BÀI TẬP NHÓM
Môn: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài: Chính sách xuất khẩu gạo của Thái Lan
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Hoàng Việt
Nhóm thực hiện: Nhóm 22
Mai Thị Hồng Thắm MSV: 0951010570
Nguyễn Thị Hồng Tuyết MSV: 0951010605
Nguyễn Thị Chinh MSV: 0951020189
Trương Thị Thu Hằng MSV: 0951010628
Hoàng Tố Quỳnh MSV: 0951010649
Đặng Thị Minh Thư MSV: 0951020201
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH
I. Tổng quan về chính sách xuất khẩu và nền kinh tế Thái Lan nói chung
cũng như chính sách xuất khẩu gạo nói riêng
II. Điều kiện thuận lợi để Thái Lan xuất khẩu gạo
III. Các chính sách sản xuất, xuất khẩu gạo chính của Thái Lan:
1. Về sản xuất
2. Về xuất khẩu
3. Về tiếp thị
4. Chính sách giá gạo
5. Về hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo
IV. Thành tựu đạt được từ các chính sách
Chính sách xuất khẩu gạo của Thái Lan
Đề tài: Chính sách xuất khẩu gạo của Thái Lan
“Thái Lan đã thống lĩnh ngôi vị vô địch quá lâu, bây giờ là lúc phải nhường ngôi
vị đó cho nước khác, tôi nghĩ đó là Việt Nam.”, đây là lời phát biểu của ông Vichai
Sriprasert, Chủ tịch danh dự của Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái Lan trước khi Thái Lan
áp dụng chính sách giá gạo mới. Thật vậy, kể từ năm 1962 Thái Lan luôn là nước có sản
lượng xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. năm 2006 Thái Lan đã đạt được con số xuât khẩu
gạo là 29,5 triệu tấn và đạt kỷ lục là và năm 2009 với 10 triệu tấn gạo. Tuy nhiên, gần
một nửa dành cho việc trồng lúa). Thêm vào đó, con người Thái Lan chăm chỉ, cần cù,
yêu lao động, có nhiều kinh nghiệm trong nghề nông. Chính phủ Thái Lan thông qua các
chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất lúa gạo của Thái Lan phát triển.
3
Chính sách xuất khẩu gạo của Thái Lan
Trong những năm qua, nhận thấy được những lợi ích to lớn mà ngành sản xuất lúa gạo
mang lại, chính phủ Thái Lan đã xây dựng chiến lược nhằm phát triển việc xuất khẩu
gạo.
Năm 2001, Shinawatra Thaksin lên nắm quyền và giới thiệu chính sách giá gạo tối thiểu.
Chính sách giá tối thiểu đảm bảo chức năng như một chương trình thế chấp, trong đó
nông dân có thể được vay vốn lãi suất thấp từ chính phủ. Tuy chính sách này rất tốn kém,
nhưng vẫn mang lại hiệu quả ……. Tuy nhiên, khi chính phủ Thái Lan công bố về việc
áp dụng chích sách giá gạo mới năm 2011 này, qua việc tăng giá gạo 40%- 50%, chắc
chắn sẽ gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Thái Lan và có tác động đến thị trường gạo
thế giới.
II. Điều kiện thuận lợi để Thái Lan xuất khẩu gạo:
Thái Lan là một nước có kích thước trung bình nằm trong khu vực Đông Nam Á và
chung ranh giới với bốn quốc gia khác, Lào, Cam-pu-chia, Malaysia và Miến Điện. Thái
Lan cũng giáp với hai vùng biển Vịnh Thái Lan và Biển Đông ở phía đông và biển
Andaman và Ấn Độ Dương ở phía tây.
Thái Lan chịu ảnh hưởng chính của khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm có 2 loại gió
mùa chính: gió mùa Tây Nam nhiều mây, ấm mưa nhiều (vào giữa tháng 05 tới tháng
09), gió mùa đông bắc khô mát ( vào tháng 11 tới tháng 03). Vùng eo đất phía Nam của
Thái Lan đặc biệt là luôn nóng và ẩm.Thái Lan tập trung nhiều đồng bằng ở miền Trung.
Ở phía đông có một vùng bình nguyên rộng lớn tên là Khroat. Đó là những vùng đất rất
thích hợp, thuận lợi cho việc phát triển ngành trồng lúa ở Thái Lan. Một trong những
thuận lợi của Thái Lan là có rất nhiều con sông mang nhiều phù sa: sông Mê Kong, sông
Mê nam, sông Chao Pharaya…Do chịu sự ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên
lượng mưa trung bình năm rất lớn là 1200 mm.
