DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AoA : Agreement on Agricultural - Hiệp định Nông nghiệp
ATC : Agreement on Texitiles and Clothing of the WTO - Hiệp định hàng
dệt may.
GATS : General Agreement on Trade in Services - Hiệp định chung về
thương mại và dịch vụ.
GATT : General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp định chung về thuế
quan và thương mại.
GDP : gross domestic product - Tổng thu nhập quốc dân.
IMF : International Monetery Fund - Quỹ tiền tệ Quốc tế.
ITO : International Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới.
MFA : Multifibre Arrangement - Hiệp định đa sợi.
MFN : Most-favored nation - Đối xử tối huệ quốc.
NT : Nation Treatment -Đãi ngộ quốc gia.
TRIMS : Trade - related investment measures - Các biện pháp đầu tư liên
quan đến thương mại.
TRIPS : Trade - related intellectual propecty rights - Khía cạnh về quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến thương mại.
UNCTAD : United Nations Conference on Trade and Development -
WTO : World Trade Organization - Tổ chức thương mại quốc tế.
1
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) kế thừa Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt
động từ 1/1/1995 nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thông
thương mại đa biên, đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các
rào cản trong thương mại quốc tế. Từ đó cho đến nay, WTO đã không ngừng mở
rộng cả vế quy mô lẫn phạm vi hoạt động của mình, đã thực sự khẳng định được
vai trò quan trọng của mình trong quá trình tự do hoá thương mại quốc tế.
Cùng với hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, các Hiệp định của mình,WTO
đã tạo ra một hành lang pháp lý để từ đó các nước có thể đẩy nhanh tiến hành
Quốc tế (IMF) nhằm giải quyết các vấn đề hợp tác kinh tế quốc tế trong hệ
thống "Bretton Woods", hình thành các nguyên tắc thế lệ cho thương mại quốc
tế, điều tiết các lĩnh vực về thương mại hàng hoá, công ăn việc làm, hạn chế và
khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc thương mại phát triển. Vì vậy kế hoạch
đầy đủ được trên 50 nước lúc đó dự định là thiết lập tổ chức thương mại thế giới
(ITO) như là một tổ chức chuyên ngành của Liên hợp quốc (UN). Dự thảo hiến
chương ITO rất tham vọng, dự thảo này đã tiến xa hơn các nguyên tắc về thương
mại gồm các lĩnh vực như lao động, hiệp định hàng hoá, thực tiễn hạn chế kinh
doanh, đầu tư quốc tế và dịch vụ.
Trước khi hiến chương ITO được phê chuẩn, 23 trong số 50 nước đã cùng
nhau tiến hành các cuộc đàm phám vế thuế quan xử lý các biện pháp bảo hộ mậu
dịch đang được áp dụng và duy trì trong thương mại quốc tế từ đầu những năm
30. Các nước này mong muốn nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch, khôi
phục lại nền kinh tế bị phá huỷ nặng nề sau chiến tranh thế giới thứ II.
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại thế giới đã được thoả thuận
tại Hội nghị Liên hợp Quốc tế về thương mại và việc làm tại Havana từ 11/1947
3
đến 24/3/1948, nhưng do một số nước không tán thành nên việc hình thành tổ
chức thương mại thế giới (ITO) đã không thực hiện được. Tuy nhiên kết quả của
cuộc đàm phán cũng đem lại sự thành công nhất định; đã có 45000 nhượng bộ
về thuế quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỉ $, tức là gần
1/5 tổng thương mại trên thế giới. 23 nước này đều cùng nhất trí chấp nhận ủng
hộ một số quy định trong hiến chương của ITO. Các quy định này sẽ được thực
hiện hết sức nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ được thành quả
của những cam kết thuế quan đã được đàm phán. Kết hợp của những qui định
thương mại và cam kết thuế quan được biết đến dưới tên gọi Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại (GATT). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày
11/1/1948. 23 nước tham gia trở thành những thành viên sáng lập GATT, hay
còn gọi là "các bên tham gia hiệp định". Mặc dù GATT chỉ mang tính tạm thời
nhưng đây vẫn là công cụ duy nhất mang tính đa biên điều tiết thương mại thế
Trong các vòng đàm phán thương mại đầu tiên của GATT chủ yếu tập
trung vào việc cắt giảm thuế quan hơn nữa. Đến vòng Kenedy, nội dung của các
vòng đàm phán đã được mở rộng: đưa ra đàm phàn về hiệp định chống bán phá
giá, số nước tham gia là 62 nước. Tiếp theo là vòng đàm phán Tokyo, kéo dài từ
năm 1973 đến năm 1979 với sự tham gia của 102 nước. Kết quả vòng đàm phán
này bao gồm 9 thị trường công nghiệp hàng đầu trên thế giới cắt giảm trung bình
1/3 mức thuế quan và do đó mức thuế trung bình đối với hàng nông sản giảm
xuống ở mức 47%. Việc cắt giảm thuế quan sẽ được thực hiện trong vòng 8 năm
bao gồm cả vấn đề điều hoà thuế - thuế càng cao thì cắt giảm càng lớn theo tỷ lệ.
