Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 64

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy
mạnh mẽ, là hiện tượng nổi bật nhất, thu hút nhiều sự chú ý nhất ở khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới. Sau hơn 30 năm
(1979-2010) thực hiện cải cách mở cửa, bộ mặt kinh tế xã hội Trung Quốc đã
biến đổi sâu sắc. Về nhiều mặt, Trung Quốc đang chiếm những vị trí đáng kể
trong nền kinh tế thế giới, đứng hàng đầu về tốc độ tăng trưởng với một thực
lực kinh tế không nhỏ. Đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương nói chung và
xuất khẩu hàng hóa nói riêng, Trung Quốc đã thu được nhiều thành tựu rực
rỡ: từ chỗ xếp hàng thứ 32 trên thế giới về xuất nhập khẩu (năm 1978) đến
năm 2010, Trung Quốc đã vươn lên là cường quốc xuất khẩu hàng đầu trên
thế giới với tổng kim ngạch xuất khẩu lên tới 1.578 tỷ USD, chiếm gần 10%
kim ngạch xuất khẩu của thế giới. Hơn thế nữa, vị thế và ảnh hưởng của
Trung Quốc trong thương mại quốc tế ngày càng được nâng cao, ngoại
thương Trung Quốc đang đứng trước những cơ hội mới để phát triển tốt đẹp
hơn, đặc biệt là sau sự kiện Trung Quốc đã trở thành thành viên thứ 143 của
Tổ chức thương mại thế giới ngay vào năm đầu tiên của thế kỷ XXI.
Việt Nam là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự
nhiên, dân cư, chế độ chính trị xã hội và cả về kinh tế với Trung Quốc. Cũng
1
giống như Trung Quốc, Việt Nam đang tiến hành đổi mới đất nước, hướng tới
việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, Việt Nam tiến hành mở cửa, đổi mới đất nước sau Trung Quốc 8 năm
và cho đến nay thì những thành tựu kinh tế, thành tựu phát triển ngoại thương
vẫn còn là khiêm tốn so với những thành quả to lớn của nước bạn và còn chưa
xứng với tiềm năng của chính Việt Nam. Vì vậy, để thành công hơn nữa trong
công cuộc phát triển ngoại thương Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu
hàng hóa, thì việc tham khảo bài học kinh nghiệm của Trung Quốc là rất cần
thiết.
Với lý do trên, em xin được mạnh dạn nghiên cứu vấn đề “Chính sách khuyến

Hà Nội, tháng 4 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Phạm Thu Nga
4
Chương I
TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TRUNG QUỐC
I. KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC
1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Trung Quốc là một đất nước có diện tích rộng lớn nằm ở nửa phía Bắc
của Đông bán cầu, phía Đông Nam của đại lục Á - Âu, phía Đông của Châu Á
và phía Tây Thái Bình Dương, có đường biên giới đất liền dài khoảng 22.000
km tiếp giáp với 15 quốc gia, có vùng biển rộng lớn với tuyến bờ biển dài và
rất nhiều đảo, đường biên giới trên biển dài khoảng 18.000 km. Diện tích
Trung Quốc là 960 vạn km
2
, là nước lớn nhất Châu Á, thứ 3 trên thế giới về
diện tích lãnh thổ
(1)
Với vị trí địa lý rất thuận lợi cùng với diện tích đất đai rộng lớn đã tạo ra
cho Trung Quốc những điều kiện dễ dàng phát triển mối quan hệ kinh tế, đặc
biệt là quan hệ mậu dịch với các nước và khu vực lớn ở Châu Âu, Châu Mỹ
cũng như Đông Nam Á, Australia và Trung Á.
Địa hình Trung Quốc rất đa dạng bao gồm đồng bằng, gò đồi, cao
(1)
Chuyên đề Kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa đến nay tháng 2/2003, Trung tâm nghiên cứu Trung
Quốc.
5
nguyên, bồn địa, sơn địa, hoang mạc, sa mạc xen kẽ nhau, chủ yếu là địa hình
đồi núi, chiếm 70% diện tích đất đai trong đó gần 1/3 ở độ cao trên 300m,
diện tích đất trồng trọt chỉ khoảng 100 triệu ha, độ phì nhiêu khá cao.

