B GIO DC V O TO
TRNG I HC NGOI THNG
-------------O0O------------- Công trình dự thi Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học
Tr-ờng đại học ngoại th-ơng năm 2009
Đề tài:
điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp
của trung quốc và tháI lan
Bài học kinh nghiệm cho việt nam Nhóm ngành: XH2b Hà NộI - THáNG 7 NĂM 2009 i
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………………….…..
các nƣớc trên thế giới.....................................................................................................
16
1.1. Điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp, trƣớc hết, nhằm thực hiện cam
kết khi gia nhập WTO.................................................................................................
16
1.2. Điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp nhằm tận dụng những tác động
tích cực đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa
nông nghiệp................................................................................................................. 17
1.3. Điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp nhằm phát huy vai trò của nhà
nƣớc trong việc giảm thiểu những thất bại của thị trƣờng nông nghiệp...................
18
2. Sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp đối với Việt Nam.... 20
2.1. Nhìn trên góc độ chủ quan................................................................................... 20
2.2. Nhìn trên góc độ khách quan............................................................................... 22
CHƢƠNG 2:
THỰC TẾ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG
QUỐC VÀ THÁI LAN - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT
NAM…………………………………………………………………………………..…….
I. ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG QUỐC
23
2. Điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp củ ………….... 38
t giảm…..…. 38
………………………………………………………………………………
40
3. Đánh giá điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp hậu WTO của Thái Lan….. 44
3.1. Tác động tích cực của việc điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp………
3.2. Những tồn tại trong việc điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp ...............
44
44
III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TỪ VIỆC ĐIỀU CHỈNH CHÍNH
SÁCH TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG QUỐC VÀ THÁI LAN SAU
KHI GIA NHẬP WTO…………………………………………………………......... 45
1. Bài học kinh nghiệm chung của Trung Quốc và Thái Lan…………………...….. 45
2. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc……………………………………..……… 46
3. Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan………………………………………….……. 47
CHƢƠNG 3:
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ VIỆT NAM VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH
NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC VÀ THÁI LAN TRONG VIỆC ĐIỀU CHỈNH CHÍNH
SÁCH TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP SAU KHI GIA NHẬP WTO……………………..
49
I. DỰ BÁO XU HƢỚNG ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP NÔNG
NGHIỆP CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO……………………….….
III. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ ĐỂ VIỆT NAM VẬN DỤNG NHỮNG KINH
NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VÀ THÁI LAN TRONG VIỆC ĐIỀU CHỈNH
CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP…………………...................................... 67
1. Nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển dịch vụ chung…………………………...……. 67
1.1. Đầu tƣ phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn…………………………............. 67
1.2. Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học trong nông nghiệp, công tác đào tạo
và khuyến nông………………………………………………………………..…
69
1.3. Hỗ trợ phát triển hoạt động tín dụng nông thôn……………………………… 70
2. Nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển sản phẩm nông nghiệp………………………... 72
2.1. Đầu tƣ phát triển hệ thống thông tin thị trƣờng………………………………. 72
2.2. Hỗ trợ phát triển quy trình sản xuất đảm bảo tiêu chuẩn chất lƣợng và vệ sinh
an toàn thực phẩm………………………………………………………………...
73
2.3. Hỗ trợ sau thu hoạch, hỗ trợ tiếp thị và vận tải………………………………. 74
3. Nhóm giải pháp hỗ trợ ngƣời nông dân………………………………….……… 75
3.1. Nhà nƣớc tham gia đóng góp kinh phí cho các chƣơng trình bảo hiểm và bảo
đảm thu nhập……………………………………………………….......................
