Chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo của Mỹ - Pdf 10

Chính sách trợ cấp gạo của Hoa Kỳ Môn: Chính sách TMQT
LỜI MỞ ĐẦU

Có thể nói rằng gạo là một hàng hóa thực phẩm quan trọng nhất, là khẩu phần ăn
chính trong hơn một nửa dân số, đặc biệt là những nước nghèo và là một trong năm lượng
calo chính được tiêu dung trên toàn cầu. Trong khi đó gạo cũng chính là một mặt hàng được
trợ cấp và bảo hộ bởi sự can thiệp của chính phủ nhiều nhất.
Mức thuế suất đánh vào gạo nhập khẩu trên thế giới trung bình là 43% theo World
Bank. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới ước tính: các khoản trợ cấp chính phủ và
hang rào thương mại đã cung cấp hơn 3/4 thu nhập của những người nông dân xét một cách
tổng thể tại các nước thành viên OECD. Những người tiêu dung ở các nước có thị trường
gạo được bảo hộ đã phải trả một giá cao gấp 4 lần so với giá gạo trên thế giới, từ đó đã làm
giảm mức sống của người tiêu dung. Ở những nước giàu có hơn thì những người đóng thuế
phải đóng thêm hang tỉ đôla để trợ cấp cho những người nông dân và hơn nữa là sự bóp méo
thị trường gạo thế giới bởi các trợ cấp xuất khẩu. Hàng chục triệu người nông dân ở những
nước nghèo thấy khó khăn để đưa gia đình ra khỏi cảnh nghèo đói bởi sự can thiệp của các
chính sách ở các nước khác khiến cho giá gạo đang trở nên thấp hơn và không ổn định.
Chính sách gạo của Mỹ không phải là một ngoại lệ. Tuy luôn kêu gọi các quốc gia
trên thế giới gỡ bỏ rào cản thương mại nhưng xem xét kỹ hơn, nhóm chúng em nhận thấy
mặt hàng gạo nói riêng và nông sản của Mỹ nói chung lại được trợ cấp theo một hệ thống vô
cùng tinh vi và không công bằng. Ngoài việc đánh thuế vào gạo nhập khẩu, chính phủ Mỹ đã
trợ cấp sản xuất gạo trong nước thông qua ba chương trình trợ cấp chủ yếu: thanh toán trực
tiếp, trợ cấp không theo định kỳ, và cung cấp các khoản cho vay bán hàng kết hợp với các
biện pháp khuyến khích xuất khẩu. Cảm thấy hấp dẫn trước vấn đề này cũng như các tác
động của những biện pháp trợ cấp này lên các nước xuất khẩu gạo khác trên thế giới và cả
ngành nông nghiệp của Mỹ, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài nghiên cứu là “Chính
sách khuyến khích xuất khẩu gạo của Mỹ”.
Do hạn chế về tầm hiểu biết cũng như nguồn tài liệu (phần lớn nguồn tài liệu tham
khảo bằng tiếng Anh), bài nghiên cứu của chúng em khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng
em mong cô góp ý, giúp đỡ để bài của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cám ơn cô!

khẩu của thế giới (%)
13%
Nguồn: Tính toán của CRS dựa trên số liệu hàng năm của USDA, FSA
1.2. Chính sách xuất khẩu gạo của Mỹ:
Gạo luôn được thừa nhận là loại lương thực quan trọng nhất và cũng là mặt hàng
được bảo hộ và trợ cấp nhiều nhất trên thế giới. Ngoài hình thức bảo hộ bằng thuế quan, hạn
ngạch thuế quan, một số hàng rào thương mại khác được dựng lên như trợ cấp trong nước và
trợ cấp xuất khẩu. Những hình thức bảo hộ và khuyến khích xuất khẩu này đã không còn lạ
lẫm trên thị trường thế giới. Các hàng rào bảo hộ và trợ cấp sản xuất (trong nước và xuất
khẩu) góp phần đem lại ¾ thu nhập cho người nông dân ở các quốc gia phát triển.