Thái Lan có truyền thống lâu đời trong sản xuất lúa gạo. Với diện tích đất lúa canh tác
đáng kể của nền kinh tế Thái và lực lượng lao động trên đất nước này. Vì vậy, các chính
sách trong sản xuất lúa gạo luôn là mối quan tâm hàng đầu của chính phủ Thái Lan.
III. Các chính sách sản xuất, xuất khẩu gạo chính của Thái Lan:
1. Về sản xuất:
Trong sản xuất, Thái Lan thừa nhận, trong quá khứ khủng hoảng lương thực hiếm khi
xảy ra. Nhưng trong tương lai rất có thể khủng hoảng lương thực xảy ra thường xuyên
hơn. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân: chiến tranh, thiên tai, biểu tình, đình công
quy mô lớn kéo dài hoặc do giá nhiên liệu tăng ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo. Ngoài ra,
nông dân có xu hướng gieo trồng những loại cây khác thay thế lúa để sản xuất năng
lượng sinh học, do cho thu nhập cao hơn lúa.
Do đó, ổn định sản xuất lương thực, đặc biệt là sản xuất lúa là một trong những nhiệm vụ
quan trọng trong bối cảnh hiện tại. Phương hướng để kiểm soát khủng hoảng lương thực
là đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng nông nghiệp và đầu tư nghiên cứu về lúa gạo một
cách nghiêm ngặt hơn, nhằm tìm ra bí quyết cải thiện quá trình sản xuất và mở rộng
những vùng trồng lúa trên thế giới. Song, điều này chỉ khả thi khi những vùng có diện
tích trồng lúa đó có chính sách an ninh ổn định, cũng như tình trạng kinh tế tốt, kể cả sự
ủng hộ của Chính phủ về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trực tiếp đến với người trồng lúa.
Một số nước khác đầu tư tiền bạc để mua nhiều đất trồng lúa hơn. Còn Thái Lan duy trì
vị trí nước đứng hàng đầu xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới bằng cách cải thiện và
phát triển chất lượng lúa gạo ngày càng tốt hơn. Do đó Thái Lan quan tâm đầu tư nhiều
hơn cho nghiên cứu chọn tạo giống lúa. Và cũng xác định rõ ràng chiến lược quy hoạch
các vùng gieo trồng các loại lúa chất lượng khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu khác
nhau của khách hàng. Từ đó, tăng khả năng cạnh tranh và kích thích khách hàng lựa chọn
loại gạo đặc biệt và độc nhất của họ để nhập khẩu cho nhu cầu tiêu thụ của người dân ở
nhiều nước trên thế giới.
Theo Bộ trưởng Nông nghiệp Thái Lan Somsak Thepsuthin, "mở rộng hệ thống tưới tiêu
và phục hồi độ màu mở của đất là phương tiện then chốt để đạt được những mục tiêu
trên". Bộ Nông nghiệp Thái Lan đã quyết định chi hai tỉ baht cho những dự án tưới tiêu
nhằm đẩy mạnh sản lượng lúa ở những vùng thiếu nước và cho nông dân vay 10 tỉ baht
5
khoảng một tháng lưu trữ giữa thu hoạch và buôn bán. Chính sách thời gian lưu trữ của
Thái Lan đóng một vai trò thiết yếu trong trong thương mại quốc tế . Do thời gian lưu trữ
ngắn , mùa không ảnh hưởng đến giá tại cổng trang trại và chi phí tiếp thị được giảm .
Trong hệ thống tiếp thị cấp địa phương có 5 bộ phận chủ yếu là : nông dân địa phương,
thương nhân, môi giới, tổ chức nông dân và cơ quan chính phủ. Có một số nông dân bán
gạo của họ trực tiếp đến các nhà máy xa . Có hai loại ở tổ chức nông dân cấp địa
phương . Người đầu tiên là tổ chức nông dân. Đây là một đơn vị pháp lý gồm ít nhất 30
người nông dân cùng nhau hoạt động trong tiếp thị, tuyển dụng và mua lại từ các cơ sở
… và đôi khi họ còn tổ chức các hoạt động vận chuyển, thiết bị hay lưu trữ. Họ cũng có
6
Chính sách xuất khẩu gạo của Thái Lan
thể thực hiện các giao dịch tài chính. Các nhóm nông dân có thể bán lúa trực tiếp cho
thương nhân hoặc tự xay xát .
