Tổ chức thương mại WTO và tác động của nó đối với các nước trên thế giới - Pdf 24

1
Mục lục
Mục lục....................................................................................................1
Lời mở đầu...............................................................................................3
Chương 1: Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO
1.1Sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO..............................5
1.1.1Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT- tổ chức tiền thân
của WTO.......................................................................5
1.1.2Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO........................12
1.2 Mục tiêu,chức năng và các nguyên tắc của WTO.................... 18
Chương 2:Tác động của WTO đối với các nước đang phát triển
2.1 Những ảnh hưởng của WTO đến các nước đang phát triển..........
2.1.1 Những ảnh hưởng tích cực......................................................
2.1.2 Những ảnh hưởng tiêu cực.....................................................
2.2 Những cơ hội và thách thức đặt ra với các nước đang phát
triển trong quá trình thực hiện một số Hiêp định của WTO.
2.2.1 Hiệp đinh về tự do hàng nông sản..........................................
2.2.2 Hiệp định hàng dệt may.......................................................
2.2.3 Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ GATS.............
2.2.4 Hiệp định về đàu tư liên quan đến thương mại TRIMs...................
2.2.5 Hiệp định về quyền sở hữu trú tuệ liên quan đến thương
mại TRIPS.....................................................................................................
2.3 Các giải pháp nhằm đem lại lợi ích cao hơn cho các nước đang
phát triển...................................................................................................
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến sự thiệt thòi của các nước đang phát
triển..........................................................................................................
2.3.2 Các giải pháp.........................................................................
Chương 3: Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, những cơ hội và thách thức.
3.1 Sự cần thiêt của việc gia nhập WTO.............................................
3.2 Những thuận lợi và thách thức đến tiến trình gia nhập WTO
của Việt Nam...........................................................................................

thừa Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt động từ
1/1/1995 nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thông thương mại đa
biên, đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các rào cản trong
thương mại quốc tế. Từ đó cho đến nay, WTO đã không ngừng mở rộng cả vế quy
mô lẫn phạm vi hoạt động của mình, đã thực sự khẳng định được vai trò quan trọng
của mình trong quá trình tự do hoá thương mại quốc tế.
Cùng với hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, các Hiệp định của mình,WTO đã
tạo ra một hành lang pháp lý để từ đó các nước có thể đẩy nhanh tiến hành tiến
trình toàn cầu hoá, tự do thương mại, đồng thời tiếp nhận những cơ hội thuận lợi để
phát triển nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, hoạt động của WTO cùng với hệ thông
các nguyên tắc và hiệp định của mình không phải lúc nào cũng có lợi và đảm bảo
được sự công bằng cho các nước thành viên, đặc biệt là đối với các nước đang phát
triển.
Để có thể tìm hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng của WTO đến sự phát triển nền
kinh tế của các nước đang phát triển, em đã lựa chọn đề tài:
Tổ chức thương mại thế giới WTO và tác động của nó
đối với các nước đang phát triển.
làm khoá luận tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu, kết luận, và phụ lục, nội dung của
khoá luận được chia làm ba chương:
Chương 1 : Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO.
Chưong 2 : Tác động của WTO đến các nước đang phát triển.
Chương 3: Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, những cơ hội và thách thức.
Với những kiến thức đã được trang bị trong 4 năm qua tại Khoa Kinh tế Đại học
Quốc Gia-Hà Nội, cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Khu Thị
Tuyết Mai, em đã hoàn thành được bài khoá luận này. Tuy nhiên, do tính phức tạp
của vấn đề nghiên cứu và do trình độ có hạn của người viết khoá luận này không
tránh được nhiều thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy
cô giáo để bài khoá luận này được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
5
Chương 1: Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO

quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỉ $, tức là gần 1/5 tổng
thương mại trên thế giới. 23 nước này đều cùng nhất trí chấp nhận ủng hộ một số
quy định trong hiến chương của ITO. Các quy định này sẽ được thực hiện hết sức
nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ được thành quả của những cam
kết thuế quan đã được đàm phán. Kết hợp của những qui định thương mại và cam
kết thuế quan được biết đến dưới tên gọi Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 11/1/1948. 23 nước
tham gia trở thành những thành viên sáng lập GATT, hay còn gọi là "các bên tham
gia hiệp định". Mặc dù GATT chỉ mang tính tạm thời nhưng đây vẫn là công cụ
duy nhất mang tính đa biên điều tiết thương mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến
khi WTO được thành lập vào năm 1995 và trong suốt thời gian đó các văn bản
pháp lý của GATT vẫn được duy trì gần giống năm 1948. Có thêm một số hiệp
định mới được đưa vào dưới dạng hiệp định "nhiều bên" và các nỗ lực cắt giảm thế
quan vẫn được tiếp tục. Tất cả những bước tiến lớn của thương mại quốc tế đã diễn
ra thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa biên được biết đến dưới cái tên
"vòng đàm phán thương mại".
7
Bảng 1: Các vòng đàm phán của GATT
Năm Địa điểm Chủ đề đàm phán Số
nước
1947 Geneva Thuế quan 23
1949 Annecy Thuế quan 13
1951 Torquay Thuế quan 38
1956 Geneva Thuế quan 26
1960 - 1961 Geneva (vòng Dillon) Thuế quan 26
1964 - 1967 Geneva (vòng Kenedy) Thuế quan và các biện pháp
chống bán phá giá
62
1973 - 1979 Geneva ( Vòng Tokyo) Thuế quan và các biện pháp
phi thuế, các hiệp định khung.

+ Các hàng rào kỹ thuật đổi với thương mại - còn được gọi là: Hiệp định về
tiêu chuẩn.
+ Các thủ tục cấp phép nhập khẩu.
+ Mua sắm chính phủ.
+ Định giá hải quan - diễn giải điều 7.
+ Chống phá giá - diễn giải điều 6, thay cho qui định vòng Kenedy.
+ Thoả thuận về sữa quốc tế.
+ Thương mại máy bay dân dụng.
Một số hệ thống qui tắc sau vòng đàm phán Uuguay đã được điều chỉnh lại và
được cam kết mang tính chất đa biên buộc các nước thành viên phải cùng nhau
thực hiện. Chỉ có 4 hiệp định: mua sắm chính phủ, máy bay dân dụng cho đến hiện
nay vẫn mang tính nhiều bên. Vào năm 1997, hai hiệp định về thịt bò và sữa đã
được huỷ bỏ.
Cho đến hết vòng đàm phán Tokyo, GATT hoạt động mang tính tạm thời và có
phạm vi hoạt động hạn chế. Tuy nhiên, GATT đã đem lại những thành công rất lớn
trong việc đảm bảo tự do hoá phần lớn thương mại quốc tế. Chỉ tính đến việc cắt
giảm thuế quan đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trung bình của thương mại thế giới
lên mức trung bình trong suốt thập niên 50-60.
Chính tốc độ tự do hoá mậu dịch đã giúp cho tốc độ tăng trưởng của thương
mại luôn luôn vượt qua tốc độ tăng trưởng kinh tế trong suốt thời kỳ GATT tồn tại.
Bên cạnh đó, ngày càng nhiều nước đệ đơn tham gia xin gia nhập đã cho thấy hệ
thống thương mại đa biên đã được công nhận như một công cụ để phục vụ công
9
cuộc phát triển kinh tế, thương mại của cả thế giới nói chung và của từng quốc gia
nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đã xuất hiện những vấn đề mới
nảy sinh. Vòng Tokyo đã cố gắng giải quyết một số vấn đề đó nhưng kết quả mang
lại còn khá hạn chế.
GATT đã phải đối mặt với những khó khăn rất lớn.
Thứ nhất, thành công của GATT trong việc cắt giảm thuế quan xuống mức thấp