Các chính sách hỗ trợ ngành sản xuất gạo của Mỹ cũng không phải là một ngoại lệ.
Đứng đầu trong hàng rào bảo hộ mặt hàng gạo của Mỹ là ba chương trình trợ cấp trong
nước: thanh toán trực tiếp, trợ cấp phi định kỳ và các khoản cho vay hỗ trợ nông nghiệp.
Mặc dù là những khoản trợ cấp trong nước nhưng chúng lại đóng vai trò khuyến khích xuất
khẩu gián tiếp. Ngoài ra Mỹ còn dành một phần lớn doanh thu của mình để trợ cấp xuất
khẩu.
3
Nhóm 20 – K44C - KTNT
Chính sách trợ cấp gạo của Hoa Kỳ Môn: Chính sách TMQT
1.2.1. Thanh toán trực tiếp (Direct payment - DP):
a) Khái niệm:
- Đối tượng áp dụng : Ngoài gạo, số tiền thanh toán trực tiếp còn được cấp cho một
số loại nông sản như lúa mì, ngô, lúa mạch, lúa miến, yến mạch, bông (theo dự luật nông sản
2002)
- Điều kiện:
+ Để nhận được khoản trợ cấp này thì người nông dân phải tham gia vào các hiệp
định hàng năm từ năm 2002 đến năm 2007.
+ Người nông dân được tự do lựa chọn loại cây trồng, trừ hoa quả, rau, gạo hoang
(wild rice). Diện tích đất trồng này phảI nằm trong diện tích sử dụng nông nghiệp (Diện tích
sử dụng nông nghiệp là diện tích đất để trồng các cây nông nghiệp, trồng cỏ và thả súc vật

tối thiểu đến thương mại và sản xuất?
Mỹ là một thành viên luôn chậm trễ trong việc thông báo tình hình trợ cấp lên WTO.
Lần cuối cùng Mỹ b áo cáo lên WTO về tình hình trợ c ấp nông nghiệp là năm 2001. Khi đó,
chỉ có trợ cấp PFC chứ không có trợ cấp DP. Lúc đó Mỹ xếp PFC vào nhóm các biện pháp
hộp màu xanh lá (các biện pháp không gây ảnh hưởng hoặc gây ảnh hưởng một cách tối
thiểu lên sản xuất và thương mại; thuộc nhóm biện pháp trợ cấp thu nhập bóc tách khỏi sản
xuất, không phải cam kết cắt giảm mức trợ cấp). Trong đạo luật nông sản năm 2002, Mỹ
mới thay trợ cấp PFC bằng trợ cấp DP nhưng chưa hề thông báo lên WTO, và như vậy Mỹ
vẫn coi biện pháp thanh toán trực tiếp thuộc nhóm biện pháp hộp màu xanh lá. Mỹ cho rằng
các khoản trợ cấp trực tiếp cũng này không có liên quan với việc sản xuất của các nông sản
cụ thể, sản lượng và giá nông sản. Diện tích trồng trọt để đưa ra tính trợ cấp không phải diện
tích hiện tại mà là diện tích được tính trợ cấp trong chương trình PFC hoặc mức diện tích
trung bình trong 4 năm 1998 - 2001. Điều này nghĩa là chỉ cần nông dân hoặc bất kỳ ai sở
hữu mảnh đất đã từng đượcc sử dụng để gieo trồng một số loại cây quy định được trợ cấp
theo Đạo luật nông sản 2002 thì sẽ nhận được khoản thanh toán trực tiếp mà không nhất
thiết trong thực tế phải tiến hành gieo trồng chúng. Vì vậy, theo Mỹ biện pháp này không
gây ảnh hưởng đến sản xuất và thương mại.
