LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN
Giáo viên hướng dẫn : Khu Thị Tuyết Mai
Sinh viên thực hành :
MỤC LỤC
Mục lục....................................................................................................1
Lời mở đầu...............................................................................................3
Chương 1: Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO
1.1Sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO..............................5
1.1.1Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT- tổ chức tiền thân
của WTO.....................................................................…..5
1.1.2Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO........................12
1.2 Mục tiêu,chức năng và các nguyên tắc của WTO...................……. 18
Chương 2:Tác động của WTO đối với các nước đang phát triển
2.1 Những ảnh hưởng của WTO đến các nước đang phát triển..........
2.1.1 Những ảnh hưởng tích cực......................................................
2.1.2 Những ảnh hưởng tiêu cực.....................................................
2.2 Những cơ hội và thách thức đặt ra với các nước đang phát
triển trong quá trình thực hiện một số Hiêp định của WTO.
2.2.1 Hiệp đinh về tự do hàng nông sản..........................................
2.2.2 Hiệp định hàng dệt may.......................................................
GATT : General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại .
GDP : gross domestic product - Tổng thu nhập quốc dân .
IMF :International Monetery Fund - Quỹ tiền tệ Quốc tế.
ITO : International Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới.
MFA :Multifibre Arrangement - Hiệp định đa sợi .
MFN : most-favored nation - Đối xử tối huệ quốc .
NT : Nation Treatment -Đãi ngộ quốc gia .
TRIMS : trade - related investment measures - Các biện pháp đầu tư liên
quan đến thương mại .
TRIPS : trade - related intellectual propecty rights - Khía cạnh về quyền
sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại .
UNCTAD :United Nations Conference on Trade and Development -
WTO :World Trade Organization - Tổ chức thương mại quốc tế .
3
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) kế
thừa Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt động từ
1/1/1995 nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thông thương mại
đa biên, đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các rào cản trong
thương mại quốc tế. Từ đó cho đến nay, WTO đã không ngừng mở rộng cả vế quy
mô lẫn phạm vi hoạt động của mình, đã thực sự khẳng định được vai trò quan
trọng của mình trong quá trình tự do hoá thương mại quốc tế.
Cùng với hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, các Hiệp định của mình,WTO đã
tạo ra một hành lang pháp lý để từ đó các nước có thể đẩy nhanh tiến hành tiến
trình toàn cầu hoá, tự do thương mại, đồng thời tiếp nhận những cơ hội thuận lợi
để phát triển nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, hoạt động của WTO cùng với hệ
thông các nguyên tắc và hiệp định của mình không phải lúc nào cũng có lợi và
đảm bảo được sự công bằng cho các nước thành viên, đặc biệt là đối với các nước
Ý tưởng ban đầu của các nước là thành lập một tổ chức thứ ba cùng với hai tổ
chức được biết đến là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quĩ tiền tệ Quốc tế
(IMF) nhằm giải quyết các vấn đề hợp tác kinh tế quốc tế trong hệ thống "Bretton
Woods", hình thành các nguyên tắc thế lệ cho thương mại quốc tế, điều tiết các
lĩnh vực về thương mại hàng hoá, công ăn việc làm, hạn chế và khắc phục tình
trạng hạn chế, ràng buộc thương mại phát triển. Vì vậy kế hoạch đầy đủ được trên
50 nước lúc đó dự định là thiết lập tổ chức thương mại thế giới (ITO) như là một
tổ chức chuyên ngành của Liên hợp quốc (UN). Dự thảo hiến chương ITO rất
tham vọng, dự thảo này đã tiến xa hơn các nguyên tắc về thương mại gồm các lĩnh
vực như lao động, hiệp định hàng hoá, thực tiễn hạn chế kinh doanh, đầu tư quốc
tế và dịch vụ.
Trước khi hiến chương ITO được phê chuẩn, 23 trong số 50 nước đã cùng
nhau tiến hành các cuộc đàm phám vế thuế quan xử lý các biện pháp bảo hộ mậu
dịch đang được áp dụng và duy trì trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30.
Các nước này mong muốn nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch, khôi phục
lại nền kinh tế bị phá huỷ nặng nề sau chiến tranh thế giới thứ II.
