Tài liệu Luận văn: Khả năng vận dụng các học thuyết thương mại quốc tế trong điều kiện Việt Nam - Pdf 10



Luận văn
Khả năng vận dụng các học
thuyết thương mại quốc tế
trong điều kiện Việt Nam
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
1
Mở đầu
Thơng mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng, nó ra đời sớm nhất và ngày
nay vẫn giữ vai trò trung tâm trong quan hệ kinh tế quốc tế. Hoạt động thơng
mại quốc tế mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia, cả quốc gia phát triển cao
cũng nh quốc gia phát triển thấp, đồng thời nó thúc đẩy sự phát triển của phân
công lao động quốc tế cũng nh đa tới sự tăng trởng cao cho nền kinh tế mỗi
quốc gia.
Nhận thức rõ bản chất và những lợi ích của thơng mại quốc tế cùng những
lý do thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thơng mại quốc tế là điều cần thiết
và có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định chính sách thơng mại quốc
tế cho mỗi quốc gia cũng nh đối với việc xây dựng chiến lợc và các phơng

của hàng hóa và dịch vụ diễn ra giữa các quốc gia. Các câu hỏi đợc tập trung
giải quyết trong phần này là:
Tại sao các nớc lại buôn bán với nhau? Cơ cấu chuyên môn hóa và trao
đổi đợc xác định nh thế nào?
Thơng mại quốc tế có lợi hay không? Nếu có thì lợi ích từ thơng mại
đợc phân chia thế nào giữa các quốc gia? Và tất cả các quốc gia tham gia
buôn bán đều có lợi hay chỉ một số ít mà thôi?
Thơng mại quốc tế có tác động nh thế nào tới quá trình phân bổ nguồn
lực và phân phối thu nhập trong từng quốc gia?
Các yếu tố nào tác động tới quy mô và điều kiện thơng mại?
Các nhà chức trách của mỗi nớc đều vật lộn với những khó khăn trong
việc trả lời các câu hỏi: một nớc nên xuất khẩu và nhập khẩu cái gì, bao nhiêu
và với ai. Một khi đã quyết định đợc các vấn đề trên thì họ sẽ đề ra các chính
sách thơng mại quốc tế nhằm đạt đợc kết quả cuối cùng nh mong muốn. Và
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
3
ngợc lại, các chính sách này cũng ảnh hởng đến việc kinh doanh, chẳng hạn
nh chúng ảnh hởng đến các sản phẩm mà một công ty có thể bán từ nguồn
nớc ngoài hay từ nớc sở tại. Các chính sách thơng mại quốc tế cũng có thể
ảnh hởng tới cái mà công ty có thể sản xuất để bán ở thị trờng nội địa hay ở
nớc ngoài. Dù các nhà chức trách của mỗi nớc lập ra các chính sách để tuân
thủ theo những mục tiêu và điều kiện duy nhất của họ nhng họ vẫn phải lệ
thuộc vào các lý thuyết thơng mại quốc tế của các nhà chức trách khác trên
thế giới.
II- học thuyết thơng mại quốc tế trong mối quan hệ với các học thuyết kinh tế
Xã hội loài ngời đã và đang trải qua những hình thái kinh tế - xã hội khác
nhau. ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, xã hội loài ngời đều có những
hiểu biết và cách giải thích các hiện tợng kinh tế - xã hội nhất định. Việc giải
thích các hiện tợng kinh tế - xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết, lúc
đầu nó xuất hiện dới hình thức những t tởng tiên tiến lẻ tẻ rời rạc, về sau

triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động, sự trao đổi mậu
dịch quốc tế. Trong thời kỳ này, bên cạnh sự tăng trởng kinh tế với tốc độ cao
là sự phát triển không đều giữa các quốc gia, tình trạng thất nghiệp, khủng
hoảng kinh tế thờng xuyên đe dọa, việc phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc.
Những đặc điểm nói trên đợc phản ánh trong các học thuyết kinh tế của phái
Tân cổ điển, phái Tân lịch sử, phái Keynes, phái Tự do mới, phái Chính hiện
đại, phái Thể chế, phái Tả và Cấp tiến cũng nh các lý thuyết về tăng trởng và
phát triển kinh tế.
Các lý thuyết về thơng mại quốc tế bắt đầu từ trờng phái trọng thơng,
sau này tiếp tục phát triển cùng với sự phát triển của các lý thuyết cổ điển về
thơng mại quốc tế (Adam Smith và David Ricardo), lý thuyết về chi phí cơ hội
vận dụng vào lĩnh vực thơng mại quốc tế, lý thuyết tân cổ điển về thơng mại
quốc tế (Heckscher - Ohlin và những ngời kế tục), các lý thuyết hiện đại về
thơng mại quốc tế.
Nh vậy, lý thuyết thơng mại quốc tế là một bộ phận của các học thuyết
kinh tế nói chung, trong đó nó tập trung vào việc giải thích nguồn gốc và bản
chất của thơng mại quốc tế, chỉ rõ các lợi ích thu đợc từ thơng mại quốc tế
cũng nh vai trò của thơng mại quốc tế đối với sự phát triển của các nền kinh
tế quốc gia. Vì thơng mại quốc tế là sự tiếp nối của hoạt động thơng mại
vợt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia, mặt khác nó cũng là một khâu cần
thiết của quá trình tái sản xuất và phân công lao động quốc tế, cho nên các lý
thuyết về thơng mại quốc tế cũng là sự phát triển ở một tầm rộng hơn, một
phạm vi bao quát hơn so với các lý thuyết kinh tế nói chung, đồng thời nó cũng
trở thành một bộ phận quan trọng trong các lý thuyết kinh tế ấy. Trong các lý
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
5
thuyết kinh tế hiện đại, có một bộ phận quan trọng là lý thuyết về đầu t. Vì
hoạt động đầu t quốc tế liên quan chặt chẽ với hoạt động thơng mại quốc tế,
hơn nữa đầu t quốc tế là một phơng thức phát triển mở rộng của thơng mại
quốc tế cho nên lý thuyết thơng mại quốc tế có liên quan chặt chẽ với các lý

Học thuyết
Mô tả về thơng mại tự nhiên
Những quy tắc về mối quan hệ thơng mại
Kinh
doanh
bao nhiêu
Kinh
doanh sản
phẩm nào
Kinh
doanh
với ai
Chính phủ có
nên kiểm soát
việc kinh doanh
Nên kinh
doanh
bao nhiêu
Nên kinh
doanh sản
phẩm nào
Nên
kinh
doanh
với ai
Trọng thơng
-
-
-


-
Không
-
X
-
Sự cân đối giữa các yếu tố
-
X
X
-
-
-
-
Chu kỳ sống của sản
phẩm (PLC)
-
X
X
-
-
-
-
Tinh tơng tự quốc gia
-
X
X
-
-
-
-


" dới câu hỏi "
chính phủ có nên kiểm soát việc kinh doanh hay không ?
"
trong bảng 1.
Vì không có riêng một học thuyết nào giải thích tất cả các mô hình thơng
mại và vì tất cả các quy tắc chỉ thích hợp với một vài hoạt động trong chính
sách của chính phủ, chuyên đề này sẽ nghiên cứu nhiều loại phơng pháp khác
nhau. Cả hai học thuyết quy tắc và mô tả đều có ảnh hởng lớn đến hoạt động
kinh doanh quốc tế. Chúng cung cấp những kiến thức về các khu vực thị trờng
thuận lợi cũng nh các sản phẩm có khả năng thành công. Các học thuyết này
sẽ giúp gia tăng các hiểu biết về các loại chính sách thơng mại của chính phủ
đã đợc thông qua và dự đoán ảnh hởng của chúng đến vấn đề cạnh tranh.
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
8
CHơNG II
Nội dung chủ yếu của các học thuyết thơng mại quốc tế
I- Quan điểm của trờng phái trọng thơng về thơng mại quốc tế
Nghiên cứu kinh tế học nói chung, và thơng mại quốc tế nói riêng, đợc
coi là bắt đầu bằng các tác phẩm của trờng phái trọng thơngvào các thế kỷ
17 và 18. Vào thời gian đó, vàng và bạc đợc sử dụng với t cách là tiền tệ và
do đó một quốc gia đợc coi là giàu có và hùng mạnh hơn nếu nh có đợc
càng nhiều vàng bạc. Các học giả trọng thơng lập luận rằng đối với một quốc
gia, xuất khẩu là rất có ích vì nó kích thích sản xuất trong nớc, đồng thời dẫn
đến dòng kim loại quí đổ vào bổ sung cho kho của cải của quốc gia đó. Ngợc
lại nhập khẩu là gánh nặng cho quốc gia vì làm giảm nhu cầu đối với hàng sản
xuất trong nớc, và hơn nữa dẫn tới sự thất thoát của cải của quốc gia do phải
dùng vàng bạc chi trả cho nớc ngoài. Nh vậy sức mạnh và sự giàu có của
một quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc gia đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Về
mặt chính sách, kiến nghị của các học giả trọng thơng là nhà nớc phải