Tuy nhiên, trong thực tế, biện pháp thanh toán trực tiếp của Mỹ không đáp ứng được
đầy đủ các yêu cầu của nhóm các biện pháp hộp màu xanh lá, tức là không phải chỉ gây ảnh
hưởng một cách tối thiểu đối với thương mại và sản xuất do khoản trợ cấp này của Mỹ
không được áp dụng cho hoa quả, rau và gạo hoang. Điều này dẫn tới việc nông dân trồng
những loại cây này sẽ không được nhận trợ cấp. Theo như hiệp định nông nghiệp - phần
XIII - phụ lục 2 - hỗ trợ trong nước: cơ sở để miễn trừ cam kết cắt giảm - các chương trình
dịch vụ của chính phủ - mục 6 - khoản b: Hỗ trợ thu nhập bóc tách khỏi sản xuất được miễn
trừ cam kết cắt giảm phải có trị giá thanh toán trong một năm cụ thể sẽ không liên quan đến
hoặc dựa trên loại hình hay sản lượng (kể cả số gia súc) do nhà sản xuất đảm nhiệm trong
bất kỳ năm nào sau giai đoạn cơ sở; và theo khoản e: không được yêu cầu về sản xuất để
được nhận thanh toán loại này. Như vậy, biện pháp trợ cấp thanh toán trực tiếp không thoả
5
Nhóm 20 – K44C - KTNT

FY06 president’s budget as updates for estimates for 2005 and 2006; Farm Service Agency’s
Budget Division; Risk Management Agency;
Economic Research, U.S. Farm Income Forecasts.
Note: The bold horizontal line represents the 5 percent limit, which is the maximum for the
de minimis exemption of
non-product-specific support under WTO rules.
Do có sự vượt quá mức cho phép trong trợ cấp Deminimis mà giá trị AMS của Mỹ
trong những năm này là $29.1 tỉ (2000), $25.3 tỉ (2001), $26.3 tỉ (2002), $26.3 tỉ (2006). Tất
cả đ u v ượt mức cam k ết của Mỹ v ới WTO là $19.1 tỉ.
7
Nhóm 20 – K44C - KTNT
Chính sách trợ cấp gạo của Hoa Kỳ Môn: Chính sách TMQT
Sources: 2000 and 2001 U.S. domestic support notification to WTO; estimates of the FY06
president’s budget; Risk
Management Agency. USDA ERS value of production data, actual for 2001 and estimates for
2005 and 2006.
Note: Under this scenario, income support payments (production flexibility contract
payments and direct payments),
which were originally classified as green box, are included in the non-product-specific AMS
category.
The horizontal line represents the maximum U.S. AMS level as permitted by the WTO
($19.1 billion for the
2000–06 period).
1.2.2. Trợ cấp không theo chu kỳ (Counter – cyclical Payments):
a) Khái niệm:
- Đối tượng áp dụng (giống DP): Ngoài gạo, số tiền thanh toán trực tiếp còn được
cấp cho một số loại nông sản như lúa m ì, ngô, lúa mạch, lúa miến, yến mạch, bông (theo dự
luật nông sản 2002)
- Mục đích: Khoản trợ cấp này nhằm hỗ trợ và làm ổn định thu nhập nông dân khi
giá hàng hóa thấp hơn giá mục tiêu.

quá so với diện tích đất trồng trọt đang sử dụng.
• Chọn mức diện tích trung bình được trồng trọt trong 4 năm
cộng thêm phần diện tích không thể trồng trọt được do điều kiện thời tiết trong các
năm 1998-2001.
+ Diện tích đất được tính trợ cấp bằng 85% diện tích cơ sở.
+ Nông dân có ba cách lựa chọn payment yield:
• Sử dụng các payment yield hiện tại
• Thêm 70% kho ản chênh lệch giữa program yields và yield
trung bình của nông trại trong thời kỳ các năm1998-2001 vào program yields
• Sử dụng 93.5% của yield trung bình các năm 1998-2001
+ Giới hạn của khoản trợ cấp không theo chu kỳ này là $65000 / người / năm vụ mùa
và qui luật ba thực thể vẫn được áp dụng. Việc áp dụng qui luật này tương tự với thanh to án
trực tiếp.
