Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 1 - Tiểu luận
Điều tiết và giám sát hệ thống tài chính
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 2 -
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay vấn đề phát triển kinh tế là một vấn đề rất cần thiết, tất yếu của mỗi quốc
gia. Nhưng mỗi quốc gia khác nhau thì phát triển kinh tế khác nhau do dựa vào tiềm lực
của chính mình. H ệ thống tài chính phát triển lành mạnh, bền vững, ổn định – đảm bảo
quyền lợi của nhà đầu tư và người gửi tiền là mục tiêu chính của nhiều quốc gia. Để đạt
được mục tiêu này, hệ thống giám sát tài chính đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
việc tạo môi trường phát triển thuận lợi và lành mạnh cho các định chế tài chính.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, thì sự điều tiết và giám sát hệ thống tài
chính phải được hình thành cùng với sự phát triển của xã hội để tránh xảy ra sự cố khủng
hoảng tài chính. Chính vì vậy mà sự điều tiết và giám sát hệ thống tài chính của quốc gia
phải được hoàn thiện theo xu hướng năng động, tích cực, phù hợp với xu thế phát triển
của nền kinh tế. Xuất phát từ những nguyên nhân trên nhóm đã tiến hành tìm hiểu và
nghiên cứu sự điều tiết và giám sát hệ thồng tài chính
b. Các mối quan hệ tài chính.
Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể có các mối
quan hệ tài chính sau:
+ Mối quan hệ tài chính gi ữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước
Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo
những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân
chia lợi nhuận. Đồng t hời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh
tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản
phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được
thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước
theo luật định.
+ Mối quan hệ tài chính gi ữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính
Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được các
khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, các doanh nghiệp
phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất định. Với thị trường vốn, thông qua
hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ
khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán. N gược lại,
các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh
nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh
nghiệp. (Thị trường chứng khoán) Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 4 -
có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc đầu
tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác.
+ Mối quan hệ tài chính gi ữa doanh nghiệp với các thị trường khác
Các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động, Là chủ
thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các
yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả công lao động, chi trả các dịch vụ Đồng
thời, thông qua các thị trường, doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà
Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức khai thác
các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 5 -
Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của
vốn.
1.1.2.2 Chức năng phân phối.
Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù tài
chính. Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việc phân
phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Khi đó, tài chính được sử dụng với tư cách một
công cụ phân phối.
1.1.2.3 Chức năng giám sát.
Đây là chức năng kiểm tra sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo
lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.
Thông qua chức năng này để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng
sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi thời kỳ, kiểm tra các chế độ tài chính của Nhà nước
1.1.3 Cấu trúc của hệ thống tài chính.
Hệ thống t ài chính bao gồm 4 tụ điểm vốn và 1 bộ phận dẫn vốn:
1.1.3.1 Các tụ điểm vốn.
Là bộ phận mà ở đó nguồn tài chính được tạo ra, đồng thời cũng là nơi thu hút trở
lại các nguồn vốn, tuy nhiên ở các mức độ phạm vi khác nhau, bao gồm:
+ Tài chính doanh nghiệp.
+ Ngân sách nhà nước.
+ Tài chính dân cư (tài chính hộ gia đình) và các tổ chức xã hội khác.
+ Tài chính đối ngoại.
+ Thị trường TC và các tổ chức TC trung gian.
a. Tài chính doanh nghiệp.
- Đây là nơi nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời cũng là nơi thu hut trở lại các
nguồn tài chính quan trọng trong nền kinh tế. Trong hệ thống tài chính, tài chính doanh
đối ngoại cho nên người ta thừa nhận nó hình thành một bộ phận tài chính có tính chất
độc lập tương đối.
- Những kênh vận động của tài chính đối ngoại:
+ Nhận viện trợ, vay vốn nước ngoài.
+ Tiếp nhận vốn đầu tư.
+ Thanh toán XNK.