buộc do vậy các nước có thể tuân theo và cũng có thể không. Bên cạnh đó, thương
mại quốc tế trong những năm 80 trở đi đòi hỏi phải có một tổ chức cố định, có nền
tảng pháp lý vững chắc để có thể đảm bảo thực thi các quy định, các nguyên tắc
chung của thương mại quốc tế. Về hệ thống các quy chế giải quyết tranh chấp,
GATT cũng chưa có cơ chế chặt chẽ, chưa có thời gian biểu nhất định do vậy các
cuộc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ đi vào ách tắc.
Đây là những nhân tố khiến cho các thành viên của GATT tin rằng phải có
những nỗ lực mới nhằm củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Những
nỗ lực đó đã dẫn đến kết quả có vòng đàm phán Uruguay, tuyên bố Marrakesh và
việc tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời.
1.1.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO.
1.1.2.1 Vòng đàm phán Uruguay.
Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán lớn nhất cả về thời gian và các lĩnh
vực thương mại. Vòng này kéo dài 7 năm rưỡi, gần bằng 2 lần thời gian dự định
ban đầu. Đến cuối vòng đàm phán số nước tham dự đă lên tới 125 nước; đây thực
sự là vòng đàm phán thương mại lớn nhất từ trước tới nay và có lẽ đây cũng là cuộc
đàm phán thuộc loại lớn nhất trong lịch sử.
Một số thời điểm chủ chốt của vòng Uruguay:
Tháng 9/86 Punta del Este: bắt đầu.
Tháng 12/88 Montreal: rà soát giữa kỳ của các bộ trưởng.
Tháng 4/89 Geneva: Rà soát giữa kỳ hoàn thành.
Tháng 12/90 Brussels: bế mạc hội nghị bộ trưởng trong bế tắc.
Tháng 12/91 Genneva: Dự thảo đầu tiên của "Hiệp định cuối cùng" được hoàn
thành.
Tháng 11/92 Washington: Mỹ và EC đạt được mức bột phá mang tên "Blair
House" trong lĩnh vực nông nghiệp.
11
Tháng 7/93 Tokyo: Nhóm Quad đạt được bước đột phá về mở cửa thị trường tại
hội nghị thượng đỉnh G7
Tháng 12/93 Geneva: Phần lớn các cuộc đàm phán kết thúc (một số cuộc thương

sản nên đã phải kéo dài. Đây là thời kỳ vòng Uruguay đang đi vào giai đoạn khó
khăn nhất. Cho dù viễn cảnh chính trị đen tối, một khối lượng công việc kỹ thuật
đáng kể đã được thực hiện và dẫn đến kết quả là có một dự thảo hiệp định pháp lý
cuối cùng, dự thảo này được gọi là Dự thảo luật cuối cùng. Dự thảo này được đệ
trình tại Geneva vào năm 1991. Dự thảo đã hoàn tất được tất cả các mục tiêu đề ra
tại Punta del Este, ngoại trừ danh mục cam kết cắt giảm thuế quan và mở cửa thị
trường dịch vụ của các nước. Dự thảo này đã trở thành cơ sở để có được sự thống
nhất cuối cùng.
Trong vòng hai năm tiếp theo, các cuộc đàm phán đã đứng giữa hai ngả, một bên
là thất bại cận kề, một bên là thành công với tới được. Một vài thời hạn cuối cùng
được đưa ra và bị vượt quá. Tại vòng đàm phán đã nảy sinh những bất đồng quan
điểm bên cạnh vấn đề nông nghiệp ; đó là dịch vụ, mở cửa thị trường, các qui tắc
chống bán phá giá và đề xuất về việc thành lập một tổ chức thương mại mới. Tại
đây, bất đồng quan điểm của Mỹ và EU chính là nguyên nhân quan trọng nhất
khiến cho vòng đàm phán chưa thể kết thúc thành công được.
Tháng 11 năm 1992, Mỹ và EU đã thống nhất được phần lớn sự khác biệt trong
lĩnh vực nông nghiệp, cả hai đã đưa ra được một thỏa thuận mang tên Thỏa thuận
Blair House. Đến tháng 7 năm 1993, nhóm Quad ( Mỹ, EU, Nhật, Canada ) tuyên
bố đã đạt được những thỏa thuận đáng kể trong đàm phán thuế quan và các vấn đề
liên quan đến mở cửa thị trường. Đến 15 tháng 12 năm 1993 thì tất cả mọi vấn đề
đều được giải quyết và đàm phán về mở cửa thị trường cho hàng hóa và dịch vụ
được kết thúc. Ngày 15/4/1994, thỏa thuận đã được bộ trưởng của phần lớn 125
nước tham gia hội nghị ký kết tại Marrakesh, Marốc.
Cuối cùng, vào tháng 1/1995 hội nghị bộ trưởng tại Geneva đã thống nhất
thành lập một tổ chức thương mại mới, tổ chức thương mại thế giới - World Trade
Organization - viết tắt là WTO chính thức được thành lập ; các hiệp định được kí
kết tại vòng đàm phàn Uruguay bắt đầu có hiệu lực.
Nhìn chung tại một số thời điểm, vòng Uruguay có vẻ như đã thất bại, tuy
nhiên cuối cùng thì vòng Uruguay đã đem lại sự cải tổ lớn nhất, là bước tiến quan
trọng nhất đối với hệ thống thương mại thế giới kể từ ngày GATT được thành lập