5
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại thế giới đã được thoả thuận tại
Hội nghị Liên hợp Quốc tế về thương mại và việc làm tại Havana từ 11/1947 đến
24/3/1948, nhưng do một số nước không tán thành nên việc hình thành tổ chức
thương mại thế giới (ITO) đã không thực hiện được. Tuy nhiên kết quả của cuộc
đàm phán cũng đem lại sự thành công nhất định; đã có 45000 nhượng bộ về thuế
quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỉ $, tức là gần 1/5 tổng
thương mại trên thế giới. 23 nước này đều cùng nhất trí chấp nhận ủng hộ một số
quy định trong hiến chương của ITO. Các quy định này sẽ được thực hiện hết sức
nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ được thành quả của những cam
kết thuế quan đã được đàm phán. Kết hợp của những qui định thương mại và cam
kết thuế quan được biết đến dưới tên gọi Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 11/1/1948. 23 nước
123
Trong các vòng đàm phán thương mại đầu tiên của GATT chủ yếu tập trung
vào việc cắt giảm thuế quan hơn nữa. Đến vòng Kenedy, nội dung của các vòng
đàm phán đã được mở rộng: đưa ra đàm phàn về hiệp định chống bán phá giá, số
nước tham gia là 62 nước. Tiếp theo là vòng đàm phán Tokyo, kéo dài từ năm
1973 đến năm 1979 với sự tham gia của 102 nước. Kết quả vòng đàm phán này
bao gồm 9 thị trường công nghiệp hàng đầu trên thế giới cắt giảm trung bình 1/3
mức thuế quan và do đó mức thuế trung bình đối với hàng nông sản giảm xuống ở
mức 47%. Việc cắt giảm thuế quan sẽ được thực hiện trong vòng 8 năm bao gồm
cả vấn đề điều hoà thuế - thuế càng cao thì cắt giảm càng lớn theo tỷ lệ.
Tuy nhiên, bên cạnh các vấn đề có kết quả như trên thì đối với các vấn đề khác
kết quả của vòng đàm phán Tokyo là không mấy hoàn hảo. Vòng đàm phán này đã
thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề liên quan đến thương mại hàng nông
sản, không đưa ra được hiệp định mới về các biện pháp tự vệ (biện pháp khẩn cấp
7
đối với hàng nhập khẩu). Mặc dù vậy, đã có nhiều hiệp định về hàng rào phi quan
thuế đã xuất hiện tại vòng đàm phán này (một vài hiệp định mới hoàn toàn, một
vài hiệp định tiếp tục bổ sung thêm từ các qui dịnh của GATT). Trong phần lớn
các trường hợp thì chỉ có một số nước rất nhỏ, chủ yếu là các nước công nghiệp
phát triển chấp nhận tham gia vào các hiêp định mới này vì họ là những người
được lợi ích nhiều nhất. Do đó, các hiệp định này chỉ được gọi là "hệ thống qui
tắc". Những qui tắc này không mang tính chất đa biên, nhưng đây là một bước
khởi đầu mới.
Các "hệ thống qui tắc" của vòng Tokyo:
+ Trợ cấp và các biện pháp đổi kháng - diễn giải điều 6.16 và 23 hiệp định
GATT.
+ Các hàng rào kỹ thuật đổi với thương mại - còn được gọi là: Hiệp định về
tiêu chuẩn.
việc chính phủ các nước đã tiến hành điều chỉnh các hình thức bảo hộ đối với các
lĩnh vực đang phải cạnh tranh với nước ngoài nhằm có thể giữ được ổn định cho
nền kinh tế của họ.
Tỷ lệ thất nghiệp cao cộng với việc phải đóng cửa liên tục nhiều nhà máy đã
buộc chính phủ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ phải đi đến thoả thuận song phương
về chia sẻ thị trường với các nhà cạnh tranh và ngày càng tăng dần mức độ trợ cấp
nhằm duy trì được vị trí của mình, nhất là trong thương maị hàng nông sản. Những
thay đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị của việc giảm thuế quan
đã mang lại cho thương mại quốc tế, vì vậy hiệu quả và độ tin cậy của GATT bị
suy giảm.