75
3.2. Hỗ trợ nông dân có đất nông nghiệp bị giải tỏa, thu hồi để sử dụng cho mục
đích khác………………………………………………………………….………
76
4. Đề xuất mô hình liên kết trong nông nghiệp ở Việt Nam………………...……… 77
13
Bảng 1.5
Trợ cấp xuất khẩu của các nƣớc thành viên WTO giai đoạn
1995-2000
15
Bảng 2.1
Nông nghiệp Trung Quốc trong cơ cấu kinh tế và xã hội thời
kỳ 1970-2006
24
Bảng 2.2 de minimis – 2005)
28 Kí hiệu Hộp Tên Hộp Trang
Hộp 1.1 Các biện pháp hỗ trợ cụ thể trong từng hộp trợ cấp theo Hiệp
định Nông nghiệp của WTO
11
Hộp 1.2
Các biện pháp trợ cấp xuất khẩu theo Hiệp định Nông nghiệp
của WTO
12
Hôp 2.1 Tóm tắt cam kết của Trung Quốc về trợ cấp nông nghiệp khi gia
nhập WTO
26
Hộp 2.2 Định hƣớng điều chỉnh chính sách phát triển xuất khẩu nông sản
Trung Quốc giai đoạn 2006 - 2010
27
Hộp 2.3 Tóm tắt cam kết của Thái Lan về trợ cấp nông nghiệp khi gia
nhập WTO
37
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
CHỮ VIẾT
TẮT
TÊN TIẾNG ANH TÊN TIẾNG VIỆT
AMS
Aggregate Measure Support Lƣợng hỗ trợ tính gộp
AoA
Agreement on Agriculture Hiệp định Nông nghiệp
BAAC
Bank for Agriculture and
Agricultural Cooperatives
Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp
tác Nông nghiệp Thái Lan
Bộ NN &
PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam
CF
Contract Farming
Hình thức hợp đồng trong sản
xuất nông nghiệp
de minimis
Ngƣỡng hỗ trợ cho phép
DOAE
Department of Agricultural
Extension
Vụ hỗ trợ mở rộng nông nghiệp
R&D
Research and Development
Chƣơng trình Nghiên cứu và Phát
triển
RCC
Rural Credit Cooperatives Tổ chức tín dụng nông thôn
S&D
Special and Different Đối xử Đặc biệt và Khác biệt
Total AMS
Total Aggregate Measure Support Tổng lƣợng hỗ trợ tính gộp
USD
US dollar Đô la Mỹ
USDA
United States Department of
Agriculture
Bộ Nông nghiệp Hoa Kì
VAT
Value-added tax Thuế giá trị gia tăng
VND
Việt Nam đồng
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
WTO
World Trade Organization Tổ chức Thƣơng mại Thế giới 1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình hoạt động của GATT trƣớc đây và WTO sau này, vấn đề
1
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2006. Trang 191.
2
nƣớc này, đề tài đề xuất giải pháp để Việt Nam vận dụng kinh nghiệm của Trung
Quốc và Thái Lan trong việc điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp của Việt
Nam thời hậu WTO.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các quy định của WTO về vấn đề trợ cấp
nông nghiệp, là chính sách trợ cấp nông nghiệp của Trung Quốc và Thái Lan. Đối
tƣợng nghiên cứu của đề tài còn bao gồm chính sách trợ cấp nông nghiệp của Việt
Nam trƣớc khi gia nhập WTO và kinh nghiệm của Trung Quốc và Thái Lan trong
việc điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp cho phù hợp với những cam kết khi
gia nhập WTO.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc phân tích sự điều chỉnh chính
sách trợ cấp nông nghiệp của hai nƣớc là Trung Quốc và Thái Lan. Cả hai nƣớc này
đều đã gia nhập WTO trƣớc Việt Nam và đã có sự điều chỉnh chính sách nông
nghiệp phù hợp với cam kết của họ trong WTO. Khi phân tích chính sách trợ cấp
nông nghiệp của Trung Quốc và Thái Lan, đề tài giới hạn ở chính sách hỗ trợ trong
nƣớc và chính sách trợ cấp xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, các phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp đã đƣợc áp dụng
nhƣ: phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp so sánh và
phƣơng pháp luận giải, hệ thống hóa.
5. Kết cấu của đề tài
hƣớng bảo hộ nền sản xuất nông nghiệp của mình bằng cách dựng các hàng rào thuế
quan cao, đề ra những tiêu chuẩn khắt khe, đồng thời tăng cƣờng trợ cấp cho ngành
nông nghiệp trong nƣớc. Chính vì vậy, nông sản là loại hàng hóa gặp nhiều trở ngại
nhất trong thƣơng mại quốc tế và là chủ đề của những cuộc tranh cãi quyết liệt trong
các vòng đàm phán thƣơng mại.
Trƣớc đây, khi hầu hết các nƣớc trên thế giới đều còn là các nền kinh tế nông
nghiệp, hầu hết các nƣớc đều đánh thuế lĩnh vực nông nghiệp khá cao. Nhƣng đối
với các nƣớc phát triển, sau khi hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, lĩnh vực
nông nghiệp mất dần lợi thế cạnh tranh, các nƣớc này quay sang hỗ trợ nông dân và
bảo vệ ngành nông nghiệp của mình. Việc trợ giá, bao cấp cho nông nghiệp khiến
sản xuất tăng và đã đƣa EU trở thành một khu vực xuất khẩu nông sản lớn từ thập kỷ
1970. Tình hình tƣơng tự cũng diễn ra tại Mỹ khi nƣớc này áp dụng các biện pháp
hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và trợ giá xuất khẩu. Bảng 1.1 cho thấy mức trợ cấp
dành cho nông nghiệp ở các nƣớc OECD trong giai đoạn 1986 – 1994 chiếm một tỷ
2
Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Ủy ban thƣơng mại quốc gia Thụy Điển. Tác động của hiệp
định WTO đối với các nước đang phát triển. Hà Nội, 2005. Trang 77.