5
Tuy nhiên, bên cạnh các vấn đề có kết quả như trên thì đối với các vấn đề
khác kết quả của vòng đàm phán Tokyo là không mấy hoàn hảo. Vòng đàm
phán này đã thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề liên quan đến thương
mại hàng nông sản, không đưa ra được hiệp định mới về các biện pháp tự vệ
(biện pháp khẩn cấp đối với hàng nhập khẩu). Mặc dù vậy, đã có nhiều hiệp
định về hàng rào phi quan thuế đã xuất hiện tại vòng đàm phán này (một vài
hiệp định mới hoàn toàn, một vài hiệp định tiếp tục bổ sung thêm từ các qui dịnh
của GATT). Trong phần lớn các trường hợp thì chỉ có một số nước rất nhỏ, chủ
yếu là các nước công nghiệp phát triển chấp nhận tham gia vào các hiêp định
mới này vì họ là những người được lợi ích nhiều nhất. Do đó, các hiệp định này
chỉ được gọi là "hệ thống qui tắc". Những qui tắc này không mang tính chất đa
biên, nhưng đây là một bước khởi đầu mới.
Các "hệ thống qui tắc" của vòng Tokyo:
+ Trợ cấp và các biện pháp đổi kháng - diễn giải điều 6.16 và 23 hiệp định
GATT.
+ Các hàng rào kỹ thuật đổi với thương mại - còn được gọi là: Hiệp định
về tiêu chuẩn.
+ Các thủ tục cấp phép nhập khẩu.
+ Mua sắm chính phủ.
+ Định giá hải quan - diễn giải điều 7.
máy đã buộc chính phủ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ phải đi đến thoả thuận song
phương về chia sẻ thị trường với các nhà cạnh tranh và ngày càng tăng dần mức
độ trợ cấp nhằm duy trì được vị trí của mình, nhất là trong thương maị hàng
nông sản. Những thay đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị của
việc giảm thuế quan đã mang lại cho thương mại quốc tế, vì vậy hiệu quả và độ
tin cậy của GATT bị suy giảm.
Thứ hai, đến thập niên 80 thì Hiệp định chung không còn đáp ứng được
những yêu cầu thực tiễn của thương mại quốc tế như ở thập niên 40 nữa. Ít nhất
7
thì hệ thống thương mại thế giới đã trở nên phức tạp, đa dạng và quan trọng hơn
rất nhiều so với 40 năm trước. Phần lớn GATT chỉ điều tiết thương mại hàng
hoá hữu hình nhưng ngày nay nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu
hoá mạnh mẽ, thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, thương mại dịch
vụ - lĩnh vực không được hiệp định GATT điều chỉnh đã trở thành lợi ích cơ bản
của ngày càng nhiều nước. Từ ngân hàng, bảo hiểm, vận tải biển, tư vấn ... đã
phát triển không ngừng; đầu tư quốc tế cũng được mở rộng. Thương mại dịch vụ
phát triển cũng kéo theo sự gia tăng hơn nữa của thương mại hàng hoá.
Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá GATT cũng còn
nhiều bất cập, ví dụ đối với lĩnh vực nông nghiệp, những lỗ hổng của hệ thống
thương mại đa biên đã bị lợi dụng triệt để và mọi nỗ lực nhằm tự do hoá hàng
nông sản đã không đạt được thành công. Trong lĩnh vực hàng dệt may cũng vậy,
các nước đã cùng nhau miễn trừ các nguyên tắc của GATT và đưa ra một hiệp
định mới là Hiệp định đa sợi.
Thứ tư, cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng
gây ra nhiều lo ngại. GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia không mang tính
chất bắt buộc do vậy các nước có thể tuân theo và cũng có thể không. Bên cạnh
đó, thương mại quốc tế trong những năm 80 trở đi đòi hỏi phải có một tổ chức
cố định, có nền tảng pháp lý vững chắc để có thể đảm bảo thực thi các quy định,
các nguyên tắc chung của thương mại quốc tế. Về hệ thống các quy chế giải
quyết tranh chấp, GATT cũng chưa có cơ chế chặt chẽ, chưa có thời gian biểu
cuối cùng vòng Uruguay đã đem lại sự cải tổ lớn nhất từ trước tới nay đối với hệ
thống thương mại quốc tế.
Cơ sở cho chương trình nghị sự của vòng đàm phán Uruguay đã được
khởi đầu ngay từ tháng 11 năm 1982 tại Geneva, tuy nhiên phải mất đến 4 năm
để thăm dò làm rõ các vấn đề và xây dựng sự nhất trí thì các bộ trưởng mới đi
đến thống nhất trong việc đưa ra 1 vòng đàm phán mới. Cuộc đàm phán được
bắt đầu tại Punta del Este Uruguay (1986). Chương trình đàm phán bao gồm hầu
9
hết các vấn đề chính sách thương mại còn chưa được điều chỉnh, nhằm mở rộng
hệ thống thương mại đa biên sang một số lĩnh vực mới. Trong đó, quan trọng
nhất là: dịch vụ, sở hữu trí tuệ và cải tổ hệ thống thương mại trong một số lĩnh
vực có tính nhạy cảm cao như hàng nông sản và hàng dệt may, mọi nguyên tắc
về điều khoản ban đầu của GATT đều được rà soát lại.
Hai năm sau đó, vào tháng 12 năm 1988, các Bộ trưởng gặp nhau tại
Montreal, Canada nhằm mục đích kiểm điểm lại những tiến triển tại thời điểm
giữa vòng đàm phán, bên cạnh đó tiếp tục đề ra mục tiêu cho các cuộc đàm phán
tiếp theo. Tuy nhiên, đàm phán đã đi đến bế tắc. Mọi vấn đề chỉ được giải quyết
tại hội nghị ở Geneva 4 năm sau đó. Mặc dù gặp phải nhiều khó khăn, tại hội
nghị Montreal các vị bộ trưởng đều thống nhất thông qua hầu hết các kết quả
ban đầu gồm: các nhượng bộ mở cửa thị trường cho hàng nhiệt đới nhằm mục
đích giúp đỡ các nước đang phát triển; cơ chế giải quyết tranh chấp được đơn
giản hóa và một cơ chế rà soát chính sách thương mại. Từ trước đến nay, đây là
lần đầu tiên đưa ra được một cơ chế thường xuyên, mang tính hệ thống và toàn
diện để rà soát chính sách và thực hành thương mại đối với các nước thành viên
của GATT. Vòng đàm phán này đã dự định kết thúc tại Brussels vào tháng 12
năm 1990, nhưng do bất đồng quan điểm giữa các bên về cách thức tiến hành cải
cách hệ thống thương mại hàng nông sản nên đã phải kéo dài. Đây là thời kỳ
vòng Uruguay đang đi vào giai đoạn khó khăn nhất. Cho dù viễn cảnh chính trị
đen tối, một khối lượng công việc kỹ thuật đáng kể đã được thực hiện và dẫn
đến kết quả là có một dự thảo hiệp định pháp lý cuối cùng, dự thảo này được gọi
năm các nước tham dự đã nhất trí cắt giảm thuế nhập khẩu với hàng nhiệt đới -
những sản phẩm chủ yếu do các nước đang phát triển xuất khẩu. Các nước cũng
đã nhất trí điều chỉnh các qui định về giải quyết tranh chấp, trong đó một số biện
pháp đã được thực hiện ngay lập tức. Các nước cũng yêu cầu cần có báo cáo
thường xuyên về hệ thống chính sách thương mại của các nước thành viên, đây
là một bước tiến hết sức quan trọng nhằm làm minh bạch hóa hệ thống chính
sách của các nước trên thế giới.
