chính sách đầu tư quốc tế - một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế Hàn Quốc, những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và thực tiễn quan hệ đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Hàn Quốc là một trong
những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Thu nhập đầu người của Hàn Quốc
cuối những năm 50 thấp hơn rất nhiều so với các nước láng giềng. Giai đoạn
1953 đến 1961 là thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh một cách chậm
chạp, mặc dù đã có sự giúp đỡ to lớn của Mỹ. Tuy nhiên, tình hình đất nước
chỉ thực sự thay đổi khi người dân Hàn bắt tay vào thực hiện kế hoạch 5 năm
lần thứ nhất vào năm 1962. Ngay sau đó, Hàn Quốc đã bứt lên bậc thang
phát triển một cách thần tốc. Đến năm 1971, Hàn Quốc trở thành nước mới
công nghiệp hóa (NIC); đến năm 1995, tổng sản phẩm quốc dân bình quân
đầu người (GNP) của Hàn Quốc vượt 10.000 đô la Mỹ, xuất khẩu đạt 100 tỷ
đô la Mỹ. Hàn Quốc trở thành quốc gia đang phát triển lớn thứ ba sau Trung
Quốc, Braxin nếu tính theo quy mô kinh tế GDP. Hàn Quốc còn là nước sản
xuất ô tô lớn thứ năm thế giới, nước xuất khẩu hàng dệt may đứng thứ ba
sau Đức và Italia. Họ cũng là nước có ngành công nghiệp đóng tàu lớn thứ
hai thế giới sau Nhật Bản. Đặc biệt Hàn Quốc được đánh giá là quốc gia có
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới từ năm 1980.
Để có được một “kỳ tích sông Hàn ” như ngày nay, Hàn Quốc đã phải
trải qua cả một quá trình tìm tòi và thực hiện các chính sách kinh tế trong
các lĩnh vực thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ… Đó là những bài học
quý giá, là những kinh nghiệm của nước đi trước cho các nước đi sau như
Việt Nam tham khảo và vận dụng một cách hợp lý với hoàn cảnh đất nước
mình. Bài tiểu luận chỉ xin trình bày về chính sách đầu tư quốc tế - một bộ
phận cấu thành quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế Hàn Quốc,
những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và thực tiễn quan hệ đầu tư Việt
Nam - Hàn Quốc.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
A.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HÀN QUỐC
1.Vị trí địa lý:

một trong những nước giàu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong
những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong lịch sử thế giới
hiện đại. GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc nhảy vọt từ 100 USD
năm 1963 lên 10,000 USD năm 1995 và 25,000 USD vào năm 2007. Tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân là 5% mỗi năm.
Trong những năm 1970 đến 1980, kinh tế Hàn Quốc tập trung phát
triển ngành công nghiệp nặng và sản xuất ô tô và đã thu được những thành
công đáng kinh ngạc: Hiện Hàn Quốc có Posco là công ty sản xuất thép lớn
thứ 3 trên thế giới và ngành sản xuất ô tô cũng phát triển nhanh chóng điển
hình là Hyundai Kia Automotive Group góp phần đưa Hàn Quốc trỏ thành
cường quốc đứng thứ 5 trên thế giới về ngành này.
Năm 1996, Hàn Quốc trở thành thành viên của OECD, một mốc quan
trọng trong lịch sử phát trỉên kinh tế của họ. Ngành dịch vụ phát trỉên nhanh,
chiếm khoảng 70% GDP. Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống của người dân
được nâng lên nhanh chóng thậm chí còn cao hơn các quốc gia phát triển
khác ở châu Âu và Bắc Mỹ.
Hiện nay, thu nhập và tài sản của Hàn Quốc đang tăng một phần là do
sự đầu tư và xuất khẩu công nghệ cao sang các nước đang phát triển như
Trung Quốc, Việt Nam và Indonesia. Đặc biệt gần đây chính phủ Hàn Quốc
đang tăng cường xuất khẩu thiết bị bán dẫn và tăng cường thu hút đầu tư
nước ngoài vào các khu kinh tế tự do.Việc hình thành các khu kinh tế tự do
(KKTTD), không những thu hút vốn FDI mà còn tạo thuận lợi cho việc
chuyển giao công nghệ và chuyển giao các bí quyết sản xuất, nhằm làm tăng
năng lực cạnh tranh và phát triển các ngành sản xuất mới. Ngày 25/4/2008
Hàn Quốc vừa ra quyết định thành lập 3 khu kinh tế tự do (FEZs), một phần
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong nỗ lực nhằm thu hút thêm đầu tư nước ngoài và thức đẩy tăng trưởng
kinh tế của đất nước. Hiện nay Hàn Quốc đang là nhà đầu tư lớn nhất tại
Việt Nam với 1655 dự án đang hoạt động cùng tổng vốn đăng ký xấp xỉ 12,7