+ Thực hiện các hợp đồng tái bảo hiểm, chuy ển phí bảo hiểm, thanh toán bảo hiểm
hoặc nhận phí bảo hiểm, nhận bồi thường từ các tổ chức nước ngoài.
+ Quá trình chuyển tiền, tài sản của cá nhân trong và ngoài nước
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 7 -
e. Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian.
- Đây là bộ phận luân chuyển vốn trong nền kinh tế, là cầu nối trung gian giữa
nhứng người cần vốn và những người có vốn nhàn rỗi thông qua hoạt động tài chính
trung gian hoặc hoạt động trực tiếp trên thị trường tài chính.
- Trong hệ thống t ài chính, các trung gian tài chính thực hiện việc dẫn vốn thông
qua hoạt động tài chính gián tiếp. Trước hết các trung gian tài chính huy động vốn từ
những người có vốn (người tiết kiệm) bằng nhiều hình thức để tạo thành vốn kinh doanh
của mình. Sau đó, sử dụng vốn kinh doanh này để cho người cần vốn vay lại hoặc thực
hiện các hình thức đầu tư khác. Bằng cách này, các trung gian tài chính đã tập trung được
các nguồn vốn nhỏ, từ các hộ gia đình các tổ chức kinh tế thành một lượng vốn lớn, đáp
ứng nhu cầu của người cần vốn từ những khối lượng vay nhỏ đến những khối lượng vay
lớn, từ những cá nhân chưa từng ai biết đến tới những Công ty lớn có t iếng trên thị
trường.
1.1.3.2 Bộ phận dẫn vốn:
Đây là bộ phận thực hiện chức năng truyền dẫn vốn giữa các tụ điểm vốn trong hệ
thống tài chính, bao gồm: thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian.
a. Các tổ chức tài chính trung gian: Có nhiệm vụ tiết kiệm cho nền kinh tế các
chi phí giao dịch và chi phí thông tin, bao gồm các tổ chức tài chính chính thức và các tổ
chức tài chính không chính thức.
1.2 Một số khái niệm cơ bản trong điều tiết và giám sát hệ thống tài chính
1.2.1 Khái niệm về giám sát tài chính:
Giám sát tài chính là hoạt động giám sát đối với các định chế tài chính, thị trường
tài chính, công cụ tài chính và hạ tầng cơ sở tài chính được thực hiện bởi các cơ quan
quản lý nhà nư ớc. Hoạt động này được thực hiện nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy
định quản lý hiện hành đối với khu vực tài chính, với mục đích cuối cùng là để duy trì
tính ổn định của thị trường tài chính.
1.2.2 Mục đích của việc giám sát tài chính bao gồm 3 mục đích chính:
- Thứ nhất, nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của k hu vực tài chính: Mục
đích của giám sát tài chính nhằm đảm bảo các định chế tài chính tuân thủ các chuẩn mực
an toàn do các chủ thể giám sát đặt ra. Bằng cách đó hệ thống định chế tài chính (khu vực
tài chính) có đủ sứ c chống đỡ các cú sốc bên ngoài cũng như các tác động t iêu cực từ các
thị trường khác trong và ngoài nước. Điều này cũng có nghĩa là đảm bảo cho các định chế
tài chính đủ sức tham gia thị trường và cạnh tranh một cách bình đẳng, đồng thời loại bỏ
các định chế không đủ điều kiện tham gia và cạnh tranh cung ứng dịch vụ tài chính trên
thị trường.
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 9 -
- Thứ hai, nhằm đảm bảo sự hiệu quả vận hành của thị trường tài chính: M ột
trong những yêu cầu của giám sát tài chính là đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa
những chủ thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính trên thị trường, giám sát yêu cầu
minh bạch thông tin và tạo cơ chế khai t hác và công bố thông tin, giám sát tiêu chí gia
nhập thị trường, hạn chế tình trạng độc quyền và sự chi phối của các chủ thể điều tiết có
nguy cơ làm suy giảm mức độ cạnh tranh của khu vực tài chính. Cạnh tranh sẽ làm tăng
hiệu quả của thị trường tài chính thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận và định giá
các dịch vụ tài chính, hạn chế các hoạt động làm tổn thương đến thị trường tài chính,
phân bổ hợp lý nguồn lực đối với các tổ chức trên thị trường.