Hình thức thứ hai của tổ chức là hợp tác xã nông nghiệp thu thập lúa từ các thành viên và
vận chuyển đến hợp tác xã lớn hơn để xay xát . một số hợp tác xã xay xát gạo cho các
thành viên và bán ra thị trường . Và chỉ có rất ít hợp tác xã nông nghiệp chuyên xay xát
và tiếp thị gạo ra thị trường . Chính phủ Thái Lan cũng hoạt động ở cấp địa phương trong
hệ thống tiếp thị gạo. Chính phủ có các đại lý mua lúa trực tiếp từ nông dân đảm bảo ở
mức giá tối thiểu thường cao hơn giá thị trường.
b. Hệ thống tiếp thị gạo:
Từ cấp địa phương và trung ương, tất cả lúa gạo đều phải qua xay xát, đó là nới các
hoạt động xử lí diễn ra trước khi được bán ra thị trường .có các loại xay xát nhỏ vừa và
lớn , và trong đó xay xát nhỏ phục vụ cho nông dân và nhữn làng tiêu thụ, những nhầ
máy xay xát có kích thước lớn và trung bình của địa phương ,khu vực và đôi khi còn cho
thị trường xuất khẩu .
Từ xay xát gạo có thể có nhiều con đường để đi tới đích cuối cùng, lượng gạo lớn nhất
được mua bởi các nhà môi giới người có thể giúp các nhà xuất khẩu và bán buôn tìm
được những giống lúa có phẩm chất tốt nhất. Có hơn 100 công ty xuất khẩu ở Thái Lan
và họ chiêm một khu vực mạnh mẽ trong công nghiệp lúa gạo. Do chính sách thế chấp
chính phủ đã tăng lượng mua của mình đối với mặt hàng gạo và do đó cũng tăng xuất
Trước mắt, người nông dân Thái Lan sẽ được hưởng lợi từ chính sách bảo hộ giá
gạo của chính phủ Thái Lan, khi giá trị sản phẩm của họ tăng lên. Trong cương l„nh chính
sách mới, Chính phủ sẽ sớm thực thi "Dự án bảo đảm thu nhập cho nông dân", giá lúa
bảo hộ tối thiểu là 15 nghìn bạt/tấn, lúa hương nhài chất lượng cao 20 nghìn bạt/tấn. Mức
giá này cao hơn khoảng 40% so với giá thị trường hiện nay. Điều này góp phần làm dịu
khó khăn cho nông dân nhằm tăng thu nhập cho người trồng lúa. Số liệu của Tổ chức
Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc cho thấy, giá lương thực quốc tế hiện nay
tiếp cận mức cao kỷ lục. Tuy nhiên, so với các loại lương thực khác thì giá gạo vẫn dao
động ở mức thấp, thu nhập của người trồng lúa Thái Lan tăng chậm chạp, kinh tế nông
thôn tiêu điều.
Tuy nhiên, phần lớn các nhà xuất khẩu lo lắng, sau khi chính sách mới nâng cao giá
gạo, vị thế nước xuất khẩu gạo số 1 thế giới trong mấy chục năm qua của Thái Lan rất có
thể sẽ nhường lại cho nước khác. Thái Lan sẽ mất đi sức cạnh tranh so với các quốc gia
Châu Á khác. Việt Nam và Ấn Độ sẽ tranh thủ cơ hội để chiếm l„nh thị trường. Giới xuất
khẩu gạo Thái Lan cho rằng, chính sách mới sẽ làm cho giá gạo ở Thái Lan tăng 25%.
Chỉ số giá gạo xuất khẩu của Tổ chức Lương Nông Liên Hợp Quốc (FAO) đã chạm kỷ
lục tính từ năm 2009. Trong tình hình đó chính sách nói trên của Thái Lan lại giống như
“lửa cháy đổ thêm dầu”. Chính sách mới không những sẽ làm cho giá gạo ở Thái Lan gia
tăng, mà còn tác động tới giá gạo thế giới. Một số chuyên gia kinh tế quan ngại, do châu
Á chiếm tới 87% lượng tiêu thụ gạo của toàn cầu, chính sách mới về gạo của Thái Lan rất
có thể sẽ mang lại áp lực lạm phát lớn hơn cho châu Á. Về lâu dài, chính sách này sẽ tạo
ra sức ỳ cho ngành nông nghiệp trong nước, trong khi gánh nặng bảo hộ lại đặt trên vai
các tầng lớp dân cư khác, đồng thời nó còn làm méo mó cơ chế phân công lao động và
phân bổ nguồn lực hữu hiệu của thị trường.
Hiện nay, các nhà nhập khẩu gạo nước ngoài vẫn chưa có phản ứng gì đối với giá gạo
Thái Lan tăng cao. Sô liệu cho thấy, năm 2010 Thái Lan xuất khẩu 9,05 triệu tấn gạo, dự
kiến năm 2011 sẽ đột phá 10 triệu tấn. Tổ chức Lương-Nông Liên Hợp Quốc khu vực
châu Á-Thái Bình Dương cho rằng, giá gạo Thái Lan gia tăng một mặt sẽ kích thích các
nước lớn khác về xuất khẩu gạo tăng thêm sản lượng, mặt khác người tiêu dùng sẽ
chuyển sang sử dụng các loại thực phẩm thay thế khác, như lúa mì và ngô. Bởi vậy, hiệu
trong năm 2007, Thái Lan xuất khẩu chiếm khoảng 30% tổng sản lượng xuất khẩu gạo
thế giới.