b) Phân tích:
CCP là một khoản trợ cấp mới được đưa vào đạo luật nông sản 2002, do đó cũng
chưa được báo cáo lên WTO. Tuy nhiên, trên cơ sở những cuộc thảo luận không chính thức
của USDA và theo như kết quả của vụ Brazil kiện các khoản trợ cấp bông của Mỹ năm
2004, khoản trợ cấp không theo chu kỳ của Mỹ đối với mặt hàng bông nói riêng và các mặt
hàng nông sản trong chương trình nói chung, trong đó có mặt hàng gạo phải được xếp vào
nhóm các biện pháp màu hổ phách vì chúng có liên quan đến giá thị trường, nhưng thuộc
nhóm các biện pháp không áp dụng cụ thể đối với từng mặt hang vì chúng không yêu cầu
nông dân phải sản xuất một loại nông sản cụ thể nào.
9
Nhóm 20 – K44C - KTNT
Chính sách trợ cấp gạo của Hoa Kỳ Môn: Chính sách TMQT
1.2.3. Các khoản hỗ trợ cho vay nông nghiệp (Marketing Loan Assistance -
MLA):
a) Khái niệm:
- Đối tượng áp dụng: Các khoản hỗ trợ cho vay nông nghiệp của Mỹ được áp dụng
cho một số mặt hàng: gạo, ngô, lúa mì, lúa miến, lúa mạch, bông, đậu nành, hạt dầu, lạc, len,

Chính sách trợ cấp gạo của Hoa Kỳ Môn: Chính sách TMQT
+ Sản phẩm (gạo) bị kiểm soát. Nông dân nào bị khởi tố theo luật của liên bang hoặc
của bang vì gieo trồng, sản xuất, thu hoạch, chế biến, tích trữ sản phẩm (gạo) đang bị kiểm
soát sẽ không được nhận khoản vay cho mùa vụ năm đó và cho mùa vụ 4 năm sau.
+ Sử dụng diện tích đất gieo trồng: Nông dân hàng năm phải báo cáo diện tích đất
gieo trồng và tình hình sử dụng diện tích đó.
+ Nông dân có thu nhập cộng gộp điều chỉnh hơn $2.5 triệu trung bình trong 3 năm
không thuộc diện nhận trợ cấp, trừ khi 75% khoản thu nhập này có nguồn gốc từ hoạt động
nông nghiệp.
- Khoản vay này có thể được trả lại theo 3 cách:
+ Theo tỉ lệ cho vay + tiền lãi tích luỹ (t nh bằng lãi suất mà CCC phải trả cho Kho
bạc Nhà nước +1% điểm).
Tiền lãi tích luỹ là tổng số lãi phát sinh trong thời gian khoản vay chưa được trả;
tính từ ngày nông dân bắt đầu nhận tiền vay.
Tiền lãi tích luỹ = lãi suất áp dụng * (số ngày vay / tổng số ngày trong năm) * tiền
vay ban đầu.
+ Chuyển giao lượng gạo cầm cố cho CCC khi khoản vay đáo hạn
Khoản vay đáo hạn vào ngày cuối cùng của tháng thứ 9 tính từ tháng mà nông dân
nhận khoản vay.
+ Theo một tỉ lệ hoàn trả khác.
Tỉ lệ hoàn trả khác được tính trên cơ sở CCC dự tính giá của thị trường cạnh tranh.
- Cơ chế:
+ Khoản lời từ tiền vay (Market Loan Gain - MLG):
Chính phủ áp dụng hình thức hỗ trợ cho vay khi mức giá thế giới điều chỉnh do
USDA quy định thấp hơn tỉ lệ cho vay. Đến khi thanh toán, nông dân được phép trả lại
khoản vay này với một tỉ lệ thanh toán thấp h ơn mức khi vay + tiền lãi tích luỹ) (accured
interest). Tỉ l ệ thanh toán được xác định trên cơ sở giá thị trường thế giới phổ biến được
tính lại hàng tuần. Khi trả lại số tiền vay theo giá thị trường thế thới phổ biến như vậy, người
nông dân được hưởng khoản tiền chênh lệch giữa tỉ lệ cho vay và tỉ lệ thanh toán gọi là
khoản lợi từ tiền vay (MLG) . Tỉ lệ cho vay của mặt hàng gạo (rough rice ) giữ nguyên từ

Việc sử dụng chứng chỉ hàng hoá như vậy giúp hạn chế hành động gán hàng lại cho
chính phủ, giảm luợng hàng hoá dư thừa được chính phủ tích trữ khá nhiều , tốn nhiều chi
phí lưu kho mà giá thành hàng hoá lại đang giảm. Đồng thời, sử dụng chứng chỉ hàng hoá
còn là giúp nông dân có cơ hội hưởng lợi từ tỉ lệ hoàn trả thấp bời chũng không phải chịu
một mức giới hạn trợ cấp nào như đối với MLG và LDP.