- Thứ ba, nhằm bảo vệ người tiêu dùng: Các quy định quản lý đối với khu vực tài
chính được thiếp lập thông qua các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các
định chế tài chính cũng như các quy định về đạo đức kinh doanh để bảo vệ quyền và lợi
của các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm nhân thọ vì nếu xảy ra việc phá sản
của các định chế này sẽ gây ra hiệu ứng lan truyền và t ạo ra sự bất ổn cho khu vực tài
chính.
- Giám sát các hành vi giao dịch của các định chế t ài chính trên thị trường tài
chính (đặc biệt là hành vi giao dịch của các công ty môi giới chứng khoán, các quỹ đầu
tư,…trên thị trường chứng khoán) nhằm đảm bảo môi trường giao dịch tài chính lành
mạnh, minh bạch, bình đẳng đối với tất cả người tiêu dùng tham gia trên thị trường tài
chính.
- Giám sát diễn biến của thị trường tài chính (lãi suất, tỷ giá, giá cả các công cụ
tài chính, khối lượng giao dịch, tính thanh khoản,…) nhằm đảm bảo phát hiện, giảm thiểu
những bất cập, rủi ro của thị trường, góp phần thúc đẩy sự vận hành hiệu quả của thị
trường tài chính đối với việc phân bổ hợp lý các nguồn vốn cho nền kinh tế.
- Giám sát hạ tầng cơ sở tài chính (hệ thống pháp lý về hoạt động t ài chính, về
hoạt động giám sát tài chính, hệ thống hỗ trợ thanh khoản, hệ thống bảo hiểm tiền gửi,…)
nhằm đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho sự vận hành hiệu quả của thị trường tài chính
đối với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Chương 2: Nội dung về hoạt động điều tiết và giám sát hệ thống tài chính
2.1. Thất bại của thị trường tài chính và điều tiết khu vực.
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 11 -
2.1.1 Thất bại của thị trường tài chính:
Thất bại của thị trường tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của
nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình dấu hiệu
của sự thất bại đó là:
vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động
không tốt (thiếu đạo đức) xét theo quan điểm của người cho vay, bởi vì
những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả.
- Khả năng quản lý tài chính của các trung gian tài chính cũng là một yếu tố dẫn đến
sự thất bại trong thị trường tài chính như: Sự sàng lọc và giám sát các đối tượng
được vay không tốt sẽ làm thiệt hại vốn trên thị trường, khi mà các chủ thể này kinh
doanh hay sử dụng vốn với những mục đích không tốt hoặc không hiệu quả, chính
điều này sẽ làm gia tăng những khoản nợ xấu, khoản tín dụng tồi trong các tổ chức
trung gian tài chính.
- Mối quan hệ giữa ngân hàng – khách hàng: nếu mối quan hệ này tốt đây sẽ là kênh
thông tin rất hữu hiệu cho ngân hàng trong việc thu thập thông tin về những người
vay tiền. Đồng thời mối quan hệ này cũng giúp cho các tổ chức tài chính giảm được
một khoản chi phí về việc giám sát hơn là khách hàng mới. tuy nhiên nếu ngược lại
thì ngân hàng sẽ chịu những rủi ro về tài chính rất lớn.
- Vấn đề về rủi ro lãi suất cũng là một trong những yếu tố tiềm ẩn trong sự thất bại
của thị trường tài chính đặc biệt trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay thì
rủi ro lãi suất cũng là sự quan tâm của các chủ thể cho vay và đi vay.
- Vấn đề về sự biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối cũng là một yếu tố
góp phần trong sự thất bại trong thị trường tài chính.