II- Học thuyết thơng mại quốc tế dựa trên lợi thế tuyệt đối (A. Smith)
Adam Smith là ngời đầu tiên đa ra sự phân tích có tính hệ thống về
nguồn gốc thơng mại quốc tế. Ông đã xây dựng mô hình thơng mại đơn
giản dựa trên ý tởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích thơng mại quốc tế có
lợi nh thế nào đối với các quốc gia. Nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng
X rẻ hơn so với nớc B, và nớc B có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so với
nớc A, thì lúc đó mỗi quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình
có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia. Trong trờng
hợp này mỗi quốc gia đợc coi là có lợi thế tuyệt đối về sản xuất từng mặt hàng
cụ thể. Nhờ có chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi mà cả hai quốc gia đều
trở nên sung túc hơn. ý tởng về lợi thế tuyệt đối và thơng mại quốc tế có thể
đợc minh họa bằng mô hình thơng mại đơn giản dới đây.
Giả sử thế giới chỉ có hai nớc (Anh và Mỹ) và hai mặt hàng (thép và vải);
chi phí vận chuyển là bằng 0; lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và đợc di
chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nớc, nhng không di chuyển đợc
giữa các quốc gia; cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trờng. Để
sản xuất mỗi đơn vị thép và vải, số lợng lao động cần tới ở mỗi nớc đợc cho
trong bảng 2 dới đây.
Bảng 2 - Mô hình giản đơn về lợi thế tuyệt đối
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
10
Anh
Mỹ
Thép
5
3
Vải
2
6
Khi cha có thơng mại, thế giới bao gồm hai thị trờng biệt lập với hai

phần nhỏ của thơng mại quốc tế, cụ thể nếu một quốc gia không có đợc điều
kiện tự nhiên thích hợp để trồng các loại cây nh chuối, càfê, v.v , thì buộc
phải nhập khẩu các sản phẩm này từ nớc ngoài. Tuy nhiên, mô hình này
không giải thích đợc trờng hợp tại sao thơng mại vẫn có thể diễn ra khi một
quốc gia có lợi thế tuyệt đối (hoặc có mức bất lợi tuyệt đối) về tất cả các mặt
hàng. Để giải quyết vấn đề này cần dựa vào một khái niệm có tích chất khái
quát hơn - đó là khái niệm về lợi thế so sánh do David Ricardo đa ra lần đầu
tiên vào năm 1817.
III- Học thuyết thơng mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh và mô hình thơng mại
Ricardo
Nếu nh khái niệm lợi thế tuyệt đối đợc xây dựng trên cơ sở sự khác biệt
về số lợng lao động thực tế đợc sử dụng ở các quốc gia khác nhau (hay nói
cách khác, sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối), thì lợi thế so sánh lại
xuất phát từ hiệu quả sản xuất tơng đối. Trong mô hình lợi thế tuyệt đối ở
trên, vải đợc sản xuất rẻ hơn ở Anh so với ở Mỹ do sử dụng một lợng lao
động ít hơn. Ngợc lại, thép đợc sản xuất ở Mỹ rẻ hơn ở Anh tính theo số
lợng lao động đợc sử dụng. Tuy nhiên, nếu một nớc, chẳng hạn là Anh, có
hiệu quả hơn trong việc sản xuất cả hai mặt hàng, thì theo quan điểm lợi thế
tuyệt đối cả hai mặt hàng cần đợc mua từ Anh. Thế nhng đây không thể là
một giải pháp dài hạn bởi lẽ nớc Anh không hề mong muốn nhập khẩu bất kỳ
mặt hàng nào từ Mỹ. Trong trờng hợp này cái quan trọng không phải là hiệu
quả tuyệt đối mà là hiệu quả tơng đối trong sản xuất vải và thép: Anh có lợi
thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng, nhng chỉ có lợi thế so sánh đối
với mặt hàng có mức lợi thế cao hơn; ngợc lại Mỹ bất lợi trong sản xuất cả hai
mặt hàng nhng vẫn có lợi thế so sánh đối với mặt hàng có mức bất lợi nhỏ
hơn.
Quay trở lại mô hình thơng mại giữa Anh và Mỹ ở phần trớc. Các giả
thiết cơ bản của mô hình vẫn đợc giữ nguyên. Tuy nhiên lợng lao động cần
thiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải có khác đi theo nh bảng dới đây.
Bảng 3 - Mô hình giản đơn về lợi thế so sánh