Thứ hai, đến thập niên 80 thì Hiệp định chung không còn đáp ứng được những
yêu cầu thực tiễn của thương mại quốc tế như ở thập niên 40 nữa. Ít nhất thì hệ
thống thương mại thế giới đã trở nên phức tạp, đa dạng và quan trọng hơn rất
nhiều so với 40 năm trước. Phần lớn GATT chỉ điều tiết thương mại hàng hoá hữu
hình nhưng ngày nay nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá mạnh
mẽ, thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, thương mại dịch vụ - lĩnh vực
không được hiệp định GATT điều chỉnh đã trở thành lợi ích cơ bản của ngày càng
nhiều nước. Từ ngân hàng, bảo hiểm, vận tải biển, tư vấn ... đã phát triển không
9
ngừng; đầu tư quốc tế cũng được mở rộng. Thương mại dịch vụ phát triển cũng
kéo theo sự gia tăng hơn nữa của thương mại hàng hoá.
Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá GATT cũng còn
nhiều bất cập, ví dụ đối với lĩnh vực nông nghiệp, những lỗ hổng của hệ thống
thương mại đa biên đã bị lợi dụng triệt để và mọi nỗ lực nhằm tự do hoá hàng
nông sản đã không đạt được thành công. Trong lĩnh vực hàng dệt may cũng vậy,
các nước đã cùng nhau miễn trừ các nguyên tắc của GATT và đưa ra một hiệp
định mới là Hiệp định đa sợi.
Thứ tư, cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng gây ra
nhiều lo ngại. GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia không mang tính chất bắt
Tháng 12/93 Geneva: Phần lớn các cuộc đàm phán kết thúc (một số cuộc thương
thảo về mở cửa thị trường được tiếp tục).
Tháng 4/94 Marrakesh: Các hiệp định được ký.
Tháng 1/95 Geneva: WTO được thành lập và các hiệp định bắt đầu có hiệu lực.
Mặc dù tại một số thời điểm, vòng đàm phán có vẻ như thất bại, nhưng cuối
cùng vòng Uruguay đã đem lại sự cải tổ lớn nhất từ trước tới nay đối với hệ thống
thương mại quốc tế.
Cơ sở cho chương trình nghị sự của vòng đàm phán Uruguay đã được khởi đầu
ngay từ tháng 11 năm 1982 tại Geneva, tuy nhiên phải mất đến 4 năm để thăm dò
làm rõ các vấn đề và xây dựng sự nhất trí thì các bộ trưởng mới đi đến thống nhất
trong việc đưa ra 1 vòng đàm phán mới. Cuộc đàm phán được bắt đầu tại Punta
del Este Uruguay (1986). Chương trình đàm phán bao gồm hầu hết các vấn đề
chính sách thương mại còn chưa được điều chỉnh, nhằm mở rộng hệ thống thương
mại đa biên sang một số lĩnh vực mới. Trong đó, quan trọng nhất là: dịch vụ, sở
hữu trí tuệ và cải tổ hệ thống thương mại trong một số lĩnh vực có tính nhạy cảm
cao như hàng nông sản và hàng dệt may, mọi nguyên tắc về điều khoản ban đầu
của GATT đều được rà soát lại.
Hai năm sau đó, vào tháng 12 năm 1988, các Bộ trưởng gặp nhau tại Montreal,
Canada nhằm mục đích kiểm điểm lại những tiến triển tại thời điểm giữa vòng
đàm phán, bên cạnh đó tiếp tục đề ra mục tiêu cho các cuộc đàm phán tiếp theo.
Tuy nhiên, đàm phán đã đi đến bế tắc. Mọi vấn đề chỉ được giải quyết tại hội nghị
ở Geneva 4 năm sau đó. Mặc dù gặp phải nhiều khó khăn, tại hội nghị Montreal
11
các vị bộ trưởng đều thống nhất thông qua hầu hết các kết quả ban đầu gồm : các
nhượng bộ mở cửa thị trường cho hàng nhiệt đới nhằm mục đích giúp đỡ các nước
đang phát triển; cơ chế giải quyết tranh chấp được đơn giản hóa và một cơ chế rà
soát chính sách thương mại. Từ trước đến nay, đây là lần đầu tiên đưa ra được một
cơ chế thường xuyên, mang tính hệ thống và toàn diện để rà soát chính sách và
thực hành thương mại đối với các nước thành viên của GATT. Vòng đàm phán
kết tại vòng đàm phàn Uruguay bắt đầu có hiệu lực.
