LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
20121
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
MÔN HỌC: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ
THỐNG TÀI CHÍNH
GVHD : TS DIỆP GIA LUẬT
NHÓM : 5
LỚP : ĐÊM 3 KHÓA 22
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
20123
ĐIỀU TIẾT VÀ GIÁM SÁT HỆ THỐNG
TÀI CHÍNH
PHẦN 1: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ QUY ĐỊNH ĐIỀU
TIẾT KHU VỰC TÀI CHÍNH
I. THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1. Khái niệm, phân loại
Thị trường tải chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại giấy tờ có giá,
nơi gặp gỡ của các nguồn cung về vốn qua đó hình thành nên giá mua và bán các loại cổ
phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, … hình thành nên giá cả các loại vốn đầu tư bao
gồm: lãi suất đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tuy nhiên
để tạo lập một môi trường sôi động của thị trường tài chính trên là cần sự kết hợp của
nhiểu yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ bản:
Đối tượng của thị trường tài chính: bao gồm những nguồn cung và cầu về
vốn trong xã hội của các chủ thể kinh tế như Nhà Nước, các doanh nghiệp,
các tổ chức xã hội và các tầng lớp dân cư.
Công cụ tham gia trên thị trường tài chính: đây là nguồn sống cho hoạt
động của thị trường bao gồm các loại chứng từ có giá, như: công trái do
Nhà Nước phát hành, chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành, các loại
tương đối cao. Khác với thị trường tiền tệ, thị trường vốn cung cấp tài chính
cho những đầu tư dài hạn, với hình thức tài trợ trực tiếp các chủ thể có nhu
cầu sẽ chủ động phát hành chứng khoán trên thị trường để huy động, các
công cụ của thị trường vốn có thời gian đáo hạn lớn hơn 1 năm nên so với
công cụ trên thị trường tiền tệ chúng có độ rủi ro cao hơn
Nếu căn cứ vào cách thức huy động vốn, thị trường tài chính được chia
thành 2 loại: thị trường các công cụ nợ và thị trường vốn cổ phiếu. Trên thị
trường các công cụ nợ, người cần vốn đứng ở tư thế người đi vay sẽ cam
kết trã lãi, kỳ hạn thanh toán và hoàn trả nợ gốc khi phát hành các công cụ
nợ để huy động vốn. Trong khi đó, trên thị trường vốn cổ phần, người cần
vốn thường là các doanh nghiệp kêu gọi sự liên kết vốn từ các nhà đầu tư
tham gia với tư cách là đồng sở hữu sẽ cùng chia sẽ thu nhập ròng và tài
sản của doanh nghiệp. Mỗi hình thức huy động có những lợi thế và rủi ro
riêng, tùy theo những điều kiện khách quan nhất định mà các chủ thể phát
hành cũng như những nhà đầu tư sẽ chọn loại thị trường thích hợp để tham
gia
Nếu căn cứ vào cơ cấu tổ chức, thị trường tài chính được chia thành 2 loại
cơ bản: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
− Thị trường sơ cấp là nơi mà các chứng từ có giá được phát hành và
bán cho người mua đầu tiên, nói cách khác, đây là thị trường cung
ứng các công cụ tham gia trên thị trường tài chính.
− Thị trường thứ cấp là nơi mua – bán những chứng từ có giá đang lưu
hành, đáp ứng nhu cầu chuyển nhượng vốn đầu tư, từ đó, tạo nên
tính thanh khoản cho các công cụ trên thị trường góp phần tăng sức
thu hút đối với công chúng tham gia thị trường này.
2. Chức năng của thị trường tài chính
a. Chức năng đưa vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư,dòng vốn này có thể trực
tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian tài chính :
Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến
1. Định nghĩa:
Thất bại của thị trường là một thuật ngữ kinh tế học miêu tả tình trạng thị trường
không phân bổ thật hiệu quả các nguồn lực.
Thất bại thị trường tài chính là tình trạng khi đó thị trường tài chính không thực hiện
được chức năng phân bổ nguồn lực của mình một cách hiệu quả.