2.1.2 Sự điều tiết khu vực tài chính.
2.1.2.1 Các công cụ sử dụng trong điều tiết và giám sát khu vực.
- Dự trữ bắt buộc
- Tái cấp vốn
- Nghiệp vụ thị trường mở
- Lãi suất cơ bản: Lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương là một công cụ không
thể thiếu trong việc thực thi chính sách tiền tệ nhằm vào các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Điều
9 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định nội dung này. Tuy nhiên, một vấn
đề đang gây tranh luận là điều 476 Luật Dân sự có quy định một mức trần lãi suất trong
mối quan hệ vay mượn giữa dân cư là không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản, và lãi
suất cơ bản ở đây được hiểu là lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước).
bắt buộc bằng ngoại tệ và VND gần đây đã phát huy tác dụng trong việc khắc phục tình
trạng khan hiếm VND, hạn chế dòng chuyển đổi từ VND sang USD, góp phần ổn định
tiền tệ và tạo điều kiện sử lý mối quan hệ giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ, giữa lãi
suất và tỷ giá trên thị trường.
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 14 -
Đối với công cụ tái cấp vốn. Có thể thấy rằng cùng với việc đổi mới điều hành
chính sách tiền tệ, công cụ tái cấp vốn đã được từng bước đổi mới theo hướng thực hiện
vai trò là công cụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng nhà nước, và ngân hàng nhà nước
thực hiện vai trò “người cho vay cuối cùng”. Cho đến nay, việc vay tái cấp vốn theo chỉ
định đã ngày càng hạn chế. Thay vào đó, tái cấp vốn thường thông qua các hình thức
khác nhau như cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn
hạn, chiết khấu , tái chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn…đã ngày càng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức tái cấp vốn từ ngân hàng nhà nước cho các ngân hàng.
Từ năm 1997 đến nay, lãi suất tái cấp vốn đã được xác định mức cụ thể thay cho việc quy
định theo tỷ lệ phần trăm trên lãi suất cho vay áp dụng đối với các dự án cho vay của các
tổ chức tín dụng trước đây. Từ năm 1999, lãi suất tái cấp vốn đã được điều chỉnh linh
hoạt cung cấp tín hiệu về điều hành chính sách tiền tệ và phù hợp với diễn biến trên thị
trường.
Bên cạnh việc cung ứng vốn ngắn hạn cho các ngân hàng qua các hình thức tái cấp
vốn, từ tháng 7/2000, nghiệp vụ thị trường mở chính thức hoạt động đã mở ra một kênh
cung ứng, điều tiết vốn khả dụng mới cho các tổ chức tín dụng. N gân hàng nhà nước
bước đầu có t hêm một công cụ mới để thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ. Tuy đến
nay mặc dù quy mô hoạt động nghiệp vụ thị trường mở còn hạn chế, nhưng việc đưa nó
đi vào hoạt động đã tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng thành viên sử dụng linh hoạt
các giấy tờ có giá ngắn hạn, góp phần nhất định đối với việc điều chỉnh vốn khả dụng cho
các tổ chức tín dụng t hành viên, đặc biệt khi t hiếu hụt khả năng thanh toán.