11
Với kết quả của vòng đàm phán Uruguay người ta ước tính thuế quan nói
chung sẽ giảm đi trung bình khoảng 40%. Dự kiến Mĩ sẽ giảm 35%, Canada
45%, ấn Độ 55%, Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) 41%, Đài Loan giảm khoảng 30 -
50% cho hàng công nghiệp và nông sản. Với mức thuế hàng nông sản nói riêng,
trong vòng 6 năm tới tính từ năm 1995 sẽ giảm 36% và mức trợ cấp gây phương
hại cho thương mại bình đẳng cũng sẽ giảm 20%. Do đó, người ta dự đoán rằng
từ năm 1995 đến năm 2002, buôn bán quốc tế sẽ tăng thêm từ 213 - 272 tỷ đô la
mỗi năm, xuất khẩu thế giới mỗi năm tăng 5% nhập khẩu tăng 3,5%.
* Chương trình nghị sự : 15 chủ đề tại vòng đàm phán Uruguay
+ Thuế quan
+ Hàng rào phi thuế quan
+ Sản phẩm tài nguyên thiên nhiên
+ Hàng dệt may
+ Nông nghiệp
+ Sản phẩm nhiệt đới
+ Các điều khoản của GATT
+ Các hệ thống qui định của vòng đàm phán Tokyo
+ Chống phá giá
+ Trợ cấp
+ Tài sản trí tuệ
+ Các biện pháp đầu tư
+ Giải quyết tranh chấp
+ Theo điều khoản tham vấn và điều khoản Bảo vệ các ưu đãi và lợi ích.
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của mỗi hiệp định đa phương.
Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn bị những hạn chế :
+ Các nghị quyết đạt được không giải quyết được những tranh chấp phát
sinh, thường dẫn đến việc các bên thương lượng hoà giải là chính.
13
+ Hệ thống giải quyết tranh chấp không mang tính tự động do vậy bên bị
kiện có thể dễ dàng gây khó khăn để ngăn cản một nhóm chuyên trách (Ban hội
thẩm) tiến hành hoạt động của mình.
+ Thời hạn tiến hành qui trình giải quyết tranh chấp quá dài.
+ Hệ thống không có cơ chế bảo đảm cho các nghị quyết được thực hiện.
Những khiếm khuyết trên làm giảm bớt những giá trị của tự do hoá
thương mại mà hệ thống thương maị đa phương đem lại các nước đã vấp phải
nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp với các đối tác mạnh hơn mình.
Đối với WTO, tổ chức thương mại thế giới đã đưa ra được một cơ chế
giải quyết tranh chấp hoàn chỉnh hơn, cho phép các mối quan hệ trong thương
mại quốc tế được giải quyết một cách công bằng hơn, hạn chế được những hành
động đơn phương, độc đoán của các cường quốc thương mại, cho phép nhanh
chóng tháo gỡ những ách tắc thường xảy ra và khó giải quyết trước đây. Các thủ
tục của WTO dựa trên qui định luật pháp và giúp cho hệ thống thương mại an
toàn và dễ dự báo hơn. Hệ thống này dựa trên các qui tắc được xác định rõ ràng
với cả biểu thời gian để hoàn thành một vụ tranh chấp. Một nhóm chuyên gia sẽ
được thành lập cho mỗi tranh chấp. Nhóm này sẽ đưa ra các qui định đầu tiên và
các thành viên WTO có thể ủng hộ hay phản đối, các kháng cáo dựa trên luật là
có thể chấp nhận được. Các thành viên WTO đều nhất trí rằng khi mà một nước
thành viên khác đang vi phạm qui tắc thương mại, họ sẽ sử dụng hệ thống
thương mại đa biên để giải quyết tranh chấp thay cho việc thực hiện các hành
động đơn phương.