+ Các biện pháp đầu tư
+ Giải quyết tranh chấp
14
+ Hệ thống GATT
+ Dịch vụ.
1.2.2. Sự khác nhau giữa WTO và GATT
WTO là một tổ chức thương mại được thành lập trên cơ sở kế thừa GATT.
GATT sau WTO đã được sửa đổi, bổ sung và là một trong những hiệp định của
WTO. Sau đây là những khác biệt chủ chốt :
+ GATT chỉ mang tính chất tạm thời. Hiệp định chung về thương mại và thuế
quan chưa bao giờ được quốc hội các nước phê chuẩn; nó không có qui định nào về
việc thành lập một tổ chức nhất định.
WTO và các hiệp định của nó mang tính thường trực lâu dài. WTO là một tổ
chức quốc tế được thành lập bởi sự nhất trí của các quốc gia thành viên. WTO có
nền tảng pháp lý vững chức bởi vì các nước thành viên đã thông qua các hiệp định
và chính các hiệp định đã mô tả phương thức hoạt động của tổ chức. Các quốc gia
thành viên phải thực hiện đúng theo các qui định, nguyên tắc của WTO và các hiệp
định của nó.
+ GATT chỉ có "các bên tham gia ký kết", điều này cho thấy rõ ràng là GATT
chỉ mang tính chất một hiệp định. WTO có các nước thành viên và WTO là một tổ
chức quốc tế.
+ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT chỉ giải quyết các vấn đề
liên quan đến thương mại hàng hoá. Trong khi đó WTO là tổ chức kế thừa và phát
triển GATT, hiệp định GATT tồn tại cùng với các hiệp định khác của WTO như
hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS); hiệp định về quyền sở hữu trí
tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS). WTO đã đưa 3 hiệp định này vào chung
một tổ chức.
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính tự động và nhanh hơn so
với cơ chế của GATT. Đây là đóng góp lớn nhất của WTO đối với hệ thống thương
mại thế giới.

được thời gian biểu cụ thể, các qui định dễ bị cản trở và nhiều vụ vẫn không giải
quyết được sau một thời gian dài. WTO đã đưa ra một quy trình giải quyết tranh
chấp với thời gian và thủ tục được xác định rõ ràng hơn. Khoảng thời gian để giải
quyết một vụ tranh chấp dài hơn trước kia. Thời hạn cuối cùng cho mỗi giai đoạn
giải quyết tranh chấp rất linh hoạt. Hiệp định nhấn mạnh việc giải quyết nhanh
16
chóng là cần thiết. Các thủ tục và thời gian biểu phải được tuân theo trong quá
trình giải quyết.
WTO cũng không cho phép các nước thất bại trong vụ tranh chấp ngăn cản
việc thi hành quyết nghị. Theo thủ tục của GATT các quyết định chỉ có thể được
thông qua theo các thoả hiệp. Điều đó có nghĩa là chỉ cần một sự phản đối nào đó
cũng có thể ngăn việc thi hành quyết nghị. Nhưng hiện nay các quyết nghị được
thông qua một cách tự động, trừ khi có một thoả hiệp để từ chối một quyết nghị.
Bất kỳ một nước nào muốn ngăn cản một quyết nghị cũng cần phải thuyết phục các
thành viên khác (kể cả đối thủ) đồng ý với quan điểm của mình.
Tóm lại, hệ thống giải quyết tranh chấp được coi là một trong những thành
tựu lớn nhất của WTO.
1.2 Mục tiêu, chức năng và nguyên tắc hoạt động của WTO
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là cơ quan quốc tế duy nhất giải quyết
các qui định về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Nội dung chính của WTO
là các hiệp định được hầu hết các nước có nền thương mại cùng nhau tham gia đàm
phán và ký kết. Các văn bản này qui định các cơ sở pháp lý làm nền tảng cho
thương mại quốc tế. Các tài liệu đó về cơ bản mang tính ràng buộc các chính phủ
phải duy trì một chế độ thương mại trong một khuôn khổ đã được các bên thống
nhất. Mặc dù các thoả thuận đạt được là do các chính phủ đàm phán và ký kết
nhưng mục đích lại nhằm giúp các nhà sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ
trong nước; các nhà hoạt động xuất nhập khẩu có thể tiến hành các hoạt động kinh
doanh dễ dàng hơn.
1.2.1. Mục tiêu :
Mục tiêu chính của hệ thống thương mại thế giới là nhằm giúp thương mại