Gần đây, việc ngân hàng nhà nước đưa ra thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ đã góp
phần quan trọng trong việc giúp các ngân hàng thương mại khắc phục tình trạng khan
hiếm tiền Đồng. Sự ra đời của công cụ này đã mở đường cho các tổ chức tín dụng thường
công bố. Thực tế, việc điều hành tỷ giá của ngân hàng nhà nước đã góp phần hạn chế ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đến kinh tế Việt Nam, góp phần
ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tiền tệ. Từ năm 1999 đến nay, bên cạnh việc can thiệp kịp
thời của ngân hàng nhà nước trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, việc thực hiện cơ
chế điều hành tỷ giá theo các nguyên tắc thị trường (thông qua hình thức hàng ngày ngân
hàng nhà nước công bố tỷ giá chính thức là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch trước đó, quy định tỷ giá giao dịch giữa VND
và U SD của các tổ chức tín dụng không vượt quá 0,1% so với tỷ giá do ngân hàng nhà
nước và điều chỉnh linh hoạt với mức trần gia tăng tỷ giá đối với các giao dịch kỳ hạn,
hoán đổi…) đã phát huy tác dụng, góp phần ổn định thị trường tiền tệ.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy rằng, việc sử dụng các
công cụ chính sách tiền tệ để thực hiện vai trò điều tiết tiền tệ của ngân hàng nhà nước
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 16 -
còn có một số hạn chế nhất định. Cho đến nay, về cơ bản những quy định hiện tại về dự
trữ bắt buộc nhằm đảm bảo tính linh hoạt trong việc sử dụng vốn của các ngân hàng
thương mại. Tuy nhiên tiền gửi dự trữ bắt buộc còn quy định hạn hẹp ở loại tiền gửi có
kỳ hạn 12 tháng trở xuống nên khả năng kiểm soát và điều tiết khối tiền tệ M2 của ngân
hàng nhà nước còn hạn chế. Ngân hàng nhà nước trả lãi cho tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc
đã không khuyến khích các ngân hàng thương mại tận dụng tối đa nguồn vốn, dẫn đến
tình trạng có thời kỳ các ngân hàng thương mại để dự trữ dư thừa nhiều, hạn chế các hoạt
động cho vay ngắn hạn, nhất là cho vay qua đêm trên thị trường tiền t ệ.
Trong quá trình kiếm soát và điều tiết tiền tệ, vai trò của công cụ tái cấp vốn vẫn
còn hạn chế. Mặc dù cơ chế tái cấp vốn không có sự phân biệt đối với các ngân hàng
khác nhau, nhưng thực tế tái cấp vốn vẫn chủ yếu thực hiện đối với các ngân hàng thương
mại quốc doanh, các ngân hàng thương mại cổ phần ít được tái cấp vốn do thường không
đủ các điều kiện tái cấp vốn. Lãi suất tái cấp vốn chưa gây tác dụng hiệu ứng với lãi suất
thị trường và chưa phát huy tốt vai trò kích thích tăng giảm nhu cầu tiền tệ. Đối với
nghiệp vụ thị trường mở, do hàng hoá trên thị trường hạn hẹp về chủng loại, thời gian
cũng như số lượng và số tín phiếu kho bạc là công cụ chủ yếu trên thị trường lại tập trung
tầng thông tin,…
2.1.2.3 Phương pháp điều tiết.
Có 2 phương pháp đó là: Chính sách thận trọng vĩ mô và vi mô.
Theo các chuyên gia, việc sử dụng phương pháp thận trọng vĩ mô khi hoạch định
chính sách sẽ hiệu quả hơn so với phương pháp vi mô vì chính sách thận trọng vĩ mô đã
xem xét một số yếu tố mà chính sách vi mô bỏ qua, như: ảnh hưởng mang tính hệ thống,
mối tương quan và nguy cơ rủi ro giữa các bên liên quan.
Trong khi công cụ của chính sách tiền tệ được sử dụng thống nhất trên toàn hệ
thống ngân hàng trung ương thế giới, nhiều công cụ của chính sách thận trọng vĩ mô cũng
đã được đề xuất nhưng đến nay vẫn không có được một công cụ hoặc một tập hợp các
công cụ chủ đạo nào. Bên cạnh đó, trong quá trình hoạch định chính sách thận trọng vĩ
mô, một khía cạnh nữa cần tính tới là phân biệt giữa chính sách thận trọng vĩ mô và chính
sách kinh tế vĩ mô (ví dụ như chính sách tài chính). Dưới đây là bảng tóm tắt một số điểm
cơ bản về một loạt các chính sách bảo đảm năng lực ổn định của hệ thống tài chính.