4
lệ lớn trong GDP. Các khoản trợ cấp này hầu hết đƣợc lấy từ ngƣời tiêu dùng và từ
khoản thuế mà ngƣời dân đã nộp cho Chính phủ.
Tuy nhiên, khi sản xuất nông nghiệp tăng mạnh nhờ nhận đƣợc sự hỗ trợ lớn
từ Chính phủ, tại các nƣớc phát triển đã xuất hiện tình trạng dƣ thừa sản lƣợng. Sự
dƣ thừa sản lƣợng đã gây ra áp lực lớn đối với giá thị trƣờng nông sản. Thông qua
trợ giá xuất khẩu, ngƣời ta đã giữ giá của sản lƣợng dƣ thừa ở mức thấp và làm phá
giá nông sản trên thị trƣờng thế giới. Chính điều này đã làm cho giá nông sản trên
thế giới giảm mạnh, xuống thấp nhất vào năm 1987, khiến các nƣớc khác cũng phải
3
Hiệu ứng trợ cấp âm có nghĩa là giá trị thuế mà ngƣời nông dân phải nộp cho nhà nƣớc lớn hơn giá trị các
khoản trợ cấp họ nhận đƣợc từ nhà nƣớc. 5
Trong đó chia làm 4 nhóm nƣớc:
Nhóm 1: Các nƣớc có mức thuế rất cao, bao gồm ba nƣớc châu Phi là Ivory
Coast, Ghana và Zambia; thuế suất đánh vào nông nghiệp trên 50% giá trị gia tăng.
Nhóm 2: Các nƣớc có mức thuế vừa phải, bao gồm Achentina, Côlômbia, Ai
Cập, Marốc, Pakixtan, Thái Lan…; thuế suất trung bình từ 30 đến 45%.
Nhóm 3: Các nƣớc có mức thuế thấp, bao gồm Braxin, Chilê và Malaysia;
thuế suất trung bình từ 8 đến 22%.
Nhóm 4: Các nƣớc bảo hộ, bao gồm Bồ Đào Nha và Hàn Quốc; các nƣớc này
bảo vệ khu vực nông nghiệp của mình bằng mức trợ cấp khoảng 10%.
Bảng 1.2. Tác động của các biện pháp trợ cấp cho nông nghiệp tại 18 nƣớc
đang phát triển trong thời kỳ 1960 – 1984
Đơn vị: tỷ lệ % trong chi tiêu của Chính phủ
Các nhóm nƣớc
Thuế
Trợ cấp cho:
Hiệu
ứng
ròng
Sản
xuất
dụng chính sách trợ cấp nông nghiệp, đặc biệt đối với các nƣớc đang và kém phát
triển, có tác dụng hỗ trợ và khuyến khích sản xuất nông nghiệp trong nƣớc phát triển
đồng thời tăng tính cạnh tranh của những mặt hàng nông sản nội địa trên thị trƣờng
quốc tế. Tuy nhiên, việc áp dụng mức độ trợ cấp rất cao cho ngành nông nghiệp nhƣ
của các nƣớc phát triển có thể coi là một nguyên nhân mang tính cơ cấu, làm giảm 6
thiểu tính năng động của nông nghiệp, nhất là ở các nƣớc đang và kém phát triển,
gây ra tình trạng thiếu hụt hiện tại và méo mó trong thị trƣờng nông nghiệp thế giới.
Sự méo mó của thị trƣờng nông nghiệp thế giới có tác động rất mạnh đến tình trạng
nghèo đói ở các nƣớc đang phát triển, vì đa số ngƣời nghèo ở các nƣớc đang phát
triển sống tại nông thôn và phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp.
Nhƣng tại sao trong suốt một thời gian dài các nƣớc phát triển vẫn luôn duy
trì chính sách trợ cấp nông nghiệp nhƣ vậy, cho dù nó gây ra những thiệt hại vô
cùng to lớn tới các nƣớc đang và kém phát triển? Ở đa số các quốc gia OECD, ngƣời
nông dân và các ngành công nghiệp hữu quan (ngƣời sản xuất giống, phân bón,
thuốc trừ sâu) là một phe cánh hành lang mạnh, đòi đƣợc bảo vệ quyền lợi riêng và
chống lại quyền lợi của ngƣời tiêu dùng muốn có thực phẩm giá rẻ.
