Chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 64

Lời mở đầu
1. tính cấp thiết của đề tài
Chính sách bảo hộ từ xưa tới nay luôn tồn tại như một chính sách thiết
yếu và quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mọi quốc gia bởi tất
cả các quốc gia dù mạnh hay yếu, dù phát triển hay đang phát triển đều muốn
xây dựng và phát triển các ngành sản xuất trong nước đồng đều và bền vững.
Bước sang thế kỉ XXI, khi mà tiến trình toàn cầu hoá và khu vực hoá cũng đã
đi được một chặng đường khá dài với sự ra đời của các tổ chức kinh tế như
WTO, EU, AFTA, NAFTA… tạo ra một sân chơi chung và những quy tắc
nhằm phát triển thương mại quốc tế, thì vấn đề bảo hộ lại được nâng lên một
tầm cao mới đó là bảo hộ hợp lý để làm cơ sở cho hội nhập kinh tế toàn cầu.
Trong xu thế mạnh mẽ của toàn cầu hoá trên thế giới, Việt Nam cũng
đang nỗ lực hết mình: gia nhập ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1998)
và gần đây nhất là gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO (2006),
chứng tỏ chúng ta đang cố gắng hết mình để có thể hội nhập kinh tế một cách
toàn diện và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng với một nền kinh
tế mà sức cạnh tranh còn kém thì nếu hội nhập, chúng ta cần thiết phải áp
dụng một cơ chế chính sách bảo hộ hợp lý để không bị “tổn thương” trước
nguy cơ cạnh tranh từ bên ngoài và làn sóng mạnh mẽ của toàn cầu hoá, để
phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế an toàn và hiệu quả.
Chính vì thế, một trong những khía cạnh được quan tâm nhất của chính
sách bảo hộ hiện nay với tất cả các quốc gia trên thế giới là làm thế nào để
chính sách bảo hộ thực sự mang lại hiệu quả tích cực đối với nền kinh tế đất
nước, đặc biệt là các nước đang phát triển với trình độ phát triển kinh tế chưa
cao. Đối với các nước phát triển, những nước đã có một nền kinh tế hàng hoá
phát triển cao thì việc áp dụng một chính sách bảo hộ hợp lý là hết sức có lợi.
Nhưng còn đối với các nước đang phát triển, mặc dù có quyết tâm rất cao,

nhưng để thực hiện và thu được lợi ích thực sự bảo hộ hợp lý không phải là
đơn giản. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó. Đây chính là
lý do tác giả chọn viết khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Chính sách bảo hộ

chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận này kết hợp chặt chẽ các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thông kê và xử lý thông tin
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp so sánh
Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn
Để hoàn thành bài khoá luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương, những người đã truyền thụ
cho em những kiến thức quý báu trong suốt hơn bốn năm học qua. Đặc biệt,
em xin cảm ơn TS. Bùi Thị Lý, Bộ môn Quan hệ Kinh tế quốc tế, người đã
trực tiếp hướng dẫn em viết bài khoá luận này. Mặc dù thời gian có hạn
nhưng cô đã giành cho em những phút giây quý báu. Cô đã tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận.
Chương I
Một số vấn đề lý luận về Bảo hộ và
Chính sách Bảo hộ hợp Lý sản xuất trong nước

I. Khái quát Chính sách bảo hộ trong thương mại quốc tế
1. Khái niệm về chính sách bảo hộ

Bảo hộ (Tiếng Anh là Protection) có nghĩa là che chở, bảo vệ để không
gây ra tổn hại. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về
Bảo hộ.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, “Chính sách bảo hộ là
chính sách kinh tế hay học thuyết kinh tế của nhà nước áp dụng một loạt các
biện pháp thuế quan hay hành chính để cấm hay hạn chế nhập khẩu một số
mặt hàng của nước ngoài, nhằm kích thích phát triển nền kinh tế trong nước,
không bị nước ngoài cạnh tranh và khuynh đảo”
(1)

Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1994, trang 37

Tóm lại, Chính sách bảo hộ nói chung trong thương mại quốc tế
(Protectionism) là việc chính phủ áp dụng các biện pháp rào cản thuế quan và
phi thuế quan cùng những rào cản thương mại khác nhằm bảo vệ nền sản xuất
trong nước, đẩy mạnh việc sản xuất và xuất khẩu ra nước ngoài.
2. Những bước phát triển của chính sách bảo hộ.
Về mặt lịch sử, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ra đời từ rất sớm, trước
cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu, thế kỷ 17 - đây là thời kỳ tích luỹ
nguyên thuỷ của Chủ nghĩa Tư bản. Với mục tiêu bảo hộ sản xuất, thúc đẩy
xuất khẩu nhằm đạt thặng dư thương mại, chính sách này đã có tác động khá
mạnh tới sự mở mang và phát triển sản xuất của các quốc gia Tây Âu thời bấy
giờ.
Bước sang thế kỷ 18, Adam Smith – một đại diện tiêu biểu và xuất sắc
của Kinh tế chính trị cổ điển Anh đã đề xướng tư tưởng kinh tế tự do. Nét nổi
bật trong lý thuyết kinh tế của A.Smith là tin vào sự điều tiết của thị trường và
phản đối sự can thiệp của nhà nước. Triết lý tự do kinh doanh của A.Smith,
cũng như của David Ricardo đã được mọi giới chấp nhận và trở thành học
thuyết kinh tế ngự trị trong suốt thời kỳ tự do cạnh tranh của Chủ nghĩa tư
bản. Trong thời kỳ này, mặc dù sự kiểm soát của nhà nước có giảm đi, những
trở ngại kinh tế dần được cắt giảm và bãi bỏ nhằm mục tiêu phát triển thương
mại quốc tế, nhưng chính sách bảo hộ vẫn tồn tại, với mục đích nâng đỡ các
ngành sản xuất non kém để chúng có đủ sức cạnh tranh trên thị trường nội địa
và thị trường ngoài nước.
Thế kỷ 19 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa độc quyền,
nhất là giai đoạn cuối thế kỷ 19 , đầu thế kỷ 20 (1890 – 1910). Trong thời kỳ
này, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tự do mậu dịch gây ra những khó
khăn về vấn đề thị trường và cạnh tranh. Hầu hết các nước tư bản phát triển
(trừ Anh và Hà Lan) đều áp dụng một chính sách bảo hộ rất cao, đánh thuế
nhập khẩu rất cao đối với nhiều loại hàng và mở rộng danh mục mặt hàng

khu vực của các nước ra đời , các mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại,
đầu tư trên phạm vi thế giới phát triển mạnh, học thuyết cũng như các chính
sách đóng cửa và tự cung tự cấp không thể tồn tại. Do đó, chính sách bảo hộ
mậu dịch không còn thịnh hành như trước. Tuy nhiên, trong công cuộc cạnh
tranh giữa các nước công nghiệp phát triển, giữa các nước phát triển với các
nước đang phát triển, cũng như giữa các khối kinh tế, nhiều nước vẫn áp dụng
chính sách bảo hộ vì những mục tiêu chính trị hay kinh tế nhất định để bảo vệ
nền độc lập của đất nước và phát huy lợi thế trong cạnh tranh. Chính sách bảo
hộ của các nước tư bản phát triển phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền
lớn nhất trong nước và các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia với mục đích
chủ yếu là chiếm đoạt, phân chia và phân chia lại các thị trường tiêu thụ hàng
hoá và đầu tư. Với các nước đang phát triển, chủ nghĩa bảo hộ nhằm bảo vệ
nền kinh tế của những nước này chống lại sự bành trướng kinh tế của các
cường quốc đế quốc chủ nghĩa, góp phần củng cố nền kinh tế dân tộc độc lập.
3. Mục tiêu của chính sách bảo hộ
Chính sách bảo hộ được đặt ra nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong
nước tránh được sự cạnh tranh từ bên ngoài, góp phần phát triển sản xuất,
thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế nội địa. Việc đánh thuế nhập khẩu và
việc áp dụng các hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu đối với
một số loại hàng hoá dịch vụ sẽ làm cho giá bán của những hàng hoá dịch vụ
này tăng lên cao hơn so với hàng hoá được sản xuất trong nước. Do đó, thay
vì tiêu dùng những hàng hóa dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng trong nước
sẽ quay sang dùng những hàng hoá dịch vụ cùng loại được sản xuất trong
nước với giá rẻ hơn. Khi nhu cầu tiêu dùng hàng hoá dịch vụ nhập khẩu giảm
sút các nhà nhập khẩu sẽ hạn chế số lượng hàng hoá dịch vụ nhập khẩu và
ngược lại, các nhà sản xuất trong nước chủ nhà sẽ có điều kiện mở rộng và
phát triển sản xuất kinh doanh của mình.

