp mở rộng sản xuất trong nước; thứ ba, tăng cường sử dụng lao động
và các nguồn lực trong nước: khi các ngành công nghiệp trong nước được
ủng hộ và tạo điều kiện để phát triển lớn mạnh sẽ tạo ra nhiều công ăn việc
làm trong nước, giảm áp lực thất nghiệp v.v…
Có thể nói, chính sách hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu
mang lại nhiều lợi ích về kinh tế. Những chính sách thúc đẩy xuất khẩu làm
tăng tài sản quốc gia thông qua thặng dư trong cán cân thanh toán, trong khi
hạn chế nhập khẩu để một mặt giúp tiết kiệm vàng bạc trả cho các nước
khác, mặt khác giúp mở rộng sản xuất công nghiệp trong nước. Đối với nền
kinh tế nhỏ, việc áp dụng thuế nhập khẩu chỉ có ý nghĩa bảo vệ các ngành
sản xuất trong nước, nhưng với một nền kinh tế lớn, áp dụng thuế nhập khẩu
còn có ý nghĩa cải thiện điều kiện thương mại.
5
- Về mặt hạn chế của lý thuyết trọng thương:
Những quan điểm của chủ nghĩa trọng thương cản trở thương mại tự
do giữa các quốc gia vì các quốc gia đều cố gắng đạt được thặng dư thương
mại. Vì vậy quan hệ thương mại quốc tế dẫn đến tình trạng bảo hộ tràn lan.
Để đạt được thặng dư thương mại, một quốc gia phải tăng tài sản và sức
mạnh của mình trong tương quan với các quốc gia khác. Vì: chủ nghĩa trọng
thương cho rằng, vàng bạc là hình thức của cải duy nhất của quốc gia, đánh
đồng mức cung ứng tiền tệ cao với sự thịnh vượng của quốc gia, nhìn nhận
thương mại quốc tế là một “trò chơi” có tổng lợi ích bằng không (zero-sum
game). Do đó họ cho rằng, thặng dư của nước này là thâm hụt của nước khác
và lợi ích thương mại có tình thay thế, cho nên nhiệm vụ của chính phủ là
phải tính toán lợi ích tương đối của mình so với các quốc gia khác. Các tác
giả trọng thương chưa giải thích được cơ cấu hàng hóa trong thương mại
quốc tế được xác định như thế nào, chưa thấy được tính hiệu quả và lợi ích
từ quá trình chuyên môn hóa và trao đổi.

II. Nội dung học thuyết lợi thế tuyệt đối:
Lợi thế tuyệt đối nói đến khả năng của một đơn vị kinh tế ( một đất
nước, tổ chức hoặc cá nhân…) sản xuất một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ
với chi phí đầu vào ít hơn chi phí mà các tổ chức cá nhân hoặc nước khác
7
sản xuất mặt hàng dịch vụ đó. Có thể nói lợi thế tuyệt đối được biểu hiện ở
khả năng giảm giá và tăng lợi nhuận.
Lợi thế tuyệt đối lấy khái niệm năng suất lao động làm nền tảng.
Lợi thế tuyệt đối dùng để so sánh hiệu quả năng suất lao động của các
quốc gia hoặc đơn vị kinh tế.
Lợi thế tuyệt đối Adam Smith giải thích thương mại quốc tế có lợi
như thế nào đối với các quốc gia. Theo Adam Smith lợi thế tuyệt đối chính
là cơ sở của thương mại quốc tế. Trong quan hệ thương mại giữa 2 nước,
mỗi bên sẽ xuất khẩu những sản phẩm, dịch vụ mà nó có lợi thế tuyệt
đối, đồng thời nhập khẩu những sản phẩm mà nước này không có lợi thế
tuyệt đối so với nước kia, nhờ vậy mà cả hai nước sẽ cùng thu được lợi
nhuận từ trao đổi thương mại.
Chẳng hạn, Mỹ có lợi thế tuyệt đối so với Pháp trong sản xuất pho
mát khi mà Mỹ sử dụng ít lao động hơn so với Pháp để sản xuất cùng một
lượng pho mát. Khi đó mỗi quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà
mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu sang quốc gia kia. Với trường hợp này
mỗi nước được coi là có lợi thế tuyệt đối về sản xuất từng mặt hàng cụ thể.
Khi xuất hiện thương mại quốc tế thì mỗi nước sẽ tập trung toàn bộ số
lao động của mình để sản xuất mặt hàng có lợi thế hơn. Khi đó thị trường thế
giới trở nên thống nhất hơn và hai mặt hàng được đem trao đổi với nhau theo
một mức giá duy nhất.
Như vậy động cơ của thương mại hai nước là do mỗi nước đều muốn
tiêu dùng được hàng hoá với mức giá thấp hơn. Nhờ chuyên môn hoá và trao
đổi, sản lượng của toàn thế giới tăng lên không chỉ đủ để dáp ứng nhu cầu
8