4
Phe cánh hành
lang này đòi chính phủ thông qua các biện pháp can thiệp vào thị trƣờng để tác động
ngƣợc lại với xu thế “tự nhiên”, nhằm mục đích giảm giá tƣơng đối của hàng nông
sản đối với giá sản phẩm công nghiệp và giảm tƣơng đối thu nhập trong nông nghiệp
đối với khu vực công nghiệp và dịch vụ.
5
Ngoài ra, còn có thêm một lý do nữa đối
với các nƣớc EU: do từng trải qua nạn đói tràn lan sau Chiến tranh thế giới thứ II
nên EU cố gắng giảm phụ thuộc vào nhập khẩu hàng nông sản bằng cách tăng cƣờng
nền sản xuất nông nghiệp trong nƣớc.
11/1982 tại Hội nghị cấp Bộ trƣởng của các nƣớc thành viên GATT tại Geneva. Khi
đó, các vị Bộ trƣởng đã dự định tiến hành một vòng đàm phán lớn nhƣng hội nghị
lúc đó đã không vƣợt qua đƣợc rào cản quá lớn là vấn đề nông nghiệp và bị coi nhƣ
thất bại. Song trên thực tế, một chƣơng trình làm việc mới đã đƣợc lên kế hoạch và
đây chính là tiền đề cho chƣơng trình của vòng đàm phán Urugoay.
Vòng đàm phán Urugoay là một loạt các cuộc đàm phán thƣơng mại nối tiếp
nhau từ tháng 9/1986 đến tháng 4/1994 với sự tham gia của 125 nƣớc. Đây là vòng
đàm phán cuối cùng và cũng là vòng đàm phán tham vọng nhất trong số tất cả các
vòng đàm phán của GATT. Vòng đàm phán này đã dẫn đến việc thành lập WTO và
thông qua một loạt các hiệp định mới, trong đó có sự ra đời Hiệp định Nông nghiệp.
Tại vòng đàm phán Urugoay, đã có nhiều quan điểm đƣa ra nhằm tiến hành
cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp, trƣớc hết là từ các nƣớc xuất khẩu nông sản
chính lúc đó là Mỹ và EU. Các nƣớc này nhất trí rằng cần thay đổi chính sách
thƣơng mại và nông nghiệp, bởi lẽ vì chính phủ các nƣớc này cạnh tranh nhau trong
việc trợ giá xuất khẩu nông sản nên dẫn đến việc các nƣớc nhập khẩu chỉ phải trả
chƣa đến một nửa giá gốc. Thêm nữa, ngoài việc phụ thuộc vào xuất khẩu, chính
sách nông nghiệp của hai khu vực này còn có bốn đặc điểm chung: (i) nó làm cho
các khoản trợ cấp của nhà nƣớc rơi vào tay những chủ nông lớn nhất; (ii) về lâu dài,
nó không chặn đứng đƣợc tình trạng suy giảm việc làm và thu nhập trong lĩnh vực
nông nghiệp; (iii) nó gây tác hại nghiêm trọng đối với môi trƣờng; (iv) và nó làm
tăng mức độ độc quyền vốn đã tồn tại trong ngành nông nghiệp thông qua việc từng
bƣớc sáp nhập nông nghiệp vào một tổ hợp nông – công rộng lớn hơn. Tháng
11/1992, Mỹ và EU đã vƣợt qua phần lớn những bất đồng về nông nghiệp giữa hai
bên để cùng đi đến một thỏa thuận chung mang tên “Thỏa thuận Nhà Blair” (Blair
House Accord). Đây chính là nền tảng cho sự ra đời của Hiệp định Nông nghiệp.
Hiệp định Nông nghiệp của WTO (AoA) có hiệu lực kể từ ngày 1/1/1995.
Đây là lần đầu tiên một hiệp định đa phƣơng đƣợc ký kết trong lĩnh vực nông nghiệp 8
hạ tầng chung) với giá có lợi cho doanh nghiệp hơn bình thƣờng; hoặc 9
Thứ tư, Nhà nƣớc thanh toán tiền cho một đơn vị tài trợ hoặc yêu cầu các đơn
vị ngoài Nhà nƣớc thực hiện một trong các hoạt động nói trên theo nhƣ cách Nhà
nƣớc làm (mà bình thƣờng không đơn vị tƣ nhân nào, với các tính toán về lợi ích
thƣơng mại thông thƣờng, lại làm nhƣ vậy).
Trợ cấp nông nghiệp đƣợc chia làm hai nhóm, đó là: (i) nhóm các chính sách
hỗ trợ trong nƣớc; và (ii) nhóm các chính sách trợ cấp xuất khẩu nông sản.