Chính sách bảo hộ còn góp phần tạo việc làm cho một bộ phận dân
chúng nước chủ nhà. Nhờ các ưu đãi từ chính sách bảo hộ nên một số ngành

lợi thế so sánh cuả đối tác tham gia trên thị trường. Bảo hộ còn dẫn đến việc
phân bổ sai nguồn lực, chi phí cơ hội lớn và làm thiệt hại cho giới tiêu dùng
trong nước. Tương tự như thế, một chính sách bảo hộ thiên về tạo công ăn
việc làm mà không tính toán đến các yếu tố khác sẽ làm cho tình trạng thất
nghiệp của đất nước ngày một gia tăng.
Tuy nhiên, chúng ta có nên loại bỏ hoàn toàn chính sách bảo hộ? Câu
trả lời là không hoàn toàn như vậy. Tất cả các nước trên thế giới, thậm chí
những nước được coi là phát triển nhất như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung
Quốc…vẫn áp dụng những chính sách bảo hộ nhất định đối với một số ngành
hàng của mình. Mặt khác, các quy định của WTO vẫn chấp nhận việc các
nước thành viên sử dụng các biện pháp phi thuế quan để hạn chế nhập khẩu
trong những trường hợp cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, văn hoá
truyền thống, môi trường và sức khoẻ con người…
Vậy điều mà các quốc gia cần làm để bảo vệ các ngành sản xuất trong
nước một cách hữu hiệu nhất là gì? Đó chính là xây dựng và thực hiện một
chính sách bảo hộ hợp lý, tức là bảo hộ nhằm tăng tính cạnh tranh, thúc đẩy
phát triển chứ không phải để “nuông chiều” các ngành sản xuất trong nước.
Bảo hộ hợp lý không phải chỉ là tạo ra những rào cản ngăn chặn sự xâm nhập
của hàng hoá nước ngoài vào nước mình, hoặc trợ cấp dưới mọi hình thức cho
sản xuất nội địa, mà quan trọng hơn là những biện pháp bảo hộ đó phải đạt
được mục tiêu phân bổ nguồn lực hợp lý, nâng cao khả năng cạnh tranh của
sản phẩm nội địa trên thị trường trong nước lẫn quốc tế. Điều này cũng có
nghĩa là không nên bảo hộ những ngành sản xuất “ốm yếu”, không có tiền đồ
phát triển và không có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, với các
ngành sản xuất “non trẻ”, khi mới bước vào thị trường, nhất là thị trường thế

giới, thường gặp không ít những khó khăn và rất cần sự hỗ trợ của nhà nước
dưới các hình thức khác nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm
của mình. Kinh nghiệm cho thấy không quốc gia nào trên thế giới tăng trưởng
nhanh nhờ vào bảo hộ. Chính vì thế, bảo hộ phải tạo đà cho tự do hoá thương

nước là vấn đề hết sức cần thiết, đặc biệt là trong điều kiện nhiều ngành sản
xuất của các quốc gia đang phát triển và kém phát triển với thiết bị, kỹ thuật
và công nghệ còn lạc hậu. Để các chính sách bảo hộ vừa phù hợp với các
thông lệ quốc tế, vừa có tính hiệu quả cao, các nhà hoạch định chính sách có
thể xem xét một số vấn đề cụ thể:
Thứ nhất: Lựa chọn các đối tượng bảo hộ.
Đây là một khâu hết sức quan trọng, có ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả
của
các chính sách bảo hộ sau này. Những ngành sản xuất được bảo hộ phải là
những ngành thực sự có lợi thế so sánh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, có tiềm
năng phát triển và có ảnh hưởng lan truyền tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Nếu các đối tượng được lựa chọn không có lợi thế cạnh tranh so với các
ngành tương ứng trong khu vực hoặc trên thế giới thì sự ưu tiên, ưu đãi và các
khoản đầu tư sẽ có thể bị lãng phí và