Trước đây GATT có thủ tục để giải quyết tranh chấp nhưng nó chưa đưa
ra được thời gian biểu cụ thể, các qui định dễ bị cản trở và nhiều vụ vẫn không
không gây ra các ảnh hưởng xấu không muốn có.
Ngoài ra, WTO còn có những mục tiêu sau:
+ Nâng cao mức sống của con người.
15
+ Bảo đảm tạo đầy đủ công ăn việc làm, tăng trưởng vững chắc thu nhập
và nhu cầu thực tế của người lao động.
+ Phát triển việc sử dụng hợp lý của người lao động.
+ Phát triển việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của thế giới .
+ Mở rộng việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dịch vụ trên phạm vi toàn
thế giới.
1.2.2 Chức năng của WTO
WTO có những chức năng sau đây:
Chức năng thứ nhất của WTO: Là tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa
biên mà nội dung của nó rất đa dạng đề cập lớn tới nhiều lĩnh vực khác nhau.
Thông qua các cuộc đàm phán như vậy, việc tự do hoá mậu dịch của các nước
trên thế giới được phát triển, đồng thời những qui tắc quốc tế mới cũng được
xây dựng và sửa đổi theo yêu cầu của thời đại.
Chức năng thứ hai của WTO: Là một luật lệ quốc tế chung được các
nước thành viên cùng nhau ký kết. WTO đề ra những qui tắc quốc tế về thương
mại và đảm bảo các nước thành viên của WTO phải thực hiện các nguyên tắc
đó. Đặc trưng của các quyết định và qui tắc của WTO là nó có hiệu lực bắt buộc
tất cả các thành viên và có khả năng làm cho mọi thành viên có nghĩa vụ bắt
buộc phải thực hiện. Bất cứ một nước thành viên nào một khi đã thừa nhận "hiệp
định WTO" và những hiệp định phụ khác của WTO thì nước đó cần phải điều
chỉnh hay chuyển các quy định pháp luật và các thủ tục hành chính của mình
theo các quy định của WTO.
Chức năng thứ ba của WTO: Là khả năng giải quyết các mâu thuẫn và
tranh chấp mậu dịch quốc tế. WTO có chức năng như là một toà án giải quyết
các tranh chấp nảy sinh giữa các thành viên trong các lĩnh vực liên quan. Bất cứ
một thành viên nào của WTO khi thấy lợi ích của nước mình đang bị xâm hại
các bạn hàng được ưu đãi nhất. Nếu như một nước cho một nước khác được
hưởng lợi nhiều hơn thì đối xử "tốt nhất" đó phải được giành cho tất cả các
nước thành viên WTO khác để các nước khác vẫn tiếp tục có được đối xử tối
17
huệ quốc. Nguyên tắc MFN đảm bảo rằng mỗi thành viên WTO đối xử trên 140
thành viên khác tương tự nhau.
Nguyên tắc này rất quan trọng vì vậy nó được ghi nhận tại điều đầu tiên
của hiệp định chung về quan thuế và thương mại GATT về thương mại hàng
hoá. Nguyên tắc MFN cũng được đề cao trong hiệp định chung về dịch vụ
GATS, hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại TRIMs tuy
có khác nhau một ít ở từng hiệp định.
Đối xử quốc gia (NT): đối xử người nước ngoài và người trong nước như
nhau. Hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước phải được đối xử như nhau,
ít nhất là sau khi hàng hoá nhập khẩu đã đi vào đến thì trường nội địa. Theo
nguyên tắc này, khi áp dụng những qui chế trong nước và thuế nội địa đối với
hàng nhập khẩu thì phải cung cấp các điều kiện tương tự như đối với sản phẩm
trong nước. Vì thế các thành viên của WTO không được áp dụng thuế nội địa để
bảo vệ sản xuất trong nước và không được phân biệt đối xử đối với hàng nhập
khẩu từ các nước thành viên WTO khác.