2.2.1. Các chính sách hỗ trợ nông nghiệp trong nước
Theo AoA, hỗ trợ nông nghiệp trong nƣớc là những khoản trợ cấp sản xuất
chi cho nhà sản xuất, không cần chú ý đến điểm đến đích cuối của sản phẩm. Các
biện pháp hỗ trợ nông nghiệp trong nƣớc có thể đƣợc xếp vào một trong ba hộp, căn
cứ vào mức độ ảnh hƣởng của các biện pháp này đối với thƣơng mại trong nông
nghiệp, gọi là Hộp xanh lá cây (Green box), Hộp xanh da trời (Blue box) và Hộp hổ
phách (Amber box). Tƣơng ứng với mỗi hộp là các quy định điều chỉnh cam kết cắt
giảm hỗ trợ hoàn toàn khác biệt. Ngoài ra, đối với các thành viên WTO là các nƣớc
đang phát triển , AoA cũng quy định quyền đƣợc hƣởng những đối xử Đặc biệt và
Khác biệt (S&D).
Bảng 1.3. Các loại hình hỗ trợ nông nghiệp trong nƣớc
theo Hiệp định Nông nghiệp của WTO
Loại trợ cấp Tính chất – Nội dung Cơ chế áp dụng
Trợ cấp Hộp
xanh lá cây
Phải là các trợ cấp:
- Không gây bóp méo thƣơng mại hoặc
ít gây bóp méo thƣơng mại; và
- Không phải là hình thức trợ giá cho
ngƣời sản xuất; và
- Các dạng hỗ trợ thuộc Hộp hổ phách:
+ hỗ trợ giá thị trƣờng;
+ các khoản chi trả trực tiếp từ ngân
sách không đƣợc miễn trừ cắt giảm;
+ các biện pháp hỗ trợ cho sản phẩm
cụ thể hoặc không cho sản phẩm cụ thể
khác mà không thuộc cả Hộp xanh lá
cây và Hộp xanh da trời.
Phải cam kết cắt
giảm nếu Lƣợng hỗ
trợ tính gộp (AMS)
6
vƣợt quá một mức
nhất định gọi là mức
hỗ trợ cho phép (de
minimis).
Trợ cấp
thuộc chƣơng
trình phát
triển
Đây là những đối xử đặc biệt và khác
biệt dành cho các nƣớc đang phát triển
Đƣợc miễn trừ không
phải cam kết cắt
giảm mức hỗ trợ.
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự tổng hợp từ Hiệp định Nông nghiệp của WTO
6
Tổng lƣợng hỗ trợ tính gộp (AMS) là cách tính mức tổng chi phí hàng năm mà Chính phủ dành cho các biện
sản xuất nông nghiệp (chuyển đổi nguồn lực sản xuất nông nghiệp sang phục
vụ ngành sản xuất khác);
Trợ cấp điều chỉnh cơ cấu thông qua các chƣơng trình hỗ trợ đầu tƣ;
Trợ cấp trong khuôn khổ các chƣơng trình môi trƣờng;
Trợ cấp trong khuôn khổ các chƣơng trình hỗ trợ vùng.
2. Nhóm biện pháp hỗ trợ thuộc Hộp xanh da trời (Theo Điều 6.5 AoA)
Những hình thức trợ cấp trực tiếp cho ngƣời sản xuất trong chƣơng trình hạn chế sản
xuất nông nghiệp cũng đƣợc miễn trừ cam kết cắt giảm với điều kiện:
Những trợ cấp dựa trên cơ sở diện tích và sản lƣợng cố định; hoặc
Trợ cấp tối đa bằng 85% hoặc dƣới 85% mức sản lƣợng cơ sơ; hoặc
Trợ cấp cho chăn nuôi gia súc dựa trên số đầu gia súc cố định.
3. Nhóm biện pháp hỗ trợ nằm trong tổng thể các chƣơng trình phát triển của các
nƣớc đang phát triển (đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nƣớc đang phát
triển) (Theo Điều 6.2 AoA)
Trợ cấp đầu tƣ của Nhà nƣớc dành cho ngành nông nghiệp;
Trợ cấp đầu vào dành cho ngƣời sản xuất có thu nhập thấp hoặc bị hạn chế về
nguồn lực;
Hỗ trợ trong nƣớc dành cho ngƣời sản xuất để chấm dứt trồng cây thuốc phiện bất
hợp pháp.
4. Nhóm biện pháp hỗ trợ thuộc Hộp hổ phách (Theo Điều 6.4 AoA và Phụ lục 3 AoA)
Đây là những trợ cấp trực tiếp và mang lại nhiều lợi ích cho ngƣời nông dân và doanh
nghiệp liên quan. Theo AoA, các thành viên WTO vẫn có thể thực hiện các trợ cấp
thuộc Hộp hổ phách nhƣng mức trợ cấp phải đảm bảo 1 trong 2 điều kiện sau:
Trong mức hỗ trợ cho phép (de minimis): là mức tối thiểu đƣợc tính bằng 5% trị giá
sản phẩm hoặc 5% tổng trị giá sản lƣợng ngành nông nghiệp đối với các nƣớc phát
triển và 10% đối với các nƣớc đang phát triển.