- Quy định về 3 thứ thuế được áp dụng giống hai biện pháp trợ cấp thanh toán trực
tiếp và trợ vấp không theo chu kỳ
b) Phân tích:
MLA là khoản trợ cấp gây biến dạng lớn hoạt động thương mại
12
Nhóm 20 – K44C - KTNT
Chính sách trợ cấp gạo của Hoa Kỳ Môn: Chính sách TMQT
- MLA l à khoản trợ cấp nhằm khuyến khích sử dụng hàng trong nước hơn hàng
nhập khẩu,
Khi giá thế giới xuống thấp (thấp hơn tỉ lệ cho vay, có khi thấp hơn cả chi phí sản
xuất). nếu không được nhận trợ cấp, gạo cảu Mỹ sẽ không thể cạnh tranh được với gạo nhập
khẩu từ những nước có chi phí sản xuất gạo thấp như Thái Lan, Việt Nam và một số nước
đang phát triển khác. Nhờ dược trợ cấp, gạo của Mỹ vấn có thể bán ra ở thị trường trong
nước với giá thế giới và như vậy khuyến khích người dân sử dụng gạo trong nước thay vì
gạo nhập khẩu. Do đó , MLA là một khoản trợ cấp bị cấm ( theo hiệp định về trợ cấp và các
biệ pháp đối kháng - phần II - điều 3 - Khoản 1 - mục b: các khoản trợ cấp quy định khối
lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử
dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại sẽ bị cấm. )
- MLA là một khoản trợ cấp xuất khẩu bị cấm.
Theo chương trình hỗ trợ cho vay nông nghiệp, tỉ lệ cho vay đóng vai trò như một
mức giá bảo đảm. Khoản trợ cấp này phụ thuộc vào giá thị trường và tác động lên sản xuất.
Nếu giá thị trường gạo tụt xuống thấp hơn tỉ lệ cho vay, ngưòi nông dân sẽ được nhận khoản
tiền trợ cấp dưới dạng LDP hay MLG hay CEG. Như vậy, khi giá thế giới của mặt hàng gạo
ở mức thấp, khoản trợ cấp này sẽ khuyến khích nông dân sản xuất nhiều gạo hơn. Điều này
hoàn toàn trái ngược với những tín hiệu cảu thị trường là khi giá giảm thì sẽ làm giảm lượng

- Chương trình này do bộ nông nghiệp Mỹ khởi sướng và chịu trách
nhiệm.
- Mục đích:
+ Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Mỹ
+ Cạnh tranh với các nhà xuất khẩu gạo từ các nước khác
+ Hỗ trợ các quốc gia, đặc biệt các nước đang phát triển đáp ứng nhu cầu
lương thực, chất xơ cho người dân.
+ Mục đích khác do bộ trưởng bộ nông nghiệp xác định phù hợp, thống nhất
với
các yêu cầu trong điều khoản của §1493.6.
• Phát triển, mở rộng hoặc duy trì thị trường nước ngoài cho
việc buôn bán, xuất khẩu nông sản trong đó có mặt hàng gạo của Mỹ mà không
thay thế sản lượng thương mại th ông th ư ờng ở quốc gia nhập khẩu trên cơ sở
dài hạn.