triển các công ty và nền sản xuất trong nước. Và những chính sách này luôn
có những biến đổi quan trọng nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển của mỗi
thời kỳ khác nhau. Cụ thể:
1.1.Thời kỳ 1960-1980 Hàn Quốc thực hiện thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ.
Năm 1960, chính phủ Hàn Quốc ban hành luật khuyến khích đầu tư
nước ngoài và đến tháng 7 năm 1962 luật đặc biệt khuyến khích vốn đầu tư
dài hạn bắt đầu có hiệu lực. Tuy nhiên Hàn quốc mới chỉ khuyến khích đầu
tư nước ngoài vào một số ngành, lĩnh vực nhất định như: công nghiệp đóng
tàu, hoá dầu, ô tô,… và hạn chế đầu tư nước ngoài vào vào các nhiều lĩnh
vực trong đó chủ yếu là dịch vụ như: viễn thông, ngân hàng tài chính, truyền
hình,… Ngoài ra chính phủ cũng chỉ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chỉ
đựơc góp vốn dưới 50% trong các công ty liên doanh.
Vào đầu những năm 1970, chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Hàn Quốc nhằm có được những kỹ thuật tiên tiến phục vụ sự
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chuyển đổi cơ cấu công nghiệp từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang
các ngành tập trung vốn và công nghệ. Trong những chính sách đó không
thể bỏ qua vai trò của các tập đoàn lớn được gọi là các Cheabol. Được chính
phủ Hàn quốc dành cho sự ưu tiên ưu đãi đặc biệt với hi vọng các tập đoàn
này sẽ trở thành nhưng người khổng lồ có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị
trường quốc tế và tạo ra sức mạnh cho sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế
đất nước, các Cheabol này có ảnh hưởng rất lớn đến không chỉ trong lĩnh
vực kinh tế mà cả phi kinh tế. 30 Cheabol lớn nhất Hàn Quốc chiếm đến
90% tổng GDP, trong đó riêng 4 Cheabol lớn nhất là Huyndai, Samsung,
LG, Daiwoo chiếm 84% tổng GDP, 60% tổng giá trị xuất khẩu và nắm hầu
hết công nghệ tiên tiến nhất Hàn Quốc. Bên cạnh đó, chính phủ còn thực
hiện sửa đổi một số điểm trong luật khuyến khích đầu tư nước ngoài nhằm
đáp ứng những đòi hỏi trong quá trình công nghiệp hoá vào đầu những năm

nước ngoài đầu tư qua thị trường chứng khoán, trước hết đối với các loại trái
phiếu lãi suất không cố định và trái phiếu không đảm bảo do các công ty vừa
và nhỏ phát hành
Để tạo một môi trường hấp dẫn lâu dài đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, Hàn Quốc đã tiến hành đầu tư xây dựng và mở rộng các khu công
nghiệp giành riêng cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài với hệ thống
cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại, thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh
doanh bao gồm hệ thống đường xá, cầu cống, bến bãi, nhà máy,…
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bên cạnh đó chính phủ cũng tiến hành kiện toàn hệ thống các đạo luật
nhằm cải thiện môi trường đầu tư như áp dụng hình thức cấp giấy phép
nhanh cho nhà đầu tư nước ngoài đối với các dự án đầu tư trong đó đặc biệt
ưu tiên đầu tư công nghệ cao. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể được phép
thành lập các xí nghiệp trong vòng 45 ngày kể từ ngày nộp đơn xin đầu tư so
với thời gian tối thiểu chờ phê chuẩn trước kia là 200 ngày.
Những biện pháp trên của Hàn Quốc được thể hiện cụ thể qua các chính
sách cải cách cuối năm 1980 liên quan đến đầu tư được thực hiện từ 1981
như: thay đổi tỷ giá hối đoái, đìêu tiết các Chaebol; tự do hoá giá cả rộng rãi,
giảm hỗ trợ ngành, tổ chức lại đầu tư ngành công nghiệp nặng và hóa chất,
tư nhân hoá các ngân hàng thương mại,…
Kết thúc giai đoạn này, Hàn quốc đã thu hút được một khối lượng lớn
vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt vào các ngành quan trọng tạo động lực cho
quá trình phát triển kinh tế trong giai đoạn tiếp theo.
2. Giai đoạn 1991 đến nay:
Mô hình chính sách trong giai đoạn này là thực hiện tự do hóa đầu tư
và tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty Hàn quốc đầu tư ra nước ngoài
bên cạnh việc tiếp tục tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào trong nước.
2.1.các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn này
được thể hiện qua một số mốc thời gian sau:

chỉ khoảng 6 triệu USD trong khi điều luật về đầu tư ra nước ngoài đã được
ban hành từ tháng 12 năm 1968. Tuy tiên đầu tư ra nước ngoài của Hàn quốc
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bước sang một giai đoạn mới từ 1975 khi phần lớn các cơ chế liên quan đến
đầu tư ra nước ngoài do Thống đốc Ngân hàng Hàn quốc đảm nhận thay vì
phải xin phê duyệt của chính phủ như trước. Từ 1980, chính phủ nới lỏng,
bãi bỏ các đạo luật, điều lệ gây hạn chế đầu tư ra nước ngoài trước đây khiến
đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc tăng nhanh.
Từ 1991 đến nay, chính phủ đã mở rộng vai trò hoạt động của các tổ
chức xúc tiến thương mại và đầu tư nhằm hỗ trợ tích cực hơn cho các công
ty Hàn quốc đầu tư ra nước ngoài thông qua việc cung cấp thông tin về thị
trường đầu tư, đặc biệt với những nước mà Hàn quốc chưa có quan hệ ngoại
giao. Trong việc cải cách hành chính, để tạo sự thuận lợi, nhanh chóng, tránh
làm lỡ mất các cơ hội đầu tư của các công ty chính phủ đã uỷ quyền phê
chuẩn cấp giấy phép đầu tư cho ngân hàng Hàn quốc đối với những dự án có
quy mô vốn từ 100.000 USD trở xuống, còn những dự án trên mức đó thì
vẫn do chính phủ xem xét và phê duyệt. Để đưa ra được những chính sách
thích hợp với nhu cầu thực tế của các công ty, chính phủ Hàn quốc đã thành
lập các uỷ ban hợp tác đầu tư song phương và hiệp hội các nhà đầu tư Hàn
Quốc nhằm hỗ trợ tích cực hơn cho các công ty Hàn quốc đầu tư ra nước
ngoài bằng cách hàng năm tổ chức các diễn đàn gặp mặt giữa uỷ ban, hiệp
hội, các nhà đầu tư, nhằm đánh giá và nắm bắt những vướng mắc, khó khăn
của các nhà đầu tư ở thị trường nước ngoài để có các biện pháp khắc phục,
giải quyết kịp thời.
Từ năm 2005, để giảm bớt áp lực lên hoạt động xuất khẩu do sự tăng
giá của đồng won, Hàn quốc đang có nhiều động thái để khuyến khích các
doanh nghiệp nước này tăng cường đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể là chính
phủ sẽ miễn thuế 3 năm cho các nhà đầu tư địa phương khi thực hiện đầu tư
ra nước ngoài; cho phép gia tăng mức đầu tư vào bất động sản; đồng thời nới

2005 3.707 11.563.518
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đầu những năm 1960, FDI chỉ chiếm chưa đầy 15% nguồn vốn đổ vào
Hàn quốc nhưng chiếm một vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển
kinh tế đất nước. Theo bảng trên ta thấy trong những năm 1970-1980 vốn
FDI tăng tương đối ổn định. Nhưng vào đầu năm 1990 giá lương thực tăng
nhanh, giá đất tăng mạnh, lãi suất tăng cộng thêm sức ép làm phát đã khiên
FDI giảm mạnh. Cụ thể năm 1991 là 1,396 tỉ USD, năm 1992 chỉ có 894,4
triệu USD. Tuy nhiên nhờ những cải cách năm 1993 như đã phân tích thì
FDI đã tăng trở lại và năm 1995 đã đạt 1,947 tỉ USD. Cũng theo bảng trên từ
1995 đến 2000 FDI tăng đột biến, đó là do năm 1996 Hàn quốc gia nhập
OECD và thực hiện tự do hoá kinh tế.
Xét theo phân ngành, ngành chế tạo thu hút được nhiều vốn đầu tư
nước ngoài nhất, chiếm 80% năm 1970 và giảm xuống còn 61,3% những
năm 1990 trong tổng vốn FDI vào Hàn quốc. Trong đó ngành hóa học, điện,
điện tử và thiết bị giao thông vận tải chiếm tỉ trọng lớn nhất. Ngoài ra vốn
đầu tư nước ngoài vào ngành dịch vụ năm 1960 chỉ chiếm 1% thì đến những
năm 1990 đã trở thành ngành hấp dẫn đầu tư chiếm 37,4% (1994) và đến
năm 1999 đã vượt ngành chế tạo với số vốn 8 tỉ USD.
Xét theo khu vực, năm 1980, tỉ lệ đầu tư của châu Á vào Hàn quốc là
cao nhất chiếm 53,5%, tiếp đó là Bắc Mĩ (32,9%), châu Âu (10,8%), Mỹ
Latinh (1,3%), Trung Đông (0,2%), Nam Thái Bình Dương (0,3%), các khu
vực khác (0,9%). Nhưng đến năm 1994 cơ cấu đã thay đổi: châu Á vẫn dẫn
đầu trong việc đầu tư vào Hàn quốc (43,2%), tiếp theo là Bắc Mĩ (23,7%),
Châu Âu (30,9%), Trung Đông (0,1%), các khu vực khác (2,1%). Trong đó
Nhật bản và Mĩ là 2 nhà đầu tư quan trọng nhất. Giai đoan 1962-1994 Nhật
bản chiếm 39,1% Mĩ chiếm 28,5% tổng FDI vào Hàn quốc.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368