Từ những phân tích trên, có thể thấy nội dung của chính sách thận trọng vĩ mô còn
nhiều điểm phải bàn trước khi đi đến thống nhất giữa các quốc gia. Có 3 nguyên nhân
chính giải thích cho tình trạng này: một là, phương pháp thận trọng vĩ mô gần đây mới
được chú ý, định nghĩa về ổn định tài chính và mục tiêu của chính sách vĩ mô thận trọng
chưa rõ ràng; hai là, thiếu sự hiểu biết đầy đủ và thiếu mô hình xây dựng về mối tương
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 18 -
quan giữa hệ thống tài chính và nền kinh tế vĩ mô; ba là, quan điểm về chính sách thận
trọng vi mô và vĩ mô, quan hệ giữa chúng vẫn còn nhiều khác biệt.
2.2 Những bất cập của hệ thống giám sát tài chính hiện nay.
Điểm y ếu thứ nhất là sự thiếu phối hợp điều tiết giữa các cơ quan chức năng trong
việc xử lý các vấn đề tài chính.
Điểm y ếu thứ hai là sự yếu kém trong quá trình theo dõi và giám sát, bao gồm tính
thiếu minh bạch và chất lượng các báo cáo. Sự phát triển, đổi mới của hệ thống tài chính
tạo ra những sản phẩm lai ghép, do đó, công t ác giám sát cũng gặp khó khăn hơn. Sự
không tương thích giữa các tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn thế giới trong việc giám
+ Chưa có một luật thanh tra giám sát chuyên ngành quy định rõ chức năng,
nhiệm vụ và cách thức hoạt động các các cơ quan giám sát. Và đặc biệt để làm rõ cơ chế
phối hợp hoạt động và trao đổi thông t in giữa các cơ quan chủ chốt: NHNN, Bộ Tài
chính, Bảo hiểm tiền gửi, và Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (UBG STCQG).
+ Các cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra truyền thống bỏ sót nhiều lĩnh vực
hoạt động, dịch vụ, sản phẩm mới của các tổ chức tài chính, đặc biệt là những sản phẩm
dịch vụ ngân hàng có sự kết hợp giữa các lĩnh vực kinh doanh khác nhau.
+ Kiểm soát rủi ro các t ập đoàn tài chính, cho đến thời điểm này, chưa có một
quyết định rõ ràng cho phép một cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra các tập đoàn
tài chính trên cơ sở hợp nhất. Thực tế, nhiệm vụ kiểm soát rủi ro chung này, tạm thời
được coi là thuộc chức năng của UBGSTCQG. Tuy nhiên cơ quan này lại không có chức
năng giám sát từng định chế tài chính mà chỉ là tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong
giám sát tổng thể thị trường tài chính.
* Hiệu quả giám sát của các cơ quan thanh tra giám sát còn thấp.
- Ngoài những bất cập về cơ sở pháp lý cho hệ thống thanh tra giám sát, hoạt
động thanh tra, cả giám sát từ xa và thanh tra t ại chỗ, có hiệu quả rất thấp bởi nhiều
nguyên nhân:
+ Một là, công nghệ thu thập thông tin để phục vụ cho hoạt động giám sát từ xa
rất lạc hậu. Trong khi, hoạt động giám s át tài chính lại phụ thuộc rất nhiều về khả năng
thu thập thông tin. Để hoạt động giám sát có hiệu quả hơn, ít nhất phải có một hệ thống
thông tin quản lý có khả năng cập nhật thông tin từ cơ sở đến cơ quan giám sát một cách
nhanh chóng và chính xác.
+ Hai là, chưa có một quy định chung về cách thức giám sát cho cả hệ thống t ài
chính. Hiện nay, Cơ quan thanh tra giám sát đã áp dụng chỉ tiêu CAM ELS trong hoạt
động giám sát từ xa. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chỉ mang tính định lượng chỉ áp dụng
cho khu vực ngân hàng.