lợi thế so sánh và sau đó trao đổi với nhau thì cả hai đều sẽ trở nên sung túc
hơn. Thực vậy, thay vì sử dụng 5 đơn vị lao động để sản xuất 1 đơn vị thép,
nớc Anh sử dụng 5 đơn vị lao động đó sản xuất ra 2.5 đơn vị vải, và nếu nh
tỷ lệ trao đổi quốc tế đúng bằng mức giá tơng quan của Mỹ (cụ thể là 1v = 2t)
thì 2.5 đơn vị vải đó bán sang Mỹ sẽ đổi đợc 5 đơn vị thép. Nh vậy Anh sẽ
lợi 4 đơn vị thép (còn Mỹ trong trờng hợp này không có lợi gì). Tơng tự,
nếu Mỹ dùng 12 đơn vị lao động để sản xuất 2 đơn vị thép (thay vì sản xuất 1
đơn vị vải) và bán sang Anh đổi lấy 5 đơn vị vải (với giả định tỷ lệ trao đổi
quốc tế đúng bằng mức giá tơng quan ở Anh, 1v = 0.4t), thì Mỹ sẽ lợi 4 đơn vị
vải. Trong trờng hợp tỷ lệ trao đổi quốc tế nằm giữa hai mức giá tơng quan
của Anh và Mỹ, cả hai nớc sẽ thu đợc lợi, tuy không đợc nhiều nh trong
hai trờng hợp nêu trên. Tóm lại, trao đổi đem lại lợi ích cho cả hai bên do có
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
13
sự khác biệt về giá cả tơng quan giữa các mặt hàng.
Từ ví dụ đơn giản trên có thể phát biểu quy luật lợi thế so sánh nh sau:
"Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách
tơng đối so với quốc gia kia. Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu
những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một
cách tơng đối so với quốc gia kia".
Một cách cụ thể, quốc gia A sẽ xuất khẩu thép khi và chỉ khi:
chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị thép ở A chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị vải ở A
<
chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị thép ở B chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị vải ở B
Lợi ích từ thơng mại dựa trên lợi thế so sánh có thể đợc minh họa bằng
đồ thị (xem hình 1). Nếu nh mỗi nớc, Anh và Mỹ, có 120 đơn vị lao động,
thì các đờng giới hạn khả năng sản xuất của Anh và Mỹ đợc vẽ một cách
tơng ứng là DH và GC. GC nhỏ hơn DH bởi vì Mỹ có hiệu quả tuyệt đối thấp
hơn so với Anh. Nếu tất cả số lao động ở Anh đợc dùng để sản xuất vải thì sẽ
có 60 đơn vị vải đợc làm ra, nếu để sản xuất thép - sẽ có 24 đơn vị đợc làm