Nhìn chung tại một số thời điểm, vòng Uruguay có vẻ như đã thất bại, tuy
nhiên cuối cùng thì vòng Uruguay đã đem lại sự cải tổ lớn nhất, là bước tiến quan
trọng nhất đối với hệ thống thương mại thế giới kể từ ngày GATT được thành lập
sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Mặc dù còn gặp phải nhiều vấn đề, vòng
Uruguay đã đem lại một số kết quả ngay từ những ngày đầu: Trong vòng 2 năm
các nước tham dự đã nhất trí cắt giảm thuế nhập khẩu với hàng nhiệt đới - những
sản phẩm chủ yếu do các nước đang phát triển xuất khẩu. Các nước cũng đã nhất
trí điều chỉnh các qui định về giải quyết tranh chấp, trong đó một số biện pháp đã
được thực hiện ngay lập tức. Các nước cũng yêu cầu cần có báo cáo thường xuyên
về hệ thống chính sách thương mại của các nước thành viên, đây là một bước tiến
hết sức quan trọng nhằm làm minh bạch hóa hệ thống chính sách của các nước
trên thế giới.
Với kết quả của vòng đàm phán Uruguay người ta ước tính thuế quan nói
chung sẽ giảm đi trung bình khoảng 40%. Dự kiến Mĩ sẽ giảm 35%, Canada 45%,
ấn Độ 55%, Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) 41%, Đài Loan giảm khoảng 30 - 50%
cho hàng công nghiệp và nông sản. Với mức thuế hàng nông sản nói riêng, trong
vòng 6 năm tới tính từ năm 1995 sẽ giảm 36% và mức trợ cấp gây phương hại cho
thương mại bình đẳng cũng sẽ giảm 20%. Do đó, người ta dự đoán rằng từ năm
1995 đến năm 2002, buôn bán quốc tế sẽ tăng thêm từ 213 - 272 tỷ đô la mỗi năm,
xuất khẩu thế giới mỗi năm tăng 5% nhập khẩu tăng 3,5%.
* Chương trình nghị sự : 15 chủ đề tại vòng đàm phán Uruguay
+ Thuế quan
+ Hàng rào phi thuế quan
+ Sản phẩm tài nguyên thiên nhiên
13
+ Hàng dệt may
+ Nông nghiệp
+ Sản phẩm nhiệt đới
như hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS); hiệp định về quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS). WTO đã đưa 3 hiệp định này vào
chung một tổ chức.
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính tự động và nhanh hơn so
với cơ chế của GATT. Đây là đóng góp lớn nhất của WTO đối với hệ thống
thương mại thế giới.
Trước đây việc giải quyết tranh chấp giữa các nước ký kết GATT được dựa
vào hai cơ chế chủ yếu :
+ Theo điều khoản tham vấn và điều khoản Bảo vệ các ưu đãi và lợi ích.
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của mỗi hiệp định đa phương.
Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn bị những hạn chế :
+ Các nghị quyết đạt được không giải quyết được những tranh chấp phát
sinh, thường dẫn đến việc các bên thương lượng hoà giải là chính.
+ Hệ thống giải quyết tranh chấp không mang tính tự động do vậy bên bị
kiện có thể dễ dàng gây khó khăn để ngăn cản một nhóm chuyên trách (Ban hội
thẩm) tiến hành hoạt động của mình.
+ Thời hạn tiến hành qui trình giải quyết tranh chấp quá dài.
+ Hệ thống không có cơ chế bảo đảm cho các nghị quyết được thực hiện.
Những khiếm khuyết trên làm giảm bớt những giá trị của tự do hoá thương
mại mà hệ thống thương maị đa phương đem lại các nước đã vấp phải nhiều khó
khăn trong việc giải quyết tranh chấp với các đối tác mạnh hơn mình.