Biểu hiện của thất bại thị trường tài chính là bất ổn tài chính và khủng hoảng tài
chính.
2. Nguyên nhân thất bại thị trường tài chính
Nguyên nhân thất bại thị trường là do thông tin bất đối xứng dẫn đến lựa chọn nghịch
và rủi ro đạo đức
Một trong những giả thiết để có một thị trường hoàn hảo là kết cấu thông tin cũng
phải hoàn hảo. Giữa các chủ thể kinh tế tham gia giao dịch có thông tin đầy đủ như
nhau về nhau và về đối tượng giao dịch. Trái với kinh tế học cổ điển và tân cổ điển,
kinh tế học Keynes cho rằng thị trường hiếm khi hoàn hảo và kinh tế học Keynes
mới chỉ ra rằng phi đối xứng về thông tin chính là một nhân tố gây ra sự không hoàn
hảo của thị trường. Theo họ, giữa các bên tham gia giao dịch có thể chênh lệch về
mức độ nắm giữ thông tin. Tình trạng chênh lệch về thông tin có thể xảy ra từ trước
khi giao dịch được bắt đầu, hoặc cũng có thể khi giao dịch bắt đầu diễn ra thì mới
xảy ra. Trong trường hợp thứ nhất, thông tin bị che đậy. Còn trong trường hợp thứ
hai, hành động của một phía giao dịch bị che đậy. Hậu quả của sự phi đối xứng thông
tin theo trường hợp thứ nhất dẫn tới cái gọi là lựa chọn trái ý của phía giao dịch có ít
thông tin hơn. Còn hậu quả của sự phi đối xứng thông tin theo trường hợp thứ hai
dẫn tới cái gọi là rủi ro đạo đức ở phía giao dịch nhiều thông tin hơn và chê đậy hành
vi của mình. Những hậu quả này chính là các thất bại thị trường.
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
xa giá trị. Giá cả CK trên thị trường thứ cấp có thể vượt xa giá cả CK trên thị trường sơ
cấp. Điều này liên quan đến các quyết định của nhà đầu tư. Nhà ÐT luôn có niềm tin
mạnh mẽ vào thị trường sẽ mang lại cho họ lợi tức cao. Tham gia vào TTCK, là Các nhà
ÐT đều có chung khát khao là mong muốn làm giầu nhanh nhất với nổ lực ít nhất. Niềm
tin và nỗi khát khao lợi nhuận cao đã giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi rủi ro để dũng mãnh
bước sâu vào thị trường. Rõ ràng phải có các nhà đẩu tư thì TTTC mới ra đời và phát
triển, và hoạt động TTTC càng phát triển càng thúc đẩy luân chuyển vốn hiệu quả trong
nến kinh tế. Tuy nhiên, TTTC chỉ thực sự hiệu quả khi nó còn kiếm soát được tất cả các
yếu tố cấu thành thị trường. Nhưng khi thị trường phát triển đến mức dung nạp cả những
nhà đấu tư "ngây thơ" chỉ biết kiếm lời từ thị trường. Khi mà tính chất bầy đàn đã chi
phối các quyết định bán mua của các nhà đầu tư, thì tính hiệu quả của thị trường dần
biến mất. Trên thị trường, các nhà đấu tư luôn hành động trên cơ sở một sự hiểu biết
không đấy đủ, điều này làm cho giá cả thị trường thường thể hiện cái xu hướng chủ đạo
hơn là thể hiện sự định giá đúng. Giá cả trên thị trường bị chi phối bởi các quyết định
mua bán của các nhà ĐT như vậy cũng không còn là chỉ số phản ánh đẩy đủ các thông
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
20127
tin sẵn có, và do đó giá cả cũng không còn cung cấp những tín hiệu chính xác để phân
bổ nguốn lực. Giá cả có thể bị đẩy lên rất cao để rồi sẽ bốc hơi rất nhanh. Ðó là hiện
tượng bong bóng thì trường. Bong bóng hình thành khi giá hàng hóa tăng cao vượt xa
hơn giá tri thực của nó gấp nhiều lẩn. Bong bóng hình thành đấy TTTC ngày càng đi dẫn
hào phóng trả giá cao cho CK của họ đến như vậy.Và thì trường đã phải lùi về đúng vị trí
của mình để mặc cho mọi thứ đổ vỡ. Như vậy, thị trường không có khả năng tự trở về
trạng thái cân bằng như thuyết thị trường hữu hiệu, ngược lại: ngay trong quá trình vận
hành suôn sẽ, thị trường đã có xu hướng tạo bongbóng. Thị trường tài chính không phải
luôn là con đường hiệu quả cung cấp nguốn vốn khan hiếm cho những nơi sử dụngchúng
hiệu quả nhất.