trao đổi ngay vì không những không thu đợc lợi mà còn bị thiệt hại. Trong
hình 1 thì điều kiện thơng mại phải nằm trong quãng giữa DH và DF đối với
Anh, và giữa GC và CE đối với Mỹ, cụ thể đợc biểu thị bằng các đờng DT và
CT song song với nhau.
Nếu điều kiện thơng mại đúng bằng mức giá tơng quan của Anh thì Anh
sẽ tiếp tục sản xuất cả hai mặt hàng, còn Mỹ thì chuyên môn hóa hoàn toàn
trong việc sản xuất thép. Khi đó toàn bộ lợi ích từ thơng mại sẽ thuộc về Mỹ.
Khi đó Anh đợc coi là nớc lớn, và Mỹ- là nớc nhỏ. Ngợc lại nếu Mỹ là
nớc lớn, và Anh là nớc nhỏ thì điều kiện thơng mại đúng bằng mức giá
tơng quan của Mỹ, và toàn bộ lợi ích thơng mại sẽ thuộc về Anh, là nớc chỉ
sản xuất một mặt hàng là vải. Nói một cách tổng quát nớc nào có mức sản
lợng nhỏ hơn thì sẽ có xu hớng thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn và
hởng toàn bộ lợi ích từ thơng mại.
Xét về mặt lý thuyết có thể tồn tại trờng hợp ngoại lệ đối với qui luật lợi
thế so sánh. Điều này xảy ra khi lợi thế tuyệt đối (hay mức bất lợi tuyệt đối)
của một quốc gia là nh nhau đối với cả hai mặt hàng. Bảng dới đây minh
họa cho trờng hợp ngoại lệ nh vậy (lao động/sản phẩm).
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
15
Bảng 5 - Trờng hợp lợi thế "cân bằng"
Anh
Mỹ
Thép
5
30
Vải
2
12
Các số liệu trong bảng cho thấy Anh có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt
hàng, nhng năng suất lao động của Anh trong cả hai ngành sản xuất đều gấp 6

hàng hóa tơng quan. Thật vậy, trong ví dụ ở chơng trớc thì để sản xuất
thêm 1 đơn vị vải Anh cần cắt giảm 0.4 đơn vị thép, đúng bằng giá một đơn vị
vải tính theo thép. Tơng tự chi phí cơ hội để sản xuất vải ở Mỹ là 1 vải = 2
thép, cũng đúng bằng mức giá tơng quan giữa hai mặt hàng.
Rõ ràng đối với mặt hàng vải thì Anh có chi phí cơ hội thấp hơn so với Mỹ,
và do đó có lợi thế so sánh về mặt hàng này. Đối với mặt hàng thép thì chi phí
cơ hội ở Anh là 1 thép = 2.5 vải, cao hơn mức ở Mỹ là 1 thép = 0.5 vải, do đó
Mỹ có lợi thế so sánh về thép. Nh vậy kết luận rút ra cũng giống nh những
gì đạt đợc trong mô hình Ricardo. Tuy nhiên xác định lợi thế so sánh dựa vào
khái niệm chi phí cơ hội u việt hơn so với phơng pháp của Ricardo ở chỗ
không cần phải đa ra bất kỳ giả định gì về lao động.
Khái niệm chi phí cơ hội cũng đợc vận dụng trong trờng hợp có mhiều
yếu tố sản xuất. Tuy nhiên khi đó chi phí cơ hội không phải là cố định mà có
xu hớng tăng dần. Trờng hợp có tính thực tế hơn này sẽ đợc xem xét ở các
phần tiếp theo.
2. Chi phí cơ hội tăng dần và đờng giới hạn khả năng sản xuất
Chi phí cơ hội của một mặt hàng là tăng dần nếu nh để sản xuất thêm một
đơn vị mặt hàng đó thì cần phải cắt giảm một số lợng tăng dần các mặt hàng
khác. Trong trờng hợp đó đờng giới hạn khả năng sản xuất sẽ không phải là
một đờng thẳng mà là một đờng cong lồi ra phía ngoài. Hình 2 cho thấy để
sản xuất thêm 1 đơn vị thép thì lợng vải bị cắt giảm ngày càng tăng. Tại sao
lại nh vậy? Lý do là vì tính thích hợp của các yếu tố sản xuất đối với từng
mặt hàng. Một yếu tố sản xuất nào đó có thể đợc sử dụng rất có hiệu quả
trong sản xuất một mặt hàng nhất định, nhng lại tỏ ra kém hiệu quả hoặc hoàn
toàn không có hiệu quả trong sản xuất những mặt hàng khác. Ví dụ, một mảnh
đất có thể rất thích hợp cho việc trồng lúa nhng lại không thích hợp cho việc
trồng chuối, hoặc một nông dân trồng lúa rất giỏi nhng kỹ năng trồng lúa đó
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
17
có thể hoàn toàn vô dụng trong việc làm ra một chiếc ô tô.