Không vƣợt mức trần cam kết (mức cam kết cắt giảm tổng lƣợng hỗ trợ tính gộp
AMS)
Các khoản trợ cấp dành cho nông sản căn cứ vào mức độ đóng góp của nông sản đó
trong sản phẩm xuất khẩu với vai trò là thành phần nguyên liệu của sản phẩm xuất
khẩu.
Đối với các nước đang phát triển, AoA cho phép duy trì trợ cấp xuất khẩu dưới hai hình
thức:
Trợ cấp nhằm làm giảm chi phí tiếp thị nông sản xuất khẩu, chi phí vận tải quốc tế
và cƣớc phí;
Phí vận tải nội địa và cƣớc phí mà chính phủ hoặc cơ quan đƣợc chính phủ ủy
quyền thực hiện chuyên chở các lô hàng xuất khẩu đƣợc ấn định ở mức thấp hơn so
với chi phí áp dụng cho các lô hàng tiêu dùng nội địa.
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự tổng hợp từ Hiệp định Nông nghiệp của WTO 13
Bảng 1.4. Những cam kết quan trọng nhất về trợ cấp nông nghiệp
trong vòng đàm phán Urugoay của WTO
Các nƣớc phát triển
6 năm (1995 – 2000)
Các nƣớc đang phát triển
10 năm (1995 – 2004)
Hỗ trợ trong nƣớc
- Giảm mức trợ cấp so với
Tổng lƣợng hỗ trợ tính gộp
- Hỗ trợ đƣợc miễn cắt
giảm (de minimis) 20%
thi AoA cho thấy, các nƣớc phát triển là những nƣớc sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ
Hộp xanh lá cây nhất (xem phụ lục 2). Đối với nhiều nƣớc phát triển, đặc biệt là Mỹ
và EU, hỗ trợ dạng hộp xanh lá cây đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Nếu
nhƣ mức hỗ trợ hộp xanh lá cây của Mỹ trong giai đoạn 1986 - 1988 là 26,151 tỷ
USD thì năm 2000 đã lên tới 50,057 tỷ USD
7
và năm 2007 là 76,162 tỷ USD.
8
Đối
7
WTO. G/AG/N/USA/51/Rev.1. Committee on Agriculture. January 28
th
2009.
8
WTO. G/AG/N/USA/66. Committee on Agriculture. January 19
th
2009.
14
với EU, từ giai đoạn 2004 - 2005 đến 2005 - 2006, mức hỗ trợ thuộc hộp xanh lá cây
đã tăng lên gần gấp đôi, từ 24,39 tỷ EUR lên đến 40,28 tỷ EUR.
9
Theo báo cáo về hỗ trợ nông nghiệp trong nƣớc của các nƣớc này gửi lên
WTO có thể thấy rằng, các nƣớc đã cơ cấu lại chƣơng trình hỗ trợ, chuyển các biện
pháp bóp méo thƣơng mại theo hƣớng “ít bóp méo thƣơng mại hơn” bằng cách rút
các chƣơng trình hỗ trợ từ Tổng AMS bị cấm và chuyển vào hộp xanh lá cây, do đó
15
hàng nông sản trong khi hoàn toàn loại bỏ sự hỗ trợ đối với các loại nông sản khác
mà vẫn đảm bảo mức cắt giảm đúng nhƣ cam kết. Ví dụ nhƣ: EU duy trì hỗ trợ trong
nƣớc đối với đƣờng, thịt bò và rau quả, trong khi giảm đáng kể hỗ trợ đối với ngũ
cốc và hạt có dầu. Điều này giúp làm tăng tính cạnh tranh của những mặt hàng có lợi
thế so sánh của một nƣớc nhƣng sẽ làm méo mó thƣơng mại nông sản quốc tế.
Vì vậy, trong các vòng đàm phán tiếp theo WTO cần phải yêu cầu các nƣớc
thành viên cam kết cắt giảm hỗ trợ trong nƣớc theo ngành và mặt hàng chứ không
chỉ trên cơ sở hỗ trợ trong nƣớc tính gộp đối với tất cả các ngành và các mặt hàng.