Tiềm năng về nguồn nhân lực của Trung Quốc là rất lớn và lâu dài. Số
người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 61% tổng dân số, trong số này có
60% là lao động nông nghiệp. Theo tính toán của Cục điều tra dân số Mỹ, dân
số trong độ tuổi lao động của Trung Quốc năm 2010 là gần 977 triệu người,
trung bình mỗi năm Trung Quốc có thêm 21 triệu người bước vào độ tuổi lao
động. Nguồn nhân lực dồi dào này cùng với truyền thống lao động cần cù,
sáng tạo và công tác giáo dục ở đây rất được coi trọng nên chất lượng lao
động ngày càng tăng lên. Đó là tài sản vô giá và là nhân tố quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước này.
3. Đặc điểm chính trị - xã hội
Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập vào ngày
01/10/1949. Sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập, Đảng cộng sản Trung
Quốc đã lãnh đạo Cách mạng Trung Quốc đi vào thời kỳ khôi phục và phát
triển kinh tế đất nước. Trong giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng

kinh tế
7
đất nước, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, Trung Quốc đã có
nhiều va vấp, thất bại.
Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 Đảng cộng sản Trung Quốc (1978) đã đề
ra đường lối cải cách mở cửa “Một trung tâm, hai điểm cơ bản” (xây dựng
kinh tế là trung tâm, 2 điểm cơ bản là kiên trì cải cách mở cửa và kiên trì 4
nguyên tắc: Con đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính dân chủ nhân dân, sự
lãnh đạo của Đảng, tư tưởng Mao Trạch Đông). Đặng Tiểu Bình đã đưa ra lý
luận “Xây dựng xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc” với nội dung cơ
bản là “Giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị” tức là đi theo chủ nghĩa Mác
nhưng phải xuất phát từ thực tế Trung Quốc. Từ đó đến nay, Trung Quốc luôn
luôn kiên trì công cuộc cải cách mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang
màu sắc Trung Quốc, đưa đất nước chuyển sang một thời đại mới.
Nhìn chung, tình hình chính trị-xã hội Trung Quốc trong những năm gần

(2)
. Giai đoạn 1992-1997, kinh
(2)
Trung Quốc và những vấn đề sau vị trí thứ 2 thế giới, Báo Điện tử dân trí tháng 2/2011
9
tế Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân
đạt 11%/ năm. Trong đó, GDP Trung Quốc năm 1996 lớn hơn GDP của
ASEAN khoảng 15%, bằng 3% GDP của thế giới, 23% kinh tế Nhật, 12%
kinh tế Mỹ.
(3)
Trong những năm 1997-1999, do tác động của cuộc khủng
.hoảng kinh tế khu vực, nền kinh tế Trung Quốc cũng chững lại, và có dấu
hiệu suy giảm. Tuy nhiên, ngay sau đó Trung Quốc đã lấy lại được xu thế tăng
trưởng. Năm 2000 là năm cuối của kế hoạch năm năm phát triển kinh tế xã
hội lần thứ chín( 1996-2000), cũng là năm đánh dấu một bước chuyển biến
quan trọng trong nền kinh tế Trung Quốc. Với những cố gắng gia nhập tổ
chức thương mại thế giới (WTO), tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung cải cách xí
nghiệp quốc doanh, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, cải cách cơ bản
về nông nghiệp và mở rộng nhu cầu nội địa, Trung Quốc đã đảo ngược xu
hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế kéo dài liên tục trong 3 năm qua.
Năm 2000, với GDP đạt 8.928 tỷ NDT - tương đương 1.072 tỷ USD, với mức
tăng GDP là 8,3% , theo số liệu của IMF con số này là 7,5%, GDP bình quân
đầu người đạt 850 USD, Trung Quốc đã hoàn thành vượt mức kế hoạch tăng
gấp 4 lần GDP bình quân đầu người của năm 1980 (200 USD). Với kết quả
này, Trung Quốc đã lần đầu tiên đặt chân vào hàng ngũ các quốc gia có GDP
trên 1000 tỷ USD.
Bước sang thế kỷ 21, năm 2001 được đánh dấu bằng sự kiện lớn, việc
Trung Quốc chính thức trở thành thành viên thứ 143 của WTO (vào ngày 11
(3)
Cục thống kê Trung Quốc