nguyên nhân của một loạt các khủng hoảng của Hàn quốc trong thời gian
gần đây, đặc biệt trong hệ thống các công ty trong nước.
2. Hạn chế
Đặc trưng của nền kinh tế Hàn quốc hiện đại đó là sự thống trị của các
Chaebol. Không ai có thể phủ nhận những đóng góp to lớn của các Cheabol
này cho nền kinh tế Hàn quốc vì đó là bộ xương sống của nền kinh tế, tiếp
thu công nghệ tiên tiến từ các quốc gia phát triển và có sức cạnh tranh quốc
tế trong một số ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiêp chế tạo, điện tử;
các Cheabol này không chỉ gây ảnh hưởng trong nước mà còn trên phạm vi
toàn cầu với hàng trăm chi nhánh nước ngoài và số tài sản vài chục tỉ USD.
Tuy nhiên những Cheabol này lại là con dao hai lưỡi vì một mặt nó là động
lực cho phát triển kinh tế, mặt khác nó lại gây những ảnh hưởng xấu đến môi
trường kinh doanh và môi trường xã hội Hàn quốc. Điều đó thể hiện ở chỗ
chính phủ Hàn quốc đã hầu như mất khả năng khiểm soát mối quan hệ kinh
tế trong các Cheabol. Ngay từ đầu, chính phủ đã tập trung cao độ vốn và
công nghệ vào những công ty cỡ lớn này nên gây ra tình trạng khan hiếm
vốn và các nguồn lực cho các công ty khác dẫn đến sự phá sản của một loạt
các công ty vừa và nhỏ. Cụ thể: năm 1994 Hàn quốc có 5414 SMCs bị phá
sản, 1676 SMCs khác phải ngừng hoạt động so với 3818 SMCs mới được
thành lập. Sang năm 1995 thì đã có những 13.992 SMCs phải đóng cửa mặc
dù nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng 9%. Do đó môi trường đầu tư trong
nước của Hàn quốc đã là thiếu lành mạnh, thiếu công bằng. Tuy nhiên chính
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
việc ưu đãi quá mức nguồn tín dụng cho các Chaebol đã dẫn đến tình trạng
nợ nghiêm trọng. Măt khác trên thực tế, phương thức sản xuất của các công
ty này là kết hợp công nghệ nước ngoài với lao động rẻ, cần cù; đầu tư R&D
vào khu vực chế tạo tăng nhanh nhưng vẫn thấp hơn các nước phát triển.
Ngoài ra các Chaebol này không có hệ thống các công ty vệ tinh nên thường
dễ bị tấn công hơn trên thị trường quốc tế vì mức độ chuyên môn hóa không

tạo ra những cải cách chính sách kinh tế, định hướng thị trưòng và được
Chính phủ tiếp sau đó kế tục. Những cải cách này nhằm củng cố sự năng
động và tiến tới tự do hoá nền kinh tế.
Có được sự hiệu quả trong quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế
cần đến những nhân tố hỗ trợ cho cuộc cải cách chính sách là:
Thứ nhất là sự duy trì mạnh mẽ và định hướng dứt khoát các mục tiêu,
nhờ đó Chính phủ có thể hoạch định các chính sách, các nhà kinh doanh có
thể trù tính các kế hoạch đầu tư dài hạn.
Thứ hai là sự uyển chuyển và thích nghi trong việc hoạch định chính
sách, việc không chần chừ nhận sai giúp cho chính phủ bắt tay ngay vào việc
sửa chữa, nhờ thế mà Hàn Quốc có thể vượt qua các cuộc khủng hoảng dầu
mỏ, khủng hoảng tài chính châu Á 1997,… một cách thành công.
Thứ ba là mức độ hợp tác cao giữa Chính phủ và giới kinh doanh, coi
giới kinh doanh là người cộng tác quan trọng và tham khảo các ý kiến của
họ hầu như về tất cả các chính sách quan trọng của Hàn Quốc.
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status