Đối với WTO, tổ chức thương mại thế giới đã đưa ra được một cơ chế giải
quyết tranh chấp hoàn chỉnh hơn, cho phép các mối quan hệ trong thương mại
quốc tế được giải quyết một cách công bằng hơn, hạn chế được những hành động
đơn phương, độc đoán của các cường quốc thương mại, cho phép nhanh chóng
tháo gỡ những ách tắc thường xảy ra và khó giải quyết trước đây. Các thủ tục của
WTO dựa trên qui định luật pháp và giúp cho hệ thống thương mại an toàn và dễ
dự báo hơn. Hệ thống này dựa trên các qui tắc được xác định rõ ràng với cả biểu
thời gian để hoàn thành một vụ tranh chấp. Một nhóm chuyên gia sẽ được thành
nhất. Mặc dù các thoả thuận đạt được là do các chính phủ đàm phán và ký kết
16
nhưng mục đích lại nhằm giúp các nhà sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ
trong nước; các nhà hoạt động xuất nhập khẩu có thể tiến hành các hoạt động kinh
doanh dễ dàng hơn.
1.2.1. Mục tiêu :
Mục tiêu chính của hệ thống thương mại thế giới là nhằm giúp thương mại
được lưu chuyển tự do ở mức tối đa, chừng nào nó còn nằm trong giới hạn không
gây ra các ảnh hưởng xấu không muốn có.
Ngoài ra, WTO còn có những mục tiêu sau:
+ Nâng cao mức sống của con người.
+ Bảo đảm tạo đầy đủ công ăn việc làm, tăng trưởng vững chắc thu nhập và nhu
cầu thực tế của người lao động.
+ Phát triển việc sử dụng hợp lý của người lao động.
+ Phát triển việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của thế giới .
+ Mở rộng việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới.
1.2.2 Chức năng của WTO.
WTO có những chức năng sau đây:
Chức năng thứ nhất của WTO: Là tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên
mà nội dung của nó rất đa dạng đề cập lớn tới nhiều lĩnh vực khác nhau. Thông
qua các cuộc đàm phán như vậy, việc tự do hoá mậu dịch của các nước trên thế
giới được phát triển, đồng thời những qui tắc quốc tế mới cũng được xây dựng và
sửa đổi theo yêu cầu của thời đại.
Chức năng thứ hai của WTO: Là một luật lệ quốc tế chung được các nước thành
viên cùng nhau ký kết. WTO đề ra những qui tắc quốc tế về thương mại và đảm
bảo các nước thành viên của WTO phải thực hiện các nguyên tắc đó. Đặc trưng
của các quyết định và qui tắc của WTO là nó có hiệu lực bắt buộc tất cả các thành
viên và có khả năng làm cho mọi thành viên có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện.
Bất cứ một nước thành viên nào một khi đã thừa nhận "hiệp định WTO" và những
Nguyên tắc thứ nhất: Là thương mại không phân biệt đối xử. Nguyên tắc này
được áp dụng bằng hai loại đãi ngộ song song, đó là đãi ngộ tối huệ quốc và đối
xử quốc gia.
18
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): đối xử mọi người bình đẳng như
nhau. Theo qui định của các hiệp định WTO, nguyên tắc này được áp dụng như
sau: Mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với nhau như là các
bạn hàng được ưu đãi nhất. Nếu như một nước cho một nước khác được hưởng lợi
nhiều hơn thì đối xử "tốt nhất" đó phải được giành cho tất cả các nước thành viên
WTO khác để các nước khác vẫn tiếp tục có được đối xử tối huệ quốc. Nguyên tắc
MFN đảm bảo rằng mỗi thành viên WTO đối xử trên 140 thành viên khác tương
tự nhau.
Nguyên tắc này rất quan trọng vì vậy nó được ghi nhận tại điều đầu tiên của
hiệp định chung về quan thuế và thương mại GATT về thương mại hàng hoá.
Nguyên tắc MFN cũng được đề cao trong hiệp định chung về dịch vụ GATS, hiệp
định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại TRIMs tuy có khác nhau
một ít ở từng hiệp định.
Đối xử quốc gia (NT): đối xử người nước ngoài và người trong nước như
nhau. Hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước phải được đối xử như nhau, ít
nhất là sau khi hàng hoá nhập khẩu đã đi vào đến thì trường nội địa. Theo nguyên
tắc này, khi áp dụng những qui chế trong nước và thuế nội địa đối với hàng nhập
khẩu thì phải cung cấp các điều kiện tương tự như đối với sản phẩm trong nước.
Vì thế các thành viên của WTO không được áp dụng thuế nội địa để bảo vệ sản
xuất trong nước và không được phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu từ các
nước thành viên WTO khác.