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
20128
3.2. Tự do hóa thị trường tài chính ảnh hưởng thế nào đến các ngân hàng thương
mại?
Về bản chất, hoạt động của NHTM khác xa với hoạt động đầu tư trên TTCK. Trong hoạt
động, các ngân hàng thương mại luôn phải chứng tỏ khả năng sẵn sàng hoàn trả tiến gửi
của khách hàng. Ðảm bảo tính thanh khoản mà vẫn tăng trường lợi nhuận cao đó là
nguyên tắc trong kinh doanh NH. Ngân hàng thương mại là mộtchủ thể quan trọng trên
TTTC. Sự an toàn của các NH đảm bảo sự phát triển ổn định vững chắc của TTTC quốc
gia. Vì thế, các giải pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng không thể chỉ trông
chờ vào nỗ lực quan trị rủi ro của từng ngân hàng, mà còn phải có những áp đặt, những
quy định cứng rắn hơn từ phía NHTW, cũng như các quy định pháp quy mang tính toàn
cầu. Các quy định về tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hay những yêu cấu của Basel l, đặc biệt chức
năng người cứu cánh cuối cùng của NHTW đối với NHTM đã nói lên điều đó. TTTC
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
20129
nóng. Điều này cũng nguy hiểm như tăng cung tiền. Sự sụp đố hệ thống tài chính và nguy
cơ lạm phát là không tránh khỏi.
4. Vai trò của chính phủ
Khi bàn về vấn đề vai trò của chính phủ đối với hoạt động của TTTC, các nhà kinh tế
thường dẫn hình ảnh khá đặc sắc của Keynes khi ông nói rằng nến kinh tế cần cả thị
trường và chính phủ cũng như khi vỗ tay người ta cần phải vỗ bằng hai tay. Nhưng thể
nào là phải vỗ tay bằng cả hai tay? Một cách hiếu thịnh hành cho đến nay là chính phủ
chỉ can thiệp khi thị trường bất lực. Sự can thiệp của chính phù là nhằm khắc phục những
khuyết tật của thị trường.Theo cách hiếu này thì đường như người ta vẫn có thể vỗ bằng
một tay. Chỉ khi vỗ một tay mà gặp trục trặc, Chẳng hạn, vỗ không kêu nữa hay kêu
không rõ nữa thì mới phải bổ sung thêm tay kia(!).Những bất ổn vốn có của TTTC trong
quá trình vận động phát triển cho thấy tính không hợp lý của cách hiểu này. Đặc biệt cuộc
khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ đã cho thấy rõ cần phải xem lại vai trò của chính
phủ đối với TTTC. Có thể nói, dưới chính quyến Tổng thống Ronald Reagan, sự phát
triển của TTTC có tên mới chính là tự do hóa tài chính, toàn cầu hóa tài chính. Thừa nhận
tư do hóa tài chính, rõ ràng chỉ có ý nghĩa như thừa nhận thị trường phải phát triển, kinh
tế phải tăng trường. Nhưng các điều kiện để TTTC phát triển trong thể ổn định, từ đó có
10 I. QUY ĐỊNH ĐIỀU TIẾT KHU VỰC TÀI CHÍNH
Với mục đích của sự điều tiết là giảm rủi ro hệ thống bằng sự điều tiết hiệu quả và nhạy
bén hơn được áp dụng một cách nhất quán bởi một cơ cấu điều tiết thống nhất thì hiệu
quả của việc điều tiết tài chính phải là một hệ thống điều tiết tài chính toàn diện, không
tiếp cận đơn lẻ, đảm bảo rằng điều tiết sẽ phải có những dấu hiệu nhận biết xu hướng trên
thị trường, là yêu cầu cần thiết để xác định rủi ro. Trong đó các chi phí điều tiết có thể
được đánh giá trực tiếp, và các chi phí phát sinh bởi các đối tượng điều tiết khó đánh giá
hoặc các chi phí do thất bại trong việc điều tiết cũng phải được tính tới. Phải có cách xác
định được độ rủi ro trên thị trường để điều tiết tài chính từ đó sẽ mang lại vai trò tốt hơn
của các hệ thống tài chính, ngăn chặn được khủng hoảng tài chính tiếp diễn và cả những
lợi ích khó có thể đưa ra “cân, đong, đo, đếm” từ đó đưa ra được quy trình dự báo tác
động điều tiết hệ thống tài chính có thể được sử dụng sau đó.