3.2. Những phát sinh trong việc cắt giảm trợ cấp xuất khẩu
Trên thực tế, lƣợng trợ cấp xuất khẩu mà các nƣớc sử dụng khá nhỏ so với
mức giới hạn cam kết. Trong số các nƣớc thành viên WTO, EU là khối nƣớc trợ cấp
xuất khẩu nhiều nhất trong giai đoạn 1995 – 2000, chiếm gần 90% tổng trợ cấp xuất
khẩu. Nhƣng dựa trên số liệu thông báo lên WTO năm 1998 (năm EU có mức trợ
cấp cao nhất), EU sử dụng 5,976 tỷ USD cho trợ cấp xuất khẩu, chỉ chiếm hơn 58%
so với cam kết trợ cấp xuất khẩu của EU trong năm (xấp xỉ 10,2 tỷ USD). Theo một
nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, những cam kết về mặt trợ cấp xuất khẩu có tác
động lớn nhất trong số tất cả các cam kết trong AoA.
10
Những cam kết này đã dẫn
đến sự cắt giảm đáng kể trong trợ cấp xuất khẩu của các nƣớc. Trợ cấp xuất khẩu
của Mỹ đã giảm từ mức 147 triệu USD năm 1998 xuống 15 triệu USD năm 2000 và
có xu hƣớng tiếp tục giảm (bảng 1.5). Australia, New Zealand, Canada mặc dù bảo
lƣu quyền sử dụng trợ cấp xuất khẩu nhƣng hầu nhƣ không áp dụng biện pháp này.
Bảng 1.5. Trợ cấp xuất khẩu của các nƣớc thành viên WTO giai đoạn 1995-2000
Đơn vị: triệu USD và %
1995 1996 1997 1998 1999 2000
định WTO đối với các nước đang phát triển. Hà Nội. 2005. Trang 85.
16
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nƣớc đã chuyển các biện pháp trợ cấp xuất khẩu
thành các biện pháp đƣợc miễn trừ khác. Chẳng hạn nhƣ: các nƣớc phát triển biến
các biện pháp trợ cấp xuất khẩu thành các thanh toán thiếu hụt liên quan đến sản
lƣợng (output-related deficiency payments); hay nhƣ Đạo luật Nông nghiệp Hoa Kỳ
năm 1996 đã chuyển các quỹ trợ cấp xuất khẩu thành các quỹ xúc tiến thƣơng mại;
mở rộng chƣơng trình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, trong đó tín dụng thƣơng mại
đƣợc phát triển để tài trợ cho việc buôn bán các nông sản xuất khẩu của Mỹ ở những
nƣớc thu nhập trung bình hoặc thấp. Các trợ cấp này đƣợc coi là nằm trong hộp xanh
lá cây và đƣợc phép theo AoA.
Đối với các nƣớc đang phát triển, khả năng cung cấp những khoản trợ cấp
xuất khẩu thƣờng ít đƣợc quan tâm hơn, do các nƣớc này không có vốn để hỗ trợ các
nhà xuất khẩu.
Do các biện pháp trợ cấp xuất khẩu đƣợc coi là gây ra tác động bóp méo
thƣơng mại quốc tế nhiều nhất nên vào ngày 18/12/2005, tại Hội nghị Bộ trƣởng Tổ
chức Thƣơng mại Thế giới WTO diễn ra tại Hồng Kông, tất cả các nƣớc thành viên
WTO đã nhất trí về việc sẽ xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp muộn nhất vào
năm 2013.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP NÔNG
NGHIỆP KHI GIA NHẬP WTO
Sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp là yêu cầu có tính
khách quan đối với tất cả các nƣớc nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt khi đã
trở thành thành viên chính thức của WTO.
1. Tính thiết yếu chung của việc điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp đối
với các nƣớc trên thế giới
1.1. Điều chỉnh chính sách trợ cấp nông nghiệp, trước hết, nhằm thực hiện cam
nông nghiệp
Toàn cầu hóa nông nghiệp là một quá trình tất yếu sẽ phải xảy ra theo trào
lƣu toàn cầu hóa nói chung. Đó là sự tham gia của nông nghiệp vào toàn cầu hóa
kinh tế, tức là sự tham gia của nông nghiệp vào sự tự do lƣu chuyển hàng hóa, vốn
và lao động xuyên qua biên giới các quốc gia.
Về những tác động tích cực: Toàn cầu hóa nông nghiệp sẽ giúp các nƣớc tiếp
cận những thị trƣờng nông sản toàn cầu, đẩy nhanh chuyển giao công nghệ, kinh
nghiệm, kỹ năng tổ chức quản lý. Toàn cầu hóa nông nghiệp cũng là nhân tố quan
trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp có nhiều tính chất manh
mún, tự cung tự cấp sang những dạng sản xuất nông nghiệp hiện đại hơn và tập
trung hóa hơn phục vụ thị trƣờng toàn cầu. Đây là những điều kiện thuận lợi để các
nƣớc khai thác và phát huy tốt nhất các lợi thế so sánh của riêng mình.