9
Theo lý thuyết của Adam Smith thì một nước nên chuyên môn hoá
vào sản xuất mặt hàng, dịch vụ mà họ có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu
những hàng hoá, dịch vụ mà nước khác có lợi thế tuyệt đối. Như vậy, trong
trường hợp này thì Việt Nam nên tập trung sản xuất và xuất khẩu gạo, còn
Iraq nên tập trung vào sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ. Giả sử là Việt Nam sẽ
chuyển dịch hết lao động từ sản xuất dầu mỏ sang sản xuất gạo và Iraq
chuyển dịch hết lượng lao động trong sản xuất gạo sang sản xuất dầu mỏ.
Khi đó Việt Nam sẽ xuất khẩu gạo Sang Iraq và nhập khẩu dầu mỏ của Iraq,
ngược lại Iraq sẽ xuất khẩu dầu mỏ sang Việt Nam và nhập khẩu gạo của
Việt Nam. Tức là xảy ra quá trình trao đổi thương mại quốc tế.
Như vậy khi hai nước có sự chuyên môn hoá sản xuất vào mặt hàng
mà mình có lợi thế tuyệt đối thì chúng ta sẽ có bảng sau:
Sản xuất gạo Sản xuất dầu mỏ
Việt Nam 3 tấn 0 thùng dầu
Iraq 0 tấn 400 thùng dầu
Tổng sản phẩm
thế giới (hai nước)
3 tấn 400 thùng dầu
Từ bảng trên cho thấy, khi chuyên môn hoá thì tổng sản phẩm thế giới
(2 nước) đã tăng lên rất nhiều, nó không chỉ còn là 2 tấn gạo và 200 thùng
dầu nữa mà đã tăng lên 3 tấn gạo và 400 thùng dầu. Như vậy thì 2 nước
thông qua trao đổi thương mại quốc tế có thể tiêu dùng ngoài đường giới hạn
sản xuất của mỗi nước.
10
IV. Ưu điểm và hạ n c hế của học thuyết lợi thế tuyệt đối.
1. Ưu điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối:
- Khắc phục hạn chế của lý thuyết trọng thương đó là khẳng định cơ
sở tạo ra giá trị là sản xuất chứ không phải là lưu thông.
- Mô hình thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối có thể giúp giải thích

lý thuyết Lợi thế so sánh của D.Ricardo)
A.Smith mới nghiên cứu phân công lao động trong một đơn vị sản
xuất chứ chưa nghiên cứu phân công lao động trong xã hội, chưa chú ý đến
mặt xã hội của phân công lao động mà chú ý đến kỹ thuật, chưa giải thích
đúng nguyên nhân của phân công lao động .
- Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất
và được sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá.
Điều này chưa chính xác vì không phải mọi lao động sản xuất đều tạo
nên giá trị, chỉ có lao động sản xuất hàng hóa mới tạo nên giá trị và giá trị
chỉ được tạo ra trong quá trình trao đổi.
12
PHẦN III: LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH
I. Nguồn gốc của lý thuyết lợi thế so sánh
Thương mại quốc tế ngày càng mở rộng về quy mô đa dạng về hình
thức. Trong hoàn cảnh đó, hàng loạt vấn đề xuất hiện, các lý thuyết về
thương mại quốc tế trước đó thực sự tỏ ra bất lực, và đặt ra đòi hỏi phải có
những lý thuyết mới và ưu việt hơn. Trước đó lý thuyết của Adam Smith về
lợi thế tuyệt đối đã tỏ ra hiệu quả trong giải quyết một số vấn đề thương mại
quốc tế. Ông ủng hộ thương mại tự do,thấy được tính ưu việt của chuyên
môn hóa. Tuy nhiên dùng thuyết lợi thế tuyệt đối của ông thì chỉ giải thích
được một phần các vấn đề trong thương mại quốc tế, khi mậu dịch giữa các
nước phát triển mạnh và trong từng thời điểm cụ thể một quốc gia nào đó có
thể bất lợi so với các quốc gia khác về mọi măt hàng. Như vậy thì dùng lý
thuyết về lợi thế tuyệt đối của A. Smith không thể giải thích được. Đế khắc
phục được những hạn chế trong lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A. Smith,
David Ricado đã đưa ra lý thuyết về lợi thế so sánh. Năm 1817, David
Ricardo đã nghiên cứu và chỉ ra rằng chuyên môn hóa quốc tế sẽ có lợi cho
tất cả các quốc gia và gọi kết quả này là thuyết lợi thế so sánh (hoặc lý
thuyết tương đối- “Theory of comparative advantage”).
II.Giả định của Ricacdo khi đưa ra ví dụ minh họa cho lý