Một cơ cấu điều tiết thống nhất thì việc niêm yết và giao dịch các tài sản phái sinh tài
chính có thể tạo ra sự thanh khoản và tính minh bạch tốt hơn; được tuân theo báo cáo bảo
mật đối với các quỹ phòng hộ, Tuân theo các tỷ lệ chu kỳ vốn thông qua việc dự phòng
linh hoạt hoặc vốn dự phòng. Đặc biệt, trong quá trình điều tiết, quy tắc thị trường là yếu
tố sống còn để đảm bảo rằng các ngân hàng hoạt động cẩn trọng; các thông tin khai báo
về tình hình của các ngân hàng thông qua những đợt kiểm tra sức khoẻ tài chính và các
nghiên cứu khác rất quan trọng. Điều tiết tài chính cũng sẽ giúp duy trì và củng cố tỷ lệ
nợ đầu cơ - đánh giá được vốn mạnh và trung bình và tìm ra được một cơ chế mất khả
năng chi trả để có thể áp dụng đối với toàn bộ các công ty tài chính…
Tóm lại, việc điều tiết khu vực tài chính của chính phủ luôn diễn ra một cách thường
xuyên và phải đảm bảo tính kịp thời để đối phó với các biến động thị trường. Ở đây, nhà
nước có trách nhiệm lớn để đảm bảo thị trường tài chính hoạt động tốt mang lại lợi ích
cho toàn nền kinh tế. Chẳng hạn Việt Nam chúng ta đang đối pho với việc đóng băng của
trường tài chính Việt Nam tuy không chịu tác động mạnh như các nước quanh “ Trung tâm
bão”, nhưng cũng bị chao đảo, làm bộc lộ rõ những yếu kém và những thách thức phải đối
mặt, cụ thể:
- Khả năng ứng phó với các cú sốc của thị trường và điều tiết nguồn vốn từ bên ngoài
vào là rất hạn chế.
Trong năm 2007-2008, khi dòng vốn nước ngoài gia tăng, nhất là dòng vốn đầu tư gián
tiếp đã thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, thị trường tín dụng tăng quá mức cùng với
các yếu tố tác động bất lợi khác của thị trường tài chính quốc tế đã gây áp lực tăng lạm phát,
tăng thâm hụt thương mại, qua đó gây hoang mang với nhà đầu tư nước ngoài, từ đó tác động
làm suy giảm thị trường chứng khoán. Điều này cho thấy khả năng điều tiết nguồn vốn bên
ngoài vào là rất yếu. Hạn chế trên là do: khả năng quản trị nguồn vốn của các định chế tài
chính là rất thấp, tính bảo hộ của Chính phủ đối với các thành viên thị trường còn phổ biến nên
tạo tính ỷ lại của các thành viên thị trường, làm cho họ thiếu năng động không thiết lập những
công cụ dự phòng để ứng phó truớc những cú sốc; hiệu quả luân chuyển vốn chưa cao, thị
trường còn biểu hiện cạnh tranh thiếu lành mạnh1; tính liên kết giữa các cấu thành thị trường
còn nỏng manh; tình thanh khoản của thị trường còn bị hạn chế.