quý 1 năm 2011, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc có thêm 197 tỷ USD , lên
mức cao chưa từng có 3.040 tỷ USD
(6)
Do tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập của cư dân Trung Quốc cũng
tăng nhanh, mức sống cũng đã có những chuyển biến đáng kể. Thu nhập của
cư dân thành thị và nông thôn tăng nhanh. Từ năm 1978-2007, GDP bình
quân đầu người tăng từ 381 NDT lên 18.600 NDT; thu nhập bình quân đầu
người của cư dân thành thị và thu nhập bình quân đầu người của cư dân nông
thôn lần lượt tăng từ 343 NDT và 134 NDT lên 13.786 NDT và 4.149 NDT;
số dư tài khoản tích lũy của cư dân thành thị tăng từ 21,1 tỷ NDT lên 17.600
tỷ NDT. Cơ cấu tiêu dùng của cư dân nông thôn và thành thị có những thay
đổi theo xu hướng nâng cao chất lượng. Năm 1978-2007, tổng kim ngạch bán
lẻ hàng hóa xã hội tăng từ 155,86 tỷ NDT lên 8.921 tỷ NDT, nhu cầu tiêu
dùng của người dân không ngừng tăng lên; hệ số Engel (là tỉ lệ chi phí trong
chi tiêu dành cho ăn uống nằm trong tổng số tiêu dùng) của gia đình cư dân
thành thị và nông thôn lần lượt giảm từ 57,5% và 67,7% xuống 36,3% và
41,3%, kết cấu tiêu dùng không ngừng được nâng cấp; diện tích nhà ở bình
quân đầu người ở thành thị và nông thôn lần lượt tăng từ 6,7m2 và 8,1m2 lên
26m2 và 29,7m2, điều kiện sống không ngừng được cải thiện.
(6)
Ngân hàng TW Trung Quốc
12
Về vấn đề xóa đói giảm nghèo, Trung Quốc đạt được những thành tựu
mà cả thế giới công nhận. Năm 1978-2007, số nhân khẩu nghèo tuyệt đối ở
nông thôn (thu nhập bình quân hàng năm dưới 785 NDT) giảm từ 250 triệu
người xuống còn 14.790.000 người. Đời sống cơ bản của người có thu nhập
thấp và những người có đời sống khó khăn được cải thiện nhờ có sự hỗ trợ.
2. Cơ cấu kinh tế
Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế có xu hướng giảm tuy giá trị
tuyệt đối vẫn tăng, đồng thời tỷ trọng của công nghiệp, dịch vụ tăng lên. Từ

29,5%.
(7)
Mặc dù tỷ lệ giảm, nhưng kinh tế quốc doanh vẫn là yếu tố quan
trọng trong kinh tế Trung Quốc. Khu vực tư nhân thuần túy đã gia tăng tổng
sản lượng công nghiệp của nó từ 37,7% năm 2001 lên 52,85% năm 2006.
(7)
Cục thống kê Trung Quốc
14
khối doanh nghiệp tư nhân đã vượt qua khối doanh nghiệp nhà nước để trở
thành động lực kinh tế chính của Trung Quốc. Mặc dù vậy, sau 3 thập kỷ cải
cách, chính phủ Trung Quốc vẫn còn sở hữu 76% của cải của nước này, kiểm
soát khu vực ngân hàng, giám sát các công ty thuộc sở hữu nhà nước chiếm
1/3 nền kinh tế.
Đóng góp to nhất của thành phần kinh tế phi tập thể đối với kinh tế
Trung Quốc là duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu. Trước khi cải cách mở
cửa, Trung Quốc phải gánh chịu sự thiếu hụt nghiêm trọng về hàng tiêu dùng
và dịch vụ. Người dân chỉ có thể mua được lương thực bằng tem phiếu do
chính phủ cấp. Sau năm 1978, khả năng cung cấp hàng tiêu dùng của Trung
Quốc tăng nhanh và có thể đáp ứng nhu cầu của người dân.
Năm 2007, sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt 501,6 triệu tấn,
tăng 64,6% so với sản lượng lương thực của năm 1978, đến năm 2010 đã tăng
đến 550 triệu tấn. Giá trị gia tăng công nghiệp năm 2007 vượt mức 1.470 tỷ
USD, tăng 23 lần so với năm 1978. Từ 2005 đến 2010, tăng trưởng của giá trị
sản xuất công nghiệp tăng trên 11% trung bình mỗi năm, giá trị gia tăng sản
lượng công nghiệp năm 2010 đã tăng 15,7% đến 16 nghìn tỷ nhân dân tệ
( 2.43 nghìn tỷ USD) .
Năm 2007, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng sản phẩm nông
nghiệp như ngũ cốc, thịt và bông. Các sản phẩm công nghiệp như thép, than
15
đá, xi măng và phân hóa học của Trung Quốc cũng đạt sản lượng hàng đầu thế