nên Mỹ có lợi thế so sánh về mặt hàng này. Ngợc lại Anh có lợi thế so sánh
về mặt hàng vải. Khi đó mỗi nớc sẽ thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt
hàng mà mình có lợi thế so sánh. Mỹ sẽ chuyển một phần nguồn lực từ ngành
vải sang sản xuất thép, do đó sản lợng vải giảm còn sản lợng thép tăng lên.
Điểm sản xuất sẽ di chuyển từ PM xuống dới dọc theo đờng giới hạn khả
năng sản xuất, và nh vậy mức giá tơng quan (chi phí cơ hội) của thép tăng
dần.
Hình 3 - Chi phí cơ hội tăng dần và thơng mại quốc tế
Vải
Mỹ
Vải
Anh
S
C''
M
P'
A
P
M
P'
M
P
A
I
K C''
A
T T
0 Thép 0 Thép
Những gì diễn ra ở Anh là hoàn toàn ngợc lại: điểm sản xuất di chuyển từ
PA lên phía trên dọc theo đờng giới hạn khả năng sản xuất; sản lợng vải gia

sản xuất để làm ra các mặt hàng khác nhau mới là những nhân tố quan trọng
qui định thơng mại. Lý thuyết mà họ xây dựng thờng đợc gọi là lý thuyết
Heckscher-Ohlin (viết tắt là lý thuyết H-O) hay lý thuyết Tân cổ điển về
thơng mại quốc tế.
1. Khái niệm hàm lợng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố
Lý thuyết H-O đợc xây dựng dựa trên hai khái niệm cơ bản là hàm lợng
(hay mức độ sử dụng) các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố.
Một mặt hàng đợc coi là sử dụng nhiều (một cách tơng đối) lao động nếu
tỷ lệ giữa lợng lao động và các yếu tố khác (nh vốn hoặc đất đai) sử dụng để
sản xuất ra một đơn vị mặt hàng đó lớn hơn tỷ lệ tơng ứng các yếu tố đó để
sản xuất ra một đơn vị mặt hàng thứ hai. Tơng tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và các
yếu tố khác là lớn hơn thì mặt hàng đợc coi là có hàm lợng vốn cao. Chẳng
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
20
hạn, mặt hàng X đợc coi là có hàm lợng lao động cao nếu:
L
X
L
Y
K
X
K
Y
trong đó: L
X
và L
Y
là lợng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và
Y, còn K
X