Ví dụ hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, đối với hai mặt hàng là thép
và café:
Bảng 1:
ViệtNam
Hàn
Quốc
Thép 5 6
Cafe 2 12
Trong trường hợp này, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối so với Hàn Quốc
ở cả hai mặt hàng là thép và café: Việt Nam cần 5 đơn vị lao động đã có thể
sản xuất được 1 đơn vị thép trong khi đó Hàn Quốc phải cần 6 đơn vị lao
động để sản xuất ra một đơn vị thép; cũng như vậy, trong khi Việt Nam cần
2 thì Hàn Quốc cần 12 đơn vị lao động để có 1 đơn vị café.
Bảng 2:Xét về giá tương quan ở hai quốc gia
Việt
Nam
Hàn
Quốc
Thép 2,5 cafe 0,5cafe
Cafe 0,4
thép
2 thép
Áp dụng công thức (2), ta có:
15
Vậy Việt Nam có lợi thế so sánh ở mặt hàng cafe và Hàn Quốc có lợi
thế so sánh ở mặt hàng thép.
Rõ ràng là Việt Nam trong trường hợp này có lợi thế tuyệt đối so với
Hàn Quốc ở cả hai mặt hàng, nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam sẽ
tập trung sản xuất cả hai mặt hàng. Theo quy luật lợi thế so sánh thì cả Việt
Nam và Hàn Quốc đều có lợi nếu hai quốc gia tự nguyện thực hiện trao đổi

1cafe = 2 thép, thì khi đó không có trao đổi, vì ở trong nền kinh tế 2 nước
cũng có thể làm được điều này. Và tương tự như vậy, ở tỷ lệ trao đổi: 0,5
thép = 1 café hay 1 thép = 2,5 café thì cũng không có trao đổi.
Ta có thể minh họa bằng đồ thị sau:
17
18
Cần phải nhận thức rằng lợi thế so sánh không phải là cố định, nó có
thể thay đổi theo thời gian: ví dụ như cùng với sự phát triển ngày càng cao
của khoa học kỹ thuật ở các nước phát triển, nếu trước đây, khi cách mạng
công nghiệp mới nổ ra, các ngành công nghiệp chế tạo cơ bản là lợi thế so
sánh của các nước phát triển thì bây giờ những ngành chế tạo cơ bản này lại
là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển.
Bên cạnh D. Ricacdo còn có nhiều học giả khác cũng xây dựng những
mô hình và lý thuyết cơ bản về lý thuyết lợi thế so sánh, như Heckscher-
Ohlin, Haberler,….chủ yếu là do những xuất phát điểm, nghiên cứu lợi thế
trên những góc độ khác nhau, qua những lăng kính khác nhau. Tuy nhiên, về
cơ bản, cho đến nay, hầu hết, chúng ta đã coi D.Ricacdo là “cha đẻ” của học
thuyết này, và trong phạm vi nghiên cứu ở bài này chúng tôi chỉ dừng lại
nghiên cứu lý thuyết này của D.Ricacdo từ góc độ giá tương quan giữa 2
hàng hóa ở hai quốc gia.
Mở rộng lý thuyết cho nhiều hàng hoá và nhiều quốc gia.
1. Lợi thế so sánh mở rộng cho nhiều hàng hoá.
- Trường hợp có nhiều hàng hoá với chi phí không đổi và có hai
quốc gia thì lợi thế so sánh của từng hàng hoá sẽ được sắp xếp theo thứ tự
ưu tiên từ hàng hoá có lợi thế so sánh cao nhất đến hàng hoá có lợi thế so
sánh thấp nhất và mỗi nước sẽ tập trung vào những mặt hàng có lợi thế so
sánh cao nhất và những mặt hàng có lợi thế cao ở mức cân bằng. Ranh giới
mặt hàng nào có lợi thế so sánh cao ở mức cân bằng sẽ do cung cầu trên thị
trường quyết định.
19

thuyết này giả định một nền kinh tế cạnh tranh hoạt động trôi chảy với tiền
lương và giá cả linh hoạt và không có thất nghiệp không tự nguyện. Liệu lý
thuyết này có còn đúng nếu công nhân chế tạo ô tô, những người bị nghỉ
việc khi tỉ phần ô tô Nhật bán trên thị trường Mỹ tăng lên nhanh chóng,
không thể dễ dàng tìm được việc làm mới? Điều gì sẽ xảy ra khi tỉ giá hối
đoái được ấn định quá cao làm giảm cầu về công nhân trong ngành chế tạo
và những công nhân này không thể tìm được công việc tương thích trong các
khu vực khác? Trong những tình huống như thế, thương mại có thể đẩy các
quốc gia vào bên trong đường PPF của nó với thất nghiệp tăng và sản lượng
giảm. Khi nền kinh tế lâm vào suy thoái hoặc không hoạt động hết chức
năng của mình thì chúng ta không thể đoán chắc rằng các nước sẽ thu lợi từ
thương mại hoặc lý thuyết về lợi thế so sánh sẽ đúng trong mọi trường hợp.
Trong thời kỳ đại suy thoái vào những năm 1930, thất nghiệp tràn
lan và sản lượng thực tế giảm, các quốc gia bắt đầu dựng nên hàng rào thuế
quan rất cao ở các cửa khẩu của mình và kim ngạch ngoại thương đã giảm đi
nhanh chóng. Lợi thế so sánh đã lấy được uy tín trong thời kỳ sau chiến
tranh thế giới thứ II, khi sự hoà nhập kinh tế của các nước công nghiệp trên
thế giới đã tạo ra sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc chưa từng thấy. Nhưng
trong mọi cuộc suy thoái, nguồn lao động và vốn chưa được sử dụng hết đã
tích cực vận động hành lang để được bảo hộ thị trường của họ khỏi sự cạnh
tranh của nước ngoài.
21
Tương tự như vậy, hiện nay cả thế giới đang phải đối mặt với cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu mà mức độ nghiêm trọng của nó không khác
gì cuộc Đại Suy Thoái năm 1930. Hầu như tất cả các nước đều cắt giảm sản
lượng, giảm mặt hàng nhập khẩu, hàng triệu công nhân bị thất nghiệp. Nhiều
nước có xu hướng quay về chủ nghĩa bảo hộ, tập trung kich thích trị trường
trong nước. Vậy lợi thế so sánh có đúng trong trường hợp này?
Như vậy, những cuộc suy thoái toàn cầu này đã nhắc nhở chúng ta
rằng, lý thuyết cổ điển về lợi thế so sánh chỉ tuyệt đối có giá trị khi mà tỉ giá

thế so sánh của Việt Nam được đánh giá ở trên 2 phương diện sau đây:
1. Nguồn nhân công dồi dào và giá rẻ
2. Tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguyên vật liệu giá rẻ
Tuy nhiên, đó cũng chỉ là trên một phương diện tương đối mà thôi.
Từ lợi thế đó, về công nghiệp: Việt Nam có lợi thế so sánh ở các
ngành sử dụng nhiều lao động, chủ yếu là lao động giản đơn, hàm lượng
công nghệ thấp, da giầy, dệt may, gia công, lắp ráp chế tạo….
Các ngành sản xuất sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp, thủy hải sản:
lúa gạo, cà phê, chè, chế biến thực phẩm thuỷ hải sản v.v Hay các mặt hàng
mây tre truyền thống, mang đặc sắc riêng của dân tộc
Còn hiện nay, để đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng hiện
nay, tập trung phát triển những măt hàng mà chúng ta có lợi thế so sánh có
thể coi là một trong những lựa chọn giải pháp ưu việt nhất.
Đối với những nước phát triển: ví dụ Hoa Kỳ, lợi thế so sánh của
23
Hoa Kỳ chủ yếu là về mặt công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến.
Mỹ có lợi thế so sánh ở các ngành công nghiệp đòi hỏi ít lao động,
hàm lượng công nghệ cao. Có thể thấy Mỹ nhập khẩu rất nhiều chủng loại
hàng hóa từ các quốc gia trên thế giới nhưng lại rất ít xuất khẩu. Hàng xuất
khẩu của Mỹ thường là các máy móc thiết bị công nghệ hiện đại, vũ khí và
bản quyền các công nghệ này, một số ít nông sản như đậu nành và sản phẩm
từ đậu nành, nho, ngô v.v Tuy nhiên, do đây là những sản phẩm công
nghệ cao nên số lượng không tỷ lệ thuận với giá trị. Ôtô nguyên chiếc và
linh kiện & phụ tùng ôtô là mặt hàng chủ yếu mà Mỹ xuất khẩu sang VN
trong thời gian gần đây.(Cụ thể trong 2 tháng đầu năm 2009, Hoa Kỳ nhập
khẩu vào VN 179 chiếc).
(Số liệu từ tổng cục Hải quan VN. )
.
24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status