diện tích canh tác chỉ chiếm 7% thế giới, nhưng Trung Quốc đã nuôi được
22% dân số thế giới. Cho đến nay có thể nói đây là bước cải cách mang tính
đột phá, là thành tựu lớn nhất trong cải cách nông nghiệp ở Trung Quốc.
Bên cạnh đó, Trung Quốc tiến hành sửa đổi chính sách đất đai ở nông
thôn thích ứng với cơ chế thị trường. Mục tiêu chính sách đất đai nông thôn là
tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa phát triển và sử dụng đất có hiệu quả.
Trung Quốc còn xây dựng cơ chế ổn định thị trường nông sản phẩm, trợ
giá nông sản phẩm, thiết lập quỹ rủi ro, xây dựng hệ thống riêng và cơ chế
điều tiết xuất nhập khẩu cho nông sản. Từ năm 1990, với chính sách tự do hóa
giá cả nên giá nông phẩm trên thị trường về cơ bản do quan hệ cung cầu điều
tiết.
17
Ngoài ra, nhà nước còn thi hành chính sách mở rộng tín dụng nông thôn.
Năm 1985, hệ thống hợp tác xã tín dụng nông thôn đã có mạng lưới rộng lớn
gồm 406.518 đơn vị cơ sở.
Nhờ nhiều chính sách tiến bộ, thiết thực, nông nghiệp Trung Quốc hơn
30 năm qua phát triển nhanh chóng và tương đối ổn định. Năm 1978, sản
lượng lương thực là 304,7 triệu tấn, năm 1987 là 402 triệu tấn, năm 1997 là
494,1 triệu tấn, đến năm 2009 là 530,8 triệu tấn, và năm 2010 đạt gần 550
triệu tấn. Năm 1980, tổng giá trị sản lượng của nông nghiệp (bao gồm cả
nông, lâm ngư nghiệp và chăn nuôi) mới đạt 192,26 tỷ NDT, đến năm 1996
đạt 2.342,6 tỷ NDT
(9)
Với sự phát triển của nông thôn Trung Quốc, hàng trăm triệu nông dân
đã chuyển từ trạng thái kinh tế tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hóa. Nông
nghiệp Trung Quốc phát triển tương đối ổn định đã tạo điều kiện cho sự phát
triển của nền kinh tế. Nguồn nguyên liệu nông nghiệp cung cấp cho công
nghiệp tăng lên góp phần tăng thêm nguồn hàng xuất khẩu.
3.2 Công nghiệp
Trải qua hơn 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã là một cường quốc

nông thôn. Trong giai đoạn này, xí nghiệp hương trấn không chỉ tăng nhanh
về số lượng và mở rộng loại hình sở hữu mà phạm vi của nó cũng được mở
rộng bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau: gia công cơ khí, vật liệu xây
dựng, chế biến thực phẩm...Năm 1987, các loại hình xí nghiệp ở Trung Quốc
thu hút 88 triệu lao động và tạo ra giá trị sản lượng 476,4 tỷ NDT. Đến 1992,
các xí nghiệp hương trấn sản xuất ra 1/3 tổng giá trị sản lượng công nghiệp
toàn quốc và thu hút 105 triệu lao động. Đến năm 1996, các xí nghiệp hương
trấn đã thu hút 130 triệu lao động, giá trị tạo ra đạt khoảng 1.700 tỷ NDT,
chiếm 20% giá trị tổng sản phẩm trong nước. Đến năm 1997, Trung Quốc có
luật về xí nghiệp hương trấn, và khu vực này có sự chuyển biến. Nhiều xí
nghiệp hương trấn đã chuyển đổi thành các doanh nghiệp tư nhân hoặc các
doanh nghiệp cổ phần.
Nhìn chung, nền công nghiệp Trung Quốc từ sau khi cải cách mở cửa đã
tăng trưởng nhanh chóng, tốc độ công nghiệp hóa nhanh, quy mô ngày càng
mở rộng, tổng sản lượng tăng không ngừng, giá trị sản phẩm công nghiệp
năm 1997 tăng 14 lần so với năm 1978, bình quân mỗi năm tăng 14,9%. Tính
riêng trong năm 2010, tổng sản lượng công nghiệp Trung Quốc đã lên đến
20
16.000 tỷ NDT, tăng 15,7% so với năm trước đó, tăng mạnh từ 7.720 tỷ NDT
năm 2005. Sự phát triển của công nghiệp Trung Quốc luôn cao hơn các ngành
khác và thúc đẩy công nghiệp hóa của Trung Quốc tiến lên giai đoạn mới.
3.3 Kinh tế đối ngoại
3.3.1 Ngoại thương
Kể từ khi cải cách mở cửa, mức độ tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế của
Trung Quốc được nâng cao, vị thế trong kinh tế thế giới của Trung Quốc đang
được tăng cường, mức độ phụ thuộc vào ngoại thương (tỷ trọng xuất nhập
khẩu chiếm trong GDP của Trung Quốc) ngày càng tăng, đã đưa mức xuất
nhập khẩu của Trung Quốc đứng ở vị trí cao trong các quốc gia khu vực Đông
Nam Á. Năm 1978, tổng mức ngoại thương của Trung Quốc mới chỉ là 9,8%,
trong đó xuất khẩu là 4,6%, nhập khẩu là 5,2%. Song đến năm 1997, ngoại