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 20 -
+ Ba là, chưa thiết lập các công cụ phục vụ cho giám sát an toàn vĩ mô (cho cả hệ
thống) và giám sát an toàn vi mô (cho từng định chế tài chính) một cách có hiệu quả, nhất
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 21 -
Lý thuyết khủng hoảng thế hệ thứ 1 (Krugman, 1979)
Mô hình thế hệ thứ nhất.
Mô hình này được Krugman giới thiệu vào năm 1979 và sau đó được Flood và
Garber hoàn thiện thêm vào năm 1984. Theo quan điểm của mô hình này, khủng hoảng
tiền tệ là do sự không nhất quán và mâu thuẫn giữa chính sách trong nước (đặc biệt gắn
với tình trạng thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng in tiền trong thời gian dài) với chính
sách duy trì tỷ giá cố định. Sự không nhất quán này có thể tạm thời tồn tại khi ngân hàng
trung ương (NHTW) dùng dự trữ để giữ vững thị trường và an tâm nhà đầu tư. Tuy
nhiên, nó không thể tồn tại lâu dài do NHTW không có đủ dự trữ để giữ tỷ giá thị trường
ở mức đã ấn định, và khi đó các nhà đầu cơ sẽ gây ra đổ vỡ bằng việc ồ ạt bán nội tệ và
mua ngoại tệ. Như vậy, khủng hoảng tiền tệ theo quan điểm phái này là kết cục tự nhiên
và tất yếu (cạn kiệt dự trữ) chứ không phải là một hành vi bất hợp lý hay thao túng thị
trường. Mất niềm tin là có cơ sở do họ thấy được sự bất ổn trong các nhân tố kinh tế vĩ
mô căn bản: thâm hụt tài khóa, thâm hụt thương mại, tình trạng dự trữ liên tục giảm, và
nguy cơ NHTW không đủ sức bảo vệ mức tỷ giá đã cố định. Những nhà đầu cơ chỉ có
trách nhiệm đối với thời điểm đổ vỡ, đó là khi họ bắt đầu thực hiện hành động tháo chạy
khỏi thị trường.
Khủng hoảng tiền tệ ở các nước M ỹ Latin trong thập niên 80 và 90 có thể được
giải thích tương đối tốt bằng các mô hình này. Định giá quá cao nội tệ tại các quốc gia
như Argentina, Brazil, M êhicô khiến cho tiêu dùng hàng nhập khẩu tăng trong khi xuất
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 22 -
khẩu lại giảm đã gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai trầm trọng. Tiền lương thức tế tăng
do hàng tiêu dùng nhập khẩu giảm khiến cho tỷ lệ tiết kiệm trong nước giảm sút. Với
việc cam kết cố định tỷ giá và mức lãi suất khá cao, chính phủ các nước Mỹ Latin đã dễ
dàng huy động được các nguồn vốn nước ngoài để tài trợ chi tiêu. Các khoản nợ tích lũy
đã làm tăng dần tính rủi ro và giảm dần uy tín cam kết cố định tỷ giá của chính phủ.
thường lựa chọn đi theo những hình bóng lớn trên thị trường, những người được xem là
có một thông tin đầy đủ và một uy tín tốt trên thị trường, hoặc lựa chọn đi theo xu thế
chung của thị trường. Ở phương án thứ nhất, một nhà đầu tư lớn có thể gây ra sự đổ vỡ
của thị trường bằng việc đưa ra những thông điệp gây rối loạn thị trường nhằm trục lợi.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy điều này ngày càng khó khi thông tin được công bố rộng rãi
hơn và chi phí thu thập thông tin đã được giảm bớt đối với các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Do vậy,
kỳ vọng sẽ được căn cứ vào xu thế chung thị trường. Và nếu thi trường là hiệu quả thì xu
thế và kỳ vọng sẽ phản ánh một cách tương đối đúng đắn yếu tố kinh tế vĩ mô nền tảng.