Nguyên tắc này cũng áp dụng cho dịch vụ nhãn hiệu thương mại, bản quyền
và quyền phát minh sáng chế trong nước và của nước ngoài. Đối xử quốc gia chỉ
áp dụng được khi hàng háo dịch vụ và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đã vào
đến thị trường. Vì vậy, việc đánh thuế nhập khẩu hàng hoá không vi phạm nguyên
bồi thường cho khối lượng thương mại đã bị mất. Qua vòng đàm phán Uruguay,
một khối lượng thương mại lớn được hưởng cam kết về ràng buộc thuế. Tính riêng
trong lĩnh vực hàng nông sản 100% sản phẩm đã được ràng buộc thuế. Kết quả là
WTO đã tạo được sự đảm bảo cao hơn cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
Nguyên tắc thứ năm: Các thoả thuận thương mại khu vực. WTO thừa nhận
các thoả thuận thương mại khu vực nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do hoá thương
mại. Các liên kết như vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc
20
theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo thuận
lợi cho thương mại các nước liên quan song không làm tăng hàng rào cản trở
thương mại với các nước ngoài liên kết.
Nguyên tắc thứ sáu: Các điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát triển.
WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nước thành viên là các nước đang
phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, vì thế một trong những nguyên tắc
cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt
và khác biệt cho các nước này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của
họ vào hệ thống thương mại đa biên. Để thực hiện được nguyên tắc này, WTO
dành cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi những linh
hoạt và các ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến
việc trợ giúp kỹ thuật cho các nước này. 21
CHƯƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA WTO ĐẾN CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
2.1. Những ảnh hưởng của WTO đối với các nước đang phát triển.
2.1.1. Những ảnh hưởng tích cực.
Tổ chức thương mại thế giới WTO là một tổ chức quốc tế, điều tiết hệ thống
thương mại đa biên, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới
vụ được mở rộng. Các nước đang phát triển đã và sẽ tập trung chuyên môn hoá các
mặt hàng mà mình có lợi thế, nhằm thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Thứ ba, sản xuất trong nước được chú trọng và thu hút được nhiều lao động,
tạo được nhiều công ăn việc làm hơn cho người dân, đặc biệt là trong những ngành
nghề sản xuất phục vụ xuất khẩu làm tăng nhanh sự tăng trưởng của nền kinh tế và
xã hội của nước đó.
Thứ tư, là thành viên của WTO, có nghĩa là các nước đã tạo dựng được một
môi trường kinh tế, chính trị ổn định, tạo được sự tín nhiệm của các nước trên thế
giới. Chính vì vậy, các nước đang phát triển có thể mở rộng được thị phần của
mình trên thị trường quốc tế, giành được nhiều ưu đãi thương mại tạo được cho
mình lợi thế kinh tế chính trị, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của nước
ngoài.
Thứ năm, các quan hệ kinh tế, văn hoá, chính trị với các nước thành viên được
mở rộng, tiếp thu được nhiều kinh nghiệm tốt trong quản kí kinh tế, xã hội, khoa
học kĩ thuật, tiếp cận được các thành tựu KHKT tiên tiến trên thế giới, cũng như
tiếp thu được các lối sống văn hoá của các nền văn minh khác nhau trên thế giới.
Thứ sáu, hoạt động của WTO khiến cho cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên
gay gắt, do đó các doanh nghiệp của các nước đang phát triển buộc phải tìm tòi,
khắc phục những hạn chế của mình, đồng thời áp dụng công nghệ mới phát triển
bền vững hoạt động sản xuất kinh doanh, tích tụ được nhiều nguồn lực để có thể
nâng cao khả năng cạnh tranh tích cực trong nước thúc đẩy nền kinh tế phát triển
và có đủ năng lực canh tranh được với nước ngoài, thích ứng với xu hướng toàn
cầu hoá hiện nay. Cạnh tranh với bất cứ bản chất nào thì cũng khiến cho các nước
đang phát triển có tầm nhìn tốt hơn, tiếp cận được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của
các nước phát triển, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp nội địa cải tiến và chấp
23
nhận các tiêu chuẩn giám sát quốc tế tốt nhất, kiểm soát được rủi ro và thúc đẩy
sản xuất kinh doanh phát triển.
Thứ bẩy, vấn đề di chuyển lao động giữa các nước thành viên đã trở nên dễ