- Thị trường tài chính chưa thiết lập được một cơ chế vận hành có hiệu quả và các lực
lượng của thị trường chưa thể phát huy tác dụng đầy đủ do:
(i) Cấu trúc của thị trường tài chính còn chưa thật phù hợp với yêu cầu phát triển của
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo thể chế kinh tế này, thì nền kinh tế tồn tại
nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp. Mỗi thành phần kinh tế và loại hình
doanh nghiệp đều có nhu cầu về dịch vụ tài chính cũng như nguồn vốn phù hợp với mức độ
phát triển của thành phần kinh tế đó. Do vậy cấu trúc của thị trường tài chính đòi hỏi phải có
những định chế tài chính tương thích đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thành phần kinh tế. Tuy LTTCTT
GVHD: TS
Di
Những hạn chế như vậy, đã làm nảy sinh những thách thức khi khủng hoảng tài chính
mang tính toàn cầu xẩy ra cùng với hội nhập kinh tế quốc tế đối với thị trường tài chính Việt
Nam, đó là những thách thức:
- Xét trên phương diện vĩ mô, đó là sức ép về tỷ giá và dịch chuyển dòng vốn giữa Việt
Nam đồng sang ngoại tệ và ngược lại. Xét về mặt vi mô, là những thách thức sẽ nẩy sinh từ
những tác động của khu vực sản suất. Cuộc khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu ngày càng sâu rộng, cho đến nay chưa rõ điểm dừng. Cuộc khủng hoảng này đã có tác
động tương đối rõ nét vào nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2009, đặc biệt là đến
khu vực sản suất. Các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu, các LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
201213
doanh nghiệp có sử dụng FDI sẽ rất khó khăn để duy trì và mở rộng sản xuất. Thậm chí, đã có
một số doanh nghiệp đã phải thu hẹp xản suất do khó mở rộng thị trường xuất khẩu, hạn chế
về vốn đối với các dự án FDI. Sự khó khăn đối với khu vực sản suất sẽ gây khó khăn trực tiếp
cho khu vực tài chính.
- Ngoài ra, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến kinh tế Việt Nam
cùng với những yếu kém nội tại của nền kinh tế vẫn là thách thức lớn nhất đối với thị trường
tài chính mà trực tiếp là thị trường chứng khoán. Khủng hoảng và suy thoái kinh tế khiến các
doanh nghiệp hoạt động khó khăn hơn làm ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp, thêm vào
ệp Gia Luật
201214
Ủy Ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)
UBCKNN chính thức được thành lập vào ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của
Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về chứng
khoán và Thị trường chứng khoán (TTCK). Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan
trọng của UBCKNN là quản lý, thanh tra, kiểm tra và giám sát các tổ chức và cá nhân
tham gia hoạt động trên TTCK và xử lý các vi phạm về hoạt động chứng khoán theo quy
định của Pháp luật. Sau một thời gian hoạt động, Ủy ban này được Chính phủ chuyển vào
Bộ Tài chính nhằm tăng cường hiệu quả điều phồi hoạt động của các bộ, ngành chức
năng trong việc thúc đẩy TTCK phát triển.
Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của TTCK từ cuối năm 2006 đến nay dường như vượt
quá năng lực quản lý của UBCKNN. Trên thực tế, cơ quan này còn non trẻ, chưa có đủ
điều kiện cần thiết để quản lý và giám sát có hiệu quả hoạt động trên TTCK. Ngoài ra, thị
trường chứng khoán phi tập trung (OTC) cũng đang hoạt động một cách tự phát, chưa
được quản lý và bảo vệ, và không có được sự minh bạch như ở Trung tâm giao dịch
chứng khoán.
Trước tình hình như vậy, Chính phủ cũng đã yêu cầu Bộ Tài chính phải tăng cường quản
lý, theo dõi, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo cho thị trường phát triển theo đúng định
hướng đề ra, phát huy mặt tích cực, hạn chế tối đa những mặt tiêu cực đối với thị trường,
không để xảy ra những biến động lớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát.