Nguyên tắc này cũng áp dụng cho dịch vụ nhãn hiệu thương mại, bản
quyền và quyền phát minh sáng chế trong nước và của nước ngoài. Đối xử quốc
gia chỉ áp dụng được khi hàng háo dịch vụ và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
đã vào đến thị trường. Vì vậy, việc đánh thuế nhập khẩu hàng hoá không vi
phạm nguyên tắc này mặc dù hàng nội địa không chịu thuế tương tự.
Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải ngày càng được tự do thông qua
đàm phán.WTO đảm bảo thương mại giữa các nước ngày càng tự do hơn thông
qua quá trình đàm phán hạ thấp hàng rào thuế quan để thúc đẩy buôn bán. Hàng
rào thương mại bao gồm thuế quan, và các biện pháp khác như cấm nhập khẩu,
quota có tác dụng hạn chế nhập khẩu có chọn lọc, đôi khi vấn đề khác như tệ
quan liêu, chính sách ngoại hối cũng được đưa ra đàm phán.
thương mại. Các liên kết như vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ
quốc theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo
19
thuận lợi cho thương mại các nước liên quan song không làm tăng hàng rào cản
trở thương mại với các nước ngoài liên kết.
Nguyên tắc thứ sáu: Các điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát
triển. WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nước thành viên là các
nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, vì thế một trong những
nguyên tắc cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển, dành những điều kiện
đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia
sâu rộng hơn của họ vào hệ thống thương mại đa biên. Để thực hiện được
nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế
đang chuyển đổi những linh hoạt và các ưu đãi nhất định trong việc thực thi các
hiệp định, đồng thời chú ý đến việc trợ giúp kỹ thuật cho các nước này.
20
CHƯƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA WTO ĐẾN CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
2.1. Những ảnh hưởng của WTO đối với các nước đang phát triển
2.1.1. Những ảnh hưởng tích cực
Tổ chức thương mại thế giới WTO là một tổ chức quốc tế, điều tiết hệ
thống thương mại đa biên, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế
thế giới nói chung và đến nền kinh tế của mỗi quốc gia thành viên nói riêng. Đối
với các nước đang phát triển, gia nhập WTO đã mang lại được rất nhiều lợi ích
thiết thực đối với công cuộc phát triển kinh tế của họ. Cùng với quá trình toàn
cầu hoá kinh tế và đặc biệt là sự ra đời của WTO từ năm 1995, tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế bình quân của các nước đang phát triển luôn đạt khoảng từ 4% đến 5%.
Tỷ trọng kinh tế của các nước này trong nền kinh tế toàn cầu đã tăng lên nhanh
chóng, từ 13% năm 1995 lên 29% năm 1998 (chỉ 3 năm, sau khi WTO ra đời).
Tỷ trọng trong thương mại thế giới của các nước đang phát triển cũng tăng lên
từ 11% đến 32% trong cùng thời kỳ. Đến năm 2010, theo dự báo, tỷ lệ này có
trên thế giới. Chính vì vậy, các nước đang phát triển có thể mở rộng được thị
phần của mình trên thị trường quốc tế, giành được nhiều ưu đãi thương mại tạo
được cho mình lợi thế kinh tế chính trị, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của
nước ngoài.
Thứ năm, các quan hệ kinh tế, văn hoá, chính trị với các nước thành viên
được mở rộng, tiếp thu được nhiều kinh nghiệm tốt trong quản kí kinh tế, xã hội,
khoa học kĩ thuật, tiếp cận được các thành tựu KHKT tiên tiến trên thế giới,
cũng như tiếp thu được các lối sống văn hoá của các nền văn minh khác nhau
trên thế giới.