trái với các qui tắc của WTO thì có quyền khởi tố lên cơ quan giải quyết mâu
thuẫn mậu dịch của WTO và yêu cầu nước đó ngừng các hoạt động kinh tế xâm hại
đến lợi ích của mình. Bất cứ thành viên nào cũng phải chấp nhận khi bị các thành
viên khác khởi tố lên WTO vì đây là một trong những nghĩa vụ của mọi thành viên,
không nước nào có thể tránh khỏi.
Chức năng thứ tư của WTO: Là phát triển nền kinh tế thị trường. Để nền kinh tế thị
trường hoạt động và nâng cao được hiệu quả, WTO xúc tiến việc giảm nhẹ qui chế.
Phần lớn các nước trước kia theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung
hiện nay đều đang chuyển sang nền kinh tế thị trường đã và đang làm thủ tục để
18
xin gia nhập WTO. Qua các cuộc đàm phán cần thiết để gia nhập WTO, các nước
này có thể tìm hiểu được về hệ thống kinh tế thị trường và đồng thời xắp xếp lại
những chế độ và qui tắc để có thể quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường.
1.2.3 Các nguyên tắc của WTO.
Các hiệp định của WTO mang tính chất lâu dài và phức tạp đó là vì những văn bản
pháp lý bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn. Các hiệp định này giải quyết
các vấn đề liên quan đến: nông nghiệp, hàng dệt may, ngân hàng, bưu chính viễn
thông, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn công nghiệp, các qui định về vệ sinh dịch tễ,
sở hữu trí tuệ và nhiều lĩnh vực khác nữa. Tuy nhiên có một số các nguyên tắc hết
sức cơ bản và đơn giản xuyên suốt tất cả các hiệp định. Các nguyên tắc đó chính là
nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. Sau đây là chi tiết các nguyên tắc đó.
Nguyên tắc thứ nhất: Là thương mại không phân biệt đối xử. Nguyên tắc này
được áp dụng bằng hai loại đãi ngộ song song, đó là đãi ngộ tối huệ quốc và đối xử
quốc gia.
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): đối xử mọi người bình đẳng như
nhau. Theo qui định của các hiệp định WTO, nguyên tắc này được áp dụng như
sau: Mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với nhau như là các
bạn hàng được ưu đãi nhất. Nếu như một nước cho một nước khác được hưởng lợi
nhiều hơn thì đối xử "tốt nhất" đó phải được giành cho tất cả các nước thành viên
WTO khác để các nước khác vẫn tiếp tục có được đối xử tối huệ quốc. Nguyên tắc