=
>
=
=
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
21
Tổng số lao động của Mỹ 1500 Tổng số lao động của Anh 200
Lúc đó theo lý thuyết H-O, Anh sẽ sản xuất và xuất khẩu vải, là mặt hàng
cần nhiều lao động, còn Mỹ sẽ sản xuất và xuất khẩu thép - là mặt hàng cần
nhiều vốn. Lu ý rằng trong các bất đẳng thức ở trên, điều quan trọng không
phải là con số tuyệt đối về vốn hay lao động mà là mức cung tơng quan của
các yếu tố đó: Anh có số lao động ít hơn so với Mỹ nhng số lao động chia
bình quân cho mỗi chiếc máy ở Anh lại cao hơn hơn so với ở Mỹ, cho nên Anh
là nớc dồi dào tơng đối về lao động.
Dựa trên lý thuyết H-O thì có thể hình dung rằng những nớc giàu tài
nguyên thiên nhiên sẽ là những nớc xuất khẩu chúng trên thị trờng thế giới.
Chẳng hạn nh Arập Xêút xuất khẩu dầu lửa, Zambia xuất khẩu đồng, Jamaica
xuất khẩu quặng bô xít v.v Những nớc có nguồn nhân công lớn và tơng đối
rẻ thì sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng chế biến sử dụng
nhiều lao động.
Lý thuyết H-O đợc xây dựng dựa trên một loạt các giả thiết đơn giản sau
đây:
Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất (lao động và vốn), và 2
mặt hàng;
Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa hai quốc gia;
Sản xuất mỗi mặt hàng có hiệu suất không đổi theo qui mô, còn mỗi
yếu tố sản xuất thì có năng suất cận biên giảm dần;
Hàng hóa khác nhau về hàm lợng các yếu tố sản xuất, và không có sự
hoán vị về hàm lợng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tơng
quan nào;

A
0
C
A
K I
2
C
M
I
1
M
0
I
0
L M
1
0 Thép
Khi thơng mại tự do đợc tiến hành, giá thép sẽ tăng ở Mỹ và giảm ở Anh,
còn giá vải sẽ tăng ở Anh và giảm ở Mỹ. Quá trình chuyên môn hóa sản xuất
và trao đổi đợc tiếp tục cho đến khi Anh đạt tới điểm sản xuất mới là A
1
, còn
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
23
Mỹ - tới M
1
, tại đó mức giá tơng quan giữa thép và vải ở hai nớc trở nên cân
bằng. Anh tiêu dùng tại C
A
, còn Mỹ - tại C

1
.
3. Các mệnh đề khác của lý thuyết H-O
Trên cơ sở các giả thiết đơn giản ở trên, ngoài định lý H-O còn có thể rút ra
một số mệnh đề bổ sung khác liên quan đến mối liên hệ giữa mức độ trang bị
các yếu tố, thơng mại quốc tế, giá cả hàng hóa và giá cả các yếu tố, tác động
của sự gia tăng mức cung các yếu tố, và vấn đề phân phối thu nhập.
Định lý cân bằng giá cả yếu tố sản xuất
:
Thơng mại tự do sẽ làm cho giá
cả các yếu tố sản xuất có xu hớng trở nên cân bằng, và nếu hai quốc gia tiếp
tục sản xuất cả hai mặt hàng (tức thực hiện chuyên môn hóa không hoàn toàn)
thì giá cả các yếu tố sẽ thực sự trở nên cân bằng.
Định lý này cũng phản ánh đợc điều cốt lõi trong lý thuyết H-O: thơng
mại đợc hình thành trên cơ sở có sự khác biệt giữa các quốc gia về mức độ
trang bị các yếu tố bởi vì cácyếu tố không thể di chuyển đợc từ quốc gia này
sang quốc gia khác. Giả sử hai quốc gia buôn bán tự do với nhau và thực hiện
chuyên môn hóa không hoàn toàn, cho nên giá cả các yếu tố đợc cân bằng.
Nếu nh có sự đột biến nào đó khiến cho lao động và vốn di chuyển tự do giữa
hai quốc gia thì sẽ chẳng có điều gì xảy ra. Với giá cả nh nhau thì sẽ chẳng
có động lực gì đối với các yếu tố để di chuyển từ quốc gia này dến quốc gia
khác. Nh vậy thơng mại hàng hóa tự do có thể thay thế hoàn toàn cho sự di
chuyển quốc tế các yếu tố trong trờng hợp chuyên môn hóa không hoàn toàn.
Còn nếu giá cả các yếu tố không hoàn toàn cân bằng do hai quốc gia thực hiện
chuyên môn hóa hoàn toàn thì thơng mại hàng hóa chỉ thay thế một phần cho
sự di chuyển các yếu tố.
Hieule_vcu K44F4 [H]ieu[L]ee
24
Định lý Rybczynski
: T


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status