Thứ sáu, hoạt động của WTO khiến cho cạnh tranh quốc tế ngày càng trở
nên gay gắt, do đó các doanh nghiệp của các nước đang phát triển buộc phải tìm
tòi, khắc phục những hạn chế của mình, đồng thời áp dụng công nghệ mới phát
triển bền vững hoạt động sản xuất kinh doanh, tích tụ được nhiều nguồn lực để
có thể nâng cao khả năng cạnh tranh tích cực trong nước thúc đẩy nền kinh tế
22
phát triển và có đủ năng lực canh tranh được với nước ngoài, thích ứng với xu
hướng toàn cầu hoá hiện nay. Cạnh tranh với bất cứ bản chất nào thì cũng khiến
cho các nước đang phát triển có tầm nhìn tốt hơn, tiếp cận được kỹ thuật công
nghệ tiên tiến của các nước phát triển, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp nội
địa cải tiến và chấp nhận các tiêu chuẩn giám sát quốc tế tốt nhất, kiểm soát
được rủi ro và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Thứ bẩy, vấn đề di chuyển lao động giữa các nước thành viên đã trở nên
dễ dàng hơn. Di chuyển lao động tự do đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho
các nước đang phát triển. Cái lợi của các nước đang phát triển thường xuyên
xuất khẩu lao động là nhận được một khoản thu nhập ngoại tệ không nhỏ từ tiền
lương mà nước sở tại trả cho người lao động. Theo báo cáo của Economic
Aspects thì trong những năm 1990 - 1995 khoản tiền đó lên đến 70 tỷ USD.
Xuất khẩu lao động có vị trí đặc biệt đối với các nước đang phát triển, vừa thay
đổi cán cân kinh tế vừa tăng sức mua của xã hội thúc đẩy thương mại và sản
xuất nội địa. Thêm vào đó, các nước phát triển thường nhập khẩu lao động từ
năng. Bên cạnh đó, sự tiến bộ trong khoa học công nghệ cũng không chỉ làm
thay đổi cơ cấu mà còn làm thay đổi tầm quan trọng của các sản phẩm đầu vào.
Các ngành công nghiệp hiện đại ngày càng ít sử dụng tài nguyên thiên nhiên, do
đó chúng không còn là yếu tố cạnh tranh quan trọng nữa. Điều này đã khiến cho
các nước đang phát triển vốn là những nước xuất khẩu hàng hoá sơ chế và
nguồn lao động không kỹ năng rơi vào tình trạng rất bất lợi.
Thứ hai, trong lĩnh vực nông nghiệp, các nước đang phát triển cũng phải
chịu những tác động rất lớn trong quá trình điều tiết hệ thống thương mại đa
biên của WTO:
Do định hướng xuất khẩu, nền nông nghiệp của các nước đang phát triển
cùng chú trọng vào sản xuất các mặt hàng có giá trị xuất khẩu, đất đai ngày càng
khan hiếm, vì một phần bị lấy đi để phát triển công nghiệp, thành thị. Sản lượng
lương thực của nhiều nước giảm đi rõ rệt. Điều đó, có nghĩa là sự sản xuất nông
nghiệp tự cung tự cấp đã không thoả mãn yêu cầu của nhân dân trong nước do
24
sự bành trướng của cây công nghiệp. Rất nhiều nước đang phát triển, vấn đề an
ninh lương thực bị đe doạ nghiêm trọng, buộc các nước này phải nhập khẩu
lương thực từ nước ngoài, mức độ lệ thuộc lương thực của các nước này ngày
càng gia tăng.
Sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn ngày càng trở
nên rõ rệt hơn. Các nước đang phát triển phần lớn đều phải gánh chịu tình trạng
dù tỷ lệ tăng trưởng của cả nước khá cao và ngày càng gia tăng nhưng tại các
khu vực nông thôn, tình trạng đói nghèo vẫn tồn tại, có nơi còn tăng lên. Sự
phồn vinh chỉ thấy được tại các khu vực thành thị. Nguyên nhân của hiện tượng
này là do các nước đangphát triển quá chú trọng vào phát triển công nghiệp,dẫn
đến sự phát triển bất cân đối, các nguồn lực ít được đầu tư cho nông nghiệp,
nông dân không có đủ điều kiện để phát triển sản xuất.
Thứ ba, xu hướng đô thị hoá cộng với tình trạng nguồn lực của nông thôn
bị hạn chế buộc rất nhiều nông dân ra thành phố kiếm sống. Nhiều thành phố vì
thế đã trở nên quá tải, mật độ dân cư tăng lên quá nhanh ,đã khiến cho tình trạng