Cục Bảo hiểm
hợp, xử lý và cung cấp thông tin về thị trường tài chính quốc gia báo cáo Chính phủ.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTG VN)
Được thành lập theo quyết định số 218/1999/QD – TTg, ngày 9 tháng 1 năm 1999 của
Thủ tướng Chính phủ. Nhiệm vụ của BHTG VN là bảo vệ quyền lợi và lợi ích của hợp
pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia BHTG và
sự phát triển lành mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng.
Kể từ khi ra đời và đi vào hoạt động cho đến nay, BHTG Việt Nam đã có những đóng
góp rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần nâng cao
niềm tin công chúng và duy trì một phần sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, với mức tăng trưởng huy động
vốn bình quân hàng năm là 30% , số lượng các tổ chức tham gia vào BHTG cũng gia tăng
mạnh mẽ, khẳng định niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính ngân hàng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của BHTG Việt nam còn nhiều bất cập và
hạn chế như: chức năng và nhiệm vụ chưa được quy định đầy đủ và rõ ràng theo thông lệ
quốc tế, năng lực tài chính của các cán bộ còn hạn chế, chưa có sự trao đổi kết hợp với
các cơ quan trong mạng lưới an toàn quốc gia khác. Điều này ảnh hưởng tới việc thực
hiện chức năng và nhiệm vụ của BHTG.
Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
201216
nền kinh tế của chúng ta.
Trong trò chơi điều tiết và giám sát tài chính, điều khó khăn nằm ở tiểu tiết.
Những khác biệt tinh vi ở các chi tiết có thể có những hệ quả không định trước được; trừ
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
201217
phi các nhà làm luật đưa ra các qui định đúng, còn không, có thể họ không có khả năng
ngăn ngừa việc chấp nhận rủi ro.
Hơn nữa, các định chế chịu ảnh hưởng của việc điều tiết có thể vận động hành
lang với các chính trị gia để nhờ các những người giám sát hành động dễ dàng hơn cho
họ.Vì những lí do này, không có gì đảm bảo rằng những người ban hành luật và giám sát
sẽ thành công trong việc đưa ra một hệ thông tài chính khỏe mạnh.
III. Các hạn chế điều tiết và quy định của khu vực tài chính :
Có 9 loại quy định tài chính cơ bản: Mạng lưới an toàn chính phủ, hạn chế giữ tài
sản, yêu cầu vốn, sửa sai kịp thời, ban quyền và kiểm tra, đánh giá quản lý rủi ro, công
khai các đòi hỏi, bảo vệ người tiêu dùng và hạn chế về cạnh tranh.
Có 9 loại quy định tài chính cơ bản: Mạng lưới an toàn chính phủ, hạn chế giữ tài
sản, yêu cầu vốn, sửa sai kịp thời, ban quyền và kiểm tra, đánh giá quản lý rủi ro, công
khai các đòi hỏi, bảo vệ người tiêu dùng và hạn chế về cạnh tranh.
1. Mạng lưới an toàn chính phủ :
Hạn chế nghiêm trọng nhất của mạng lưới an toàn của chính phủ bắt nguồn từ đạo
hạn chế này có thể trở nên quá nặng nề đến nỗi tính hiệu quả của hệ thống tài
chính sẽ bị ảnh hưởng.
3. Các yêu cầu về vốn :
Ngân hàng cũng có thể yêu cầu về vốn. Ngân hàng được yêu cầu để giữ một mức
nhất định của vốn mà phụ thuộc vào loại tài sản nắm giữ.
(Hiệp ước Basel: yêu cầu các ngân hàng nắm giữ ít nhất 8% vốn trên tài sản rủi
ro của họ được 100 nước thông qua. Hiệp ước Basel sửa đổi về Rủi ro thị trường
1996 quy định mức tối thiểu của vốn đối với rủi ro ở các tài khoản giao dịch của
ngân hàng.)