thương mại đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do hoá
thương mại.
Nguyên tắc thứ ba: WTO tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng.
WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng
và không bị bóp méo. Các quy định về phân biệt đối xử được xây dựng nhằm đảm
bảo các điều kiện công bằng trong thương mại. Các đều khoản về chống phá giá,
trợ cấp cũng nhằm mục đích tương tự. Tất cả các hiệp định của WTO như Nông
nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đều nhằm mục đích
tạo ra được một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các nước.
Nguyên tắc thứ tư: Tính tiên liệu được thông qua ràng buộc thuế. Các cam kết
không tăng thuế cũng quan trọng như việc cắt giảm thuế vì cam kết như vậy tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dự đoán tốt hơn các cơ hội trong tương lai.
20
Trong WTO, khi các nước thoả thuận mở cửa thị trường cho các hàng hoá và dịch
vụ nước ngoài, họ phải tiến hành ràng buộc các cam kết thuế. Đối với thương mại
hàng hoá, các ràng buộc này được thể hiện dưới hình thức thuế trần.
Một nước có thể thay đổi mức thuế ràng buộc, tuy nhiên điều này chỉ có thể thực
hiên được sau khi nước đó đã đàm phán với các nước bạn hàng và có nghĩa là phải
bồi thường cho khối lượng thương mại đã bị mất. Qua vòng đàm phán Uruguay,
một khối lượng thương mại lớn được hưởng cam kết về ràng buộc thuế. Tính riêng
trong lĩnh vực hàng nông sản 100% sản phẩm đã được ràng buộc thuế. Kết quả là
WTO đã tạo được sự đảm bảo cao hơn cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
Nguyên tắc thứ năm: Các thoả thuận thương mại khu vực. WTO thừa nhận các
thoả thuận thương mại khu vực nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do hoá thương mại.
Các liên kết như vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc theo
những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo thuận lợi cho
thương mại các nước liên quan song không làm tăng hàng rào cản trở thương mại
với các nước ngoài liên kết.
Nguyên tắc thứ sáu: Các điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát triển.
WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nước thành viên là các nước đang

thêm những ảnh hưởng tích cực của WTO đến các mặt của nền kinh tế:
Thứ nhất, tất cả các hàng hoá và dịch vụ của các nước đang phát triển là thành
viên của WTO đều được đối xử theo các nguyên tắc, quy định của WTO; được đối
xử bình đẳng, không phân biệt đối với hàng hoá và dịch vụ của các nước phát triển.
Các loại hàng hoá và dịch vụ này khi được xuất khẩu sang bất kỳ một thị trường
của một nước thành viên nào kể cả Mỹ hay EU đều được hưởng mọi quyền lợi mà
chính phủ nước đó dành cho hàng hoá và dịch vụ nước mình.
Thứ hai, các rào cản thuế và phi thuế quan đều buộc phải cắt giảm, các biện
pháp hạn chế định lượng đều bị cấm sử dụng được áp dụng cho mọi thành viên của
22
WTO không loại trừ một thành viên nào của WTO. Do đó cơ hội xuất khẩu của các
nước đang phát triển gia tăng rõ rệt, thị trường tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ được
mở rộng. Các nước đang phát triển đã và sẽ tập trung chuyên môn hoá các mặt
hàng mà mình có lợi thế, nhằm thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Thứ ba, sản xuất trong nước được chú trọng và thu hút được nhiều lao động,
tạo được nhiều công ăn việc làm hơn cho người dân, đặc biệt là trong những ngành
nghề sản xuất phục vụ xuất khẩu làm tăng nhanh sự tăng trưởng của nền kinh tế và
xã hội của nước đó.
Thứ tư, là thành viên của WTO, có nghĩa là các nước đã tạo dựng được một
môi trường kinh tế, chính trị ổn định, tạo được sự tín nhiệm của các nước trên thế
giới. Chính vì vậy, các nước đang phát triển có thể mở rộng được thị phần của
mình trên thị trường quốc tế, giành được nhiều ưu đãi thương mại tạo được cho
mình lợi thế kinh tế chính trị, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của nước ngoài.
Thứ năm, các quan hệ kinh tế, văn hoá, chính trị với các nước thành viên được
mở rộng, tiếp thu được nhiều kinh nghiệm tốt trong quản kí kinh tế, xã hội, khoa
học kĩ thuật, tiếp cận được các thành tựu KHKT tiên tiến trên thế giới, cũng như
tiếp thu được các lối sống văn hoá của các nền văn minh khác nhau trên thế giới.
Thứ sáu, hoạt động của WTO khiến cho cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên
gay gắt, do đó các doanh nghiệp của các nước đang phát triển buộc phải tìm tòi,
khắc phục những hạn chế của mình, đồng thời áp dụng công nghệ mới phát triển