Tổng diện tích đất canh tác ở Thái Lan chiếm tới 20.900 nghìn ha trong đó khoảng một
nửa là dành cho việc trồng lúa. Từ cuối những năm 1960 cho đến đầu những năm
1980, đất dành cho trồng lúa được mở rộng nhanh chóng do thành tựu đạt được từ cuộc
Cách mạng Xanh và những nỗ lực để tăng sản xuất lúa gạo. Sản xuất tăng từ 12,4 triệu
tấn đến 21,2 triệu tấn lúa trong hai thập kỷ đầu tiên của cuộc cách mạng ( IRRI,
2000).Trong năm 2006, tổng sản lượng lúa gạo là 29,5 triệu tấn, theo USDA, Thái Lan
sản xuất khoảng 18,4 triệu tấn gạo xay xát trong năm 2007. Trong tổng số gạo xay xát,
khoảng 9 triệu tấn được xuất khẩu, làm cho Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo lớn
nhất trên thế giới với thị phần chiếm khoảng 30% tính từ tất cả các loại giống và chất
lượng cộng lại. Trong 50% tổng lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan chủ yếu là loại gạo
hạt dài chất lượng cao có giá cao nhất trên thị trường (Vanichanont, 2004, trang 4). Thái
Lan có thể tăng lượng xuất khẩu hàng năm, như là kết quả của một sự kết hợp của sản
xuất tăng và giảm của bình quân tiêu thụ đầu người trong nước(IRRI, 2000).
Trong khoảng thời gian từ năm 1960 và 1980, Thái Lan đã đầu tư đáng kể trong phát
triển nông nghiệp, đặc biệt là trong hệ thống thủy lợi, mạng lưới giao thông đường bộ,
9
Chính sách xuất khẩu gạo của Thái Lan
phương tiện tiếp thị vànghiên cứu nông nghiệp và mở rộng, ở nhiều nơi của đất nước. Sự
gia tăng về cường độ canh tác lúa và trong việc áp dụng các giống lúa hiện đại giúp tái
sinh tăng trưởng trong sản xuất.
Xuất khẩu gạo Thái được xem là đạt mức cao kỷ lục mới trong năm 2004. Thái Lan xuất
khẩu 7,58 triệu tấn gạo trong năm 2003,khối lượng cao nhất trong lịch sử của đất nước.
Từ tháng 1- tháng 7 năm 2004, Thái Lan xuất khẩu gạo lên tới 5.600.000 tấn, trị giá 1.5 tỉ
USD, tăng 43% về khối lượng và 65% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Trong năm 2008, Thái Lan xuất khẩu khoảng 10 triệu tấn gạo, chiếm khoảng 33% thương
mại gạo thế giới. Theo Hội đồng Thương mại Thái Lan, các nhà nhập khẩu lớn nhất
của gạo trong năm 2009 là Trung Quốc, Hoa Kỳ, và Malaysia.
Dựa trên dữ liệu thống kê gạo thế giới (FAO, 2008), diện tích thu hoạch lúa thô là
ỷ lại vào chính phủ. Tuy rằng, chính sách giá gạo mới này chưa có tác động cụ thể nào
tới sản xuất và xuất khẩu gạo của đất nước Thái Lan, có thể tác động xấu hay mang lại
nguồn lợi lớn cho Thái Lan nhưng đây vẫ là một cách đi táo bạo và Thái Lan rất đáng
khen khi dám áp dụng chính sách giá gạo mới này.
12
Chính sách xuất khẩu gạo của Thái Lan
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Economic factors affecting rice production in Thailand (Kwinarajit Sachchamarga và
Gary W. Williams, Nghiên cứu TAMRC quốc tế Báo cáo số IM-03-04, tháng 3 năm
2004)
Rice price policy in Thailand, poliicy making and recent development (Sara Forssell,
Tháng 10 năm 2008)
Tạp chí kinh tế châu Á số 17 (Journal of Asian Economics 17 (2006) 103–125)
http://www.thailand.com/exports/html/industry_worldriceexport.htm
http://www.thailand.com/exports/html/industry_riceproduction.htm
http://danviet.vn/61685p1c24/nhin-tu-viec-nang-gia-gao-cua-thai-lan.htm
www.thairiceexporters.or.th/
www.thairiceexporters.or.th/price.htm
www.foodmarketexchange.com/ /rice/detail/dc_pi_gr_rice0502.htm
www.bbc.co.uk/news/business-15195058
www.riceland.co.th/news.html
13