Nhiều nƣớc trên thế giới đã từng coi xuất khẩu nông sản dựa trên lợi thế so
sánh là nội dung quan trọng trong chiến lƣợc tăng thu nhập và thúc đẩy quá trình
chuyển đổi cơ cấu để phát triển kinh tế. Mỹ, Đan Mạch, Canada, Úc đã từng phát 18
triển theo hƣớng này để trở thành các nƣớc công nghiệp phát triển. Nhiều nƣớc đang
phát triển có lợi thế so sánh trong việc xuất khẩu hàng nông sản nhƣ Côlômbia,
Mêxicô, Ghana, Nigiêria, Thái Lan và Việt Nam cũng đang thực hiện quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế dựa trên xuất khẩu nông sản. Để đạt đƣợc mục tiêu này,
các nƣớc cần phải có sự điều chỉnh một cách hợp lý chính sách hỗ trợ nông nghiệp
để vừa đáp ứng nhu cầu lƣơng thực trong nƣớc đồng thời hƣớng đến xuất khẩu.
Về những tác động tiêu cực: Trƣớc đây và cho đến tận bây giờ, nông nghiệp
luôn là khu vực tại đó hiện diện rõ nhất vai trò can thiệp của nhà nƣớc, nhiều khi lấn
át vai trò của thị trƣờng tự do, khiến cho cấu trúc các thị trƣờng nông sản cũng nhƣ
thị trƣờng các yếu tố đầu vào bị bóp méo và có tính bao cấp nặng nề. Do vậy, dƣới
tác động của quá trình toàn cầu hóa, nền nông nghiệp thế giới phải trải qua một sự
chuyển đổi kép, vừa dò dẫm cải cách hƣớng về cơ chế thị trƣờng, vừa phải chấp
nghiệp và thị trƣờng nông thôn đang diễn ra ngày càng phổ biến. Ngoài ra, việc sử
dụng bừa bãi thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, thuốc trừ cỏ... trong sản xuất nông
nghiệp đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trƣờng, nguồn nƣớc, không khí và
đất canh tác. Do vậy, nhà nƣớc phải can thiệp bằng các chính sách thích hợp nhằm
tạo điều kiện về kết cấu hạ tầng, khuyến khích, định hƣớng sản xuất nông nghiệp và
đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp.
Thứ hai, trong mỗi nền kinh tế, ngƣời nông dân tiến hành sản xuất nông
nghiệp ở những điều kiện khác nhau, chịu nhiều tác động của các điều kiện tự nhiên
và kinh tế, gây ra bất bình đẳng về thu nhập. Mặt khác, thị trƣờng luôn chứa đựng
các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, càng làm trầm trọng thêm sự phân hóa
thu nhập giữa các nhóm dân cƣ. Vì vậy, nhà nƣớc cần phải can thiệp vào thị trƣờng
thông qua những chính sách có tính chất hỗ trợ nông nghiệp và phân phối lại thu
nhập nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội.
Trên thực tế, sau khi Hiệp định Nông nghiệp có hiệu lực, đã có nhiều sự thay
đổi trong chính sách trợ cấp nông nghiệp của các quốc gia. Ở một số nƣớc phát triển,
trƣớc sức ép bên ngoài của WTO và bên trong của các lực lƣợng chính trị khác nhau
đòi phải cải tổ chính sách nông nghiệp, hạn chế sự trợ cấp quá mức làm giảm hiệu
quả sản xuất, thiệt hại cho ngƣời đóng thuế, chính phủ các nƣớc này đã có nhiều
điều chỉnh tích cực, nhƣ: New Zealand đã tiến hành cải cách xóa bỏ mọi trợ cấp của
nhà nƣớc cho nông nghiệp, Canada đã xóa bỏ mọi trợ cấp cho ngũ cốc và giảm bộ
máy quản lý nông nghiệp. Các nƣớc bảo hộ nhiều nhất và can thiệp vào thị trƣờng
nhiều nhất nhƣ Mỹ, Nhật, EU... cũng đang phải tiến hành các cải cách đáng kể trong
chính sách nông nghiệp để có thể thực thi những cam kết trong AoA. Đối với EU,
các hình thức hỗ trợ của nhà nƣớc chuyển từ trợ giá đánh vào ngƣời tiêu dùng sang
trợ cấp trực tiếp lấy từ thuế, hạn chế trợ cấp xuất khẩu nông sản sang các nƣớc đang
phát triển, thực hiện giảm giá và giảm trợ cấp trực tiếp từ năm 1992, thông qua