• Tăng khả năng mua và sử dụng nông sản trong đó có mặt
hàng gạo của Mỹ cho quốc gia nhập khẩu trên cơ sở dài hạn.
• Thúc đẩy xuất khẩu nông sản trong đó có mặt hàng gạo
của Mỹ.
- Nội dung: Chương trình này nhằm khuyến khích hoạt động xuất
khẩu tới các quốc gia mà tín dụng là cần thiết trong việc duy trì và nâng cao khả
14
Nhóm 20 – K44C - KTNT
Chính sách trợ cấp gạo của Hoa Kỳ Môn: Chính sách TMQT
năng xuất khẩu của Mỹ, tuy nhiên ở những quốc gia này, vấn đề tài chính không
được đảm bảo nếu không có sự đảm bảo từ phía Hiệp hội tín dụng của USDA.
b) Chương trình bảo lãnh tín dụng xuất khẩu (GSM – 102) và chương trình bảo
lãnh tín dụng xuất khẩu trung gian (GSM – 103):
- Chương trình báo lãnh tín dụng xuất khẩu của USDA đảm bảo rằng
tín dụng sẽ được dùng để tài trợ cho nông sản xuất khẩu của Mỹ bằng cách cung cấp
các điều khoản tín dụng có tính chất cạnh tranh cho bên nhập khẩu như vậy sẽ bảo

phẩm một khoản tín dụng trực tiếp trong ngắn hạn. Để làm được viêc này, HIệp hội
tín dụng (CCC) của USDA giảm bớt những rủi ro tài chính cho các nhà xuất khẩu
Mỹ bằng cách đảm bảo một tỉ lệ lớn trong tổng giá trị hợp đồng mua bán sẽ được
thanh toán bởi nhà nhập khẩu trong thời gian 180 ngày. Nói cách khác, các nhà nhập
khẩu có thể chậm thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định mà các nhà xuất
khẩu vẫn vui vẻ đồng ý vì họ có sự đảm bảo của USDA. Rõ ràng, sự trợ giúp này, sẽ
khiến các hợp đồng xuất khẩu được kí kết dễ dàng hơn.
- Điều kiện duy nhất đối với các nhà nhập khẩu là sự xác nhận
chính thức và đảm bảo thanh toán của họ về việc trả chậm.
- Giới hạn bảo lãnh: thấp hơn so với GSM – 102 và GSM – 103,
chỉ khoảng 65 % giá trị của khối lượng nông sản Mỹ (gạo) được xuất khẩu cộng với
một tỉ lệ lãi dựa trên tỉ lệ của ngân hàng thế giới Luân Đôn (LIBOR). Việc thu xếp
sau này giữa ngân hàng và nhà nhập khẩu nước ngoài thực hiện hoàn toàn tách biệt
và nhà bảo lãnh CCC không bảo lãnh cho những khoản này.
d) Chương trình đảm bảo đi ều kiện thuận lợi cho xuất khẩu ( Facility Guarantee
Program) :
- Chương trình này do USDA thay mặt CCC quản lý.
- Cơ chế:
+ Tăng lượng nông sản (gạo) xuất khẩu của Mỹ sang các thị trường mới nổi.
Một thị trường mới nổi theo định nghiã của bộ trưởng bộ nông nghiệp phải
có 2 đặc điểm:
o Đang từng bước tiến lên một nền kinh tế thị trường thông qua khu
vực nông nghiệp.
o Có tiềm năng trở thành một thị trường lớn cho hàng nông sản (gạo) c
ủa M ỹ.
Các thị trường này không đủ khả năng lưu kho, chế biến, buôn bán. Điều này
làm hạn chế tiềm năng thương mại của các thị trường này. Các dịch vụ để tạo điều
kiện thuận lợi liên quan đến nông nghiệp. Ví dụ: Mỹ sẽ xuất khẩu các dụng cụ, gửi
chuyên gia sang các thị trường mới nổi để cải tiến hệ thống cảng biển, khả năng bốc
dỡ hàng hoá, lưu kho, đông lạnh, hệ thống phân phối, và các điều kiện khác nữa,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status