Qua thời gian, những hạn chế của Hiệp ước Basel trở nên rõ ràng, bởi vì thước đo
rủi ro của ngân hàng được quy định bởi tỉ lệ nợ có thể khác nhau đáng kể từ rủi
ro thực tế mà ngân hàng gặp phải. Hiệp ước Basel vì thế có thể dẫn đến rủi ro
tăng cao, thay vì giảm rủi ro như ý định của nó.
4. Sửa sai kịp thời :
Một ngân hàng không đảm bảo về vốn có nhiều khả năng thất bại và nhiều khả
năng để tham gia vào các hoạt động nguy hiểm.
Ví dụ: Vốn được đảm bảo ,Ngân hàng cho phép một số hoạt động rủi ro. Tuy
nhiên, một ngân hàng không đảm bảo về vốn phải gửi một kế hoạch phục hồi
vốn, hạn chế sự phát triển tài sản, và tìm kiếm các phê duyệt quy định để mở chi
nhánh mới hoặc phát triển các dòng mới của doanh nghiệp.
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
201219
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
201220
Bốn yếu tố của quản lý rủi ro và kiểm soát:
- Chất lượng của Hội đồng quản trị cấp cao và giám sát quản lý
- Đầy đủ các chính sách hạn chế hoạt động rủi ro
- Chất lượng của các đo đạc và giám sát rủi ro
- Đầy đủ các kiểm soát nội bộ để ngăn chặn gian lận.
7. Công khai các đòi hỏi :
Thông tin tốt hơn làm giảm vấn đề lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo Đức.
Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được sử dụng để chỉ một
loại rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái. Rủi ro đạo đức
là một kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin phi đối xứng.
Luật Sarbanes-Oxley tăng các yêu cầu cho các báo cáo chính xác của kế toán, tạo
ra PCAOB, và đặt giới hạn trên xung đột lợi ích
(Ủy ban Giám sát hoạt động kiểm toán cho các công ty đại chúng :Public
Company Accounting Oversight Board viết tắt : PCAOB )
Kế toán theo giá thị trường có thể giúp đỡ, nếu giá trị tài sản có thể được xác định.
8. Bảo vệ người tiêu dung:
Tiêu chuẩn mức lãi suất
Ngăn chặn phân biệt đối xử.
Cần tiết lộ thêm để bảo vệ người tiêu dùng .Tránh trường hợp người tiêu dùng cho
vay mà họ không hiểu rõ các điều khoản
2.
Những bất cập của hệ thống giám sát tài chính hiện tại
Trước sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ tài chính trong nền kinh tế, đặc biệt
trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra hết sức mãnh liệt ở tất cả các quốc
gia trên thế giới, thì hệ thống giám sát tài chính hiện tại của Việt Nam đang nổi lên một
số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất: chưa có những quy định rõ ràng về quyền hạn và chức năng xử lý của từng bộ
phận
Mục tiêu của hệ thống thanh tra giám sát là nhằm đảm bảo cho sự duy trì ổn định, phát
triển lành mạnh của hệ thống tài chính và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và người gửi
tiền. Để đạt được các mục tiêu này, các cơ quan thanh tra, giám sát thường sử dụng các
công cụ như: Công cụ quản lý, công cụ giám sát, công cụ “kỷ luật thị trường”, …Các
công cụ, chức năng và phạm vi hoạt động của từng cơ quan giám sát phải được quy định
rõ trong luật, tạo tiền đề cho hoạt động giám sát có hiệu quả, không chồng chéo.
Thực tế hiện nay, khung pháp lý cho hoạt động thanh tra giám sát chủ yếu dựa trên các
luật sau:
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
201222
· Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các TCTD
· Luật thanh tra
23
Một là, công nghệ thu thập thông tin để phục vụ cho hoạt động giám sát từ xa rất lạc hậu.
Trong khi, hoạt động giám sát tài chính lại phụ thuộc rất nhiều về khả năng thu thập
thông tin. Để hoạt động giám sát có hiệu quả hơn, ít nhất phải có một hệ thống thông tin
quản lý có khả năng cập nhật thông tin từ cơ sở đến cơ quan giám sát một cách nhanh
chóng và chính xác.