đều chú trọng sản xuất các mặt hàng xuất khẩu mà mình có lợi thế so sánh và mặt
hàng xuất khẩu nhiều nhất là nguyên liệu thô và các mặt hàng công nghiệp có giá
trị thấp. Tuy nhiên trên thực tế, các nước đang phát triển cũng bị buộc phải sản
xuất ra các mặt hàng có giá trị và lợi nhuận thấp đó. Các nước phát triển sử dụng
đòn bẩy thuế quan buộc các nước đang phát triển phải tập trung khai thác và xuất
khẩu hai loại hàng hoá có mức thuế thấp như nguyên liệu thô và hàng hoá bán
thành phẩm, còn mặt hàng công nghiệp có giá trị cao thì chịu thuế cao hơn và vấn
đề tìm kiếm thị trường cũng gặp nhiều khó khăn hơn, điều này ảnh hưởng rất lớn
đến nền công nghiệp nội địa của các nước đang phát triển. Do các nước đang phát
triển chỉ sản xuất được các hàng công nghiệp có giá trị thấp, không chú trọng được
vào đầu tư và phát triển các ngành công nghiệp giá trị cao và phải nhập khẩu các
mặt hàng này từ các nước phát triển. Công nghiệp nội địa của các nước đang phát
triển do đó không có cơ hội để phát triển. Mặt khác, trong nền kinh tế toàn cầu
24
hiện nay, vai trò của các ngành công nghiệp dịch vụ và lao động kỹ năng ngày
càng tăng lên và cùng với nó là sự giảm dần tầm quan trọng của các hàng hoá sơ
chế và lao động không kỹ năng. Bên cạnh đó, sự tiến bộ trong khoa học công nghệ
cũng không chỉ làm thay đổi cơ cấu mà còn làm thay đổi tầm quan trọng của các
sản phẩm đầu vào. Các ngành công nghiệp hiện đại ngày càng ít sử dụng tài
nguyên thiên nhiên, do đó chúng không còn là yếu tố cạnh tranh quan trọng nữa.
Điều này đã khiến cho các nước đang phát triển vốn là những nước xuất khẩu hàng
hoá sơ chế và nguồn lao động không kỹ năng rơi vào tình trạng rất bất lợi.
Thứ hai, trong lĩnh vực nông nghiệp, các nước đang phát triển cũng phải chịu
những tác động rất lớn trong quá trình điều tiết hệ thống thương mại đa biên của
WTO:
Do định hướng xuất khẩu, nền nông nghiệp của các nước đang phát triển cùng
chú trọng vào sản xuất các mặt hàng có giá trị xuất khẩu, đất đai ngày càng khan
hiếm, vì một phần bị lấy đi để phát triển công nghiệp, thành thị. Sản lượng lương
thực của nhiều nước giảm đi rõ rệt. Điều đó, có nghĩa là sự sản xuất nông nghiệp tự
cung tự cấp đã không thoả mãn yêu cầu của nhân dân trong nước do sự bành

cao sang làm việc cho họ. Nguồn nhân lực tại các nước đang phát triển bị thiệt hại
nặng nề, đặc biệt là nguồn nhân lực có kĩ năng cao.
Quá trình tự do hoá thương mại đã kéo theo nhiều vấn đề, ảnh hưởng xấu đến
nền văn hoá, lối sống tại các nước đang phát triển, du nhập nhiều sách báo, văn
hoá phẩm không lành mạnh, làm cho nhận thức của người dân bị sai lệch, do ảnh
hưởng của lối sống nước ngoài; tình trạng xung đột bạo lực ngày một gia
tăng...Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, do tình trạng khai thác bừa bãi, các
chất độc hại của các khu công nghiệp thải ra môi trường không kiểm soát được.
Trong xã hội, tình trạng bất bình đẳng ngày càng trầm trọng, người giàu càng giàu
thêm, người nghèo càng nghèo đi, sự bất bình đẳng vốn đã ngấm ngầm trong xã
hội về giai cấp, sắc tộc, màu da... hiện nay càng trở nên rõ rệt và sâu sắc hơn bao
giờ hết.
2.2 Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với các nền kinh tế đang phát triển
trong qúa trình thực hiện các hiệp định của WTO.
2.2.1 Hiệp định về tự do hàng nông sản.
2.2.1.1 Nội dung:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status