22
gia công, tỉ lệ các mặt hàng này khá cao, khoảng 74% năm 1998 nhờ tận dụng
nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ nên các sản phẩm này có sức cạnh
tranh cao trên thị trường thế giới. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Trung
Quốc hiện nay là hàng dệt, điện máy, hoá chất, quần áo, thực phẩm, nước giải
khát, máy móc không dùng điện... Về nhập khẩu, do yêu cầu phát triển đất
nước nên trong những năm đầu của cải cách, Trung Quốc chủ yếu nhập những
sản phẩm công nghệ cao, tiên tiến để góp phần đổi mới các cơ sở sản xuất lạc
hậu và nhờ vậy đã sản xuất được một lượng hàng có giá trị xuất khẩu cao.
Những năm về sau, do thực hiện ý đồ phát triển theo hướng coi "khoa học kĩ
thuật là sức mạnh sản xuất thứ nhất" nên hoạt động này càng trở nên sôi động.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Trung Quốc hiện nay là máy móc, sản
phẩm điện tử, thiết bị điện, thiết bị nghe nhìn, phụ kiện... Trung Quốc cũng đã
mở rộng quan hệ giao lưu buôn bán với hầu hết các nước trong khu vực và
trên thế giới, các sản phẩm của Trung Quốc ngày càng phong phú hơn trên
các thị trường. Các đối tác thương mại chủ yếu của Trung Quốc hiện nay là
Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Mỹ, ASEAN...
3.3.2 Đầu tư nước ngoài
Một trong những nhân tố chính trong quá trình tăng trưởng nhanh về
thương mại của Trung Quốc là sự hiện diện rất lớn của các doanh nghiệp có
đầu tư nước ngoài phục vụ các thị trường xuất khẩu. Một số lượng lớn các
công ty hoạt động trong lĩnh vực lắp ráp và chế biến sử dụng hàng hóa bán
23
thành phẩm nhập khẩu và nguyên liệu thô để sản xuất hàng xuất khẩu. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài bắt đầu tăng mạnh sau năm 2001. Nếu như trước năm
1992, Trung Quốc hầu như phải mượn tiền của nước ngoài, đặc biệt là thông
qua các khoản vay. Năm 1992, lần đầu tiên lượng tiền đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) vào Trung Quốc vượt số tiền vay nước ngoài. Kể từ đó, FDI trở
thành kênh quan trọng nhất để Trung Quốc thu hút tư bản nước ngoài. Trung
Quốc đã thu hút 853 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm

Chính phủ Trung Quốc đặc biệt khuyến khích và hỗ trợ nhằm tạo các kênh
xuất khẩu vật tư và thiết bị. Hoạt động này giúp các doanh nghiệp xâm nhập
vào môi trường kinh doanh quốc tế và là điều kiện cần thiết cho phát triển và
hội nhập. Tính đến năm 1998, có 5.600 doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư
ra nước ngoài với tống số vốn trên 6 tỷ USD, trong hoạt động 80% số dự án
đầu tư có lãi. Theo số liệu của bộ thương mại Trung Quốc, đầu tư ra nước
ngoài của nước này trong năm 2009 đạt 43,3 tỷ USD, đứng thứ 5 thế giới
trong lĩnh vực này, đến năm 2010 đã vượt 50 tỷ USD do tăng cường đầu tư
vào các lĩnh vực năng lượng, khai khoáng, nông nghiệp.
Đây là số đầu tư trực tiếp phi tài chính, không bao gồm đầu tư của các
ngân hàng, công ty bảo hiểm và chứng khoán. Dự kiến năm 2011 đầu tư ra
nước ngoài của Trung Quốc sẽ tăng khoảng 10% so với năm 2010.
25

Trích đoạn Một số vấn đề tồn tại trong chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc Điều chỉnh chính sách xuất khẩu trong thời gian tớ Chính sách thúc đẩy xuất khẩu ở Trung Quốc được thực hiện với cách tiếp cận phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc có sự thay đổi qua từng giai đoạn, phù hợp với tình hình kinh tế trong nước và quốc tế Áp dụng những chính sách thích hợp để tạo lập và phát triển những lợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status