Một yếu tố chi phối kỳ vọng khác là do tính lan truyền giữa các nước. Khủng hoảng tiền
tệ hoặc nợ ở một nước có thể ảnh hưởng tới niềm tin chung của nhà đầu tư và dẫn tới sự
rút vốn ồ ạt ở những quốc gia có thể vẫn đang hoạt động tương đối bình thường. Điều này
lý giải t ại sao các cuộc khủng hoảng ngày nay ít khi bó hẹp ở một quốc gia mà thường
xảy ra đồng loạt hoặc kế tiếp tại các quốc gia lân cận, thậm chí có thể giữa các quốc gia
rất khác nhau về vị trí địa lý và tính chất kinh tế như trường hợp Nga và Brazil năm
1998/99.
Khủng hoảng Chế độ tỷ giá châu Âu (ERM) với sự phá giá của bảng Anh và sau
đó là franc Pháp vào những năm đầu thập niên 1990 là những ví dụ tiêu biểu cho dạng
mô hình thế hệ thứ hai. Các nước này đều là những nền kinh tế mạnh, nguồn lực dự trữ
ngoại hối của quốc gia dư thừa để đối phó với những vấn đề này. Tuy nhiên, bài toán các
nước này phải đối mặt là lựa chọn giữa cố định tỷ giá với sản lượng và thất nghiệp. Sau
khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1991, chính quyền Tây Đức đã phải thực hiện kết hợp
Tiểu luận Tài Chính – Tiền Tệ GVHD: TS. Diệp Gia Luật
- 24 -
chính sách tài khóa mở rộng nhằm hỗ trợ miền Đông và chính sách tiền tệ thắt chặt để
ngăn chặn lạm phát. Lãi suất M ác Đức tăng lên, trong khi các nước khác neo t heo đồng
Mác Đức khiến cho lãi suất các nước này cũng tăng theo. Do các nước này không thể sử
dụng chính sách tài khóa mở rộng nên nền kinh tế bị suy thoái và thất nghiệp tăng.
George Soros đã dự tính được kết qua bài toán lựa chọn của chính phủ Anh nên đã quyết
định bán bảng Anh và mua đôla với trị giá 15 tỷ bảng Anh để đầu cơ, và điều này đã giúp
hiện thực hóa việc Anh phá giá đồng bảng và rút lui ra khỏi ERM . Để hiểu thêm chi t iết
một vài nhà đầu cơ sẽ dẫn tới việc rút vốn ồ ạt ra khỏi đất nước. Khi đó khủng hoảng tiền
tệ sẽ xảy ra.
Khủng hoảng tiền tệ ở châu Á năm 1997 là ví dụ điển hình cho dạng khủng hoảng
mà mô hình thế hệ thứ ba đưa ra. Về cơ bản, các nền kinh tế Đông Á hoạt động tương đối
tốt, các nước này đều được đánh giá là các "con hổ" hoặc "con rồng" về kinh tế của châu
Á như Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc,… Các yếu tố kinh tế vĩ mô cơ bản cũng tương đối
vững vàng: tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao, độ mở và hội nhập vào thị trường thế giới với
tốc độ nhanh, chất lượng giáo dục và trình độ người lao động đã tăng lên nhanh chóng,
đầu tư nước ngoài đi vào khu vực này với tốc độ rất nhanh.
Nhiều quốc gia châu Á đã neo đồng tiền theo đôla M ỹ. Chính vì vậy, làn sóng đầu
tư nước ngoài đi vào trong nước trong thập niên 1980 và đầu 1990 đã khiến cho ngân
hàng trung ương phải mua đôla và bán ra nội tệ, điều này làm tăng mạnh cơ sở tiền tệ. Để
đối phó lại nguy cơ lạm phát, các ngân hàng trung ương đã phải sử dụng kết hợp chính
sách tiền tệ thắt chặt để hút bớt số tiền này về, và điều này đã làm tăng lãi suất và càng
khuyến khích các luồng vốn nước ngoài chảy vào, và đa phần là các nguồn vốn ngắn hạn.
Các trung gian tài chính trong nước kỳ vọng kiếm lời do chênh lệch lãi suất ngoại tệ và