Hai là, chưa có một quy định chung về cách thức giám sát cho cả hệ thống tài chính. Hiện
nay, Cơ quan thanh tra giám sát đã áp dụng chỉ tiêu CAMELS trong hoạt động giám sát
từ xa. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chỉ mang tính định lượng chỉ áp dụng cho khu vực
ngân hàng.
Ba là, chưa thiết lập các công cụ phục vụ cho giám sát an toàn vĩ mô (cho cả hệ thống) và
giám sát an toàn vi mô (cho từng định chế tài chính) một cách có hiệu quả, nhất là trong
điều kiện chuyển sang thanh tra giám sát dựa trên rủi ro trong thời gian tới. Các mô hình
phân tích, dự báo, kiểm định “độ căng” (stress test) của cả hệ thống và cho từng định chế
tài chính chưa được phát triển.
Bốn là, năng lực cán bộ của hệ thống thanh tra còn yếu so với yêu cầu đảm bảo an toàn
an toàn cho hoạt động khu vực tài chính. Về cơ bản, cán bộ thanh tra chưa có khả năng sử
dụng mô hình kiểm định và kiểm tra tính hiệu quả của mô hình quản trị rủi ro của các tổ
chức tài chính. Ngoài ra, theo như nhận định của một số chuyên gia trong ngành tài chính
ngân hàng, văn hóa giám sát cũng như động lực thanh tra tại chỗ của cán bộ thanh tra còn
yếu.
Thứ ba, sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn an toàn hoạt động của Việt Nam với tiêu chuẩn
của quốc tế
Mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn về hoạt động an toàn tài chính riêng phù hợp với tình
hình kinh tế và chính trị của mỗi nước. Không có một khuôn mẫu chuẩn nào cho tất cả
các quốc gia. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hệ thống kế toán Việt Nam và hệ thống kế
toán theo chuẩn quốc tế làm việc áp dụng các chỉ tiêu an toàn hoạt động tài chính theo
Để đạt được các mục tiêu đề ra, các quốc gia áp dụng những mô hình tổ chức khác nhau
đề triển khai hoạt động thanh tra giám sát. Nhưng nhìn chung, các quốc gia thường sử
dụng các mô hình tổ chức của hệ thống giám sát tài chính theo cách tiếp cận sau:
Tiếp cận theo hướng thể chế: Theo cách tiếp cận này, ba mảng ngân hàng, bảo hiểm,
chứng khoán sẽ do ba cơ quan tách biệt giám sát, thường gọi là mô hình 3 cực (three
pillars). Mô hình này được áp dụng một cách rộng rãi, Việt Nam cũng áp dụng mô hình
này cho hoạt động giám sát tài chính. Theo mô hình này, các chủ thể giám sát làm cả
nhiệm vụ giám sát an toàn và giám sát hoạt động đối với các trung gian tài chính thuộc
LTTCTT
GVHD: TS
Di
ệp Gia Luật
201225
đối tượng giám sát. Cùng với sự phát triển của khu vực tài chính, một số các mục tiêu
khác được bổ xung cho cơ quan giám sát như là bảo vệ tiền gửi cho người tiêu dùng,
giám sát rửa tiền, tuy nhiên đây vẫn là mô hình truyền thống khi việc giám sát ba khu vực
vẫn được tách riêng.
Tiếp cận theo hướng hợp nhất: Theo cách tiếp cận này, một chủ thể giám sát tổng hợp
làm nhiệm vụ an toàn, điều tiết hoạt động đối với tất cả các trung gian tài chính hoạt động
trong lĩnh vực dịch vụ tài chính. Trong trường hợp này, chức năng giám sát an toàn và
hoạt động đối với các trung gian tài chính không thuộc các bộ chủ quản truyền thống:
NHTW, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán. Mức độ hợp nhất có thể khác nhau đối
với các quốc gia, tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế và thể chế chính trị. Mức độ hợp nhất có
thể được chia là hai loại: (i) Hợp nhất hoàn toàn: Các hoạt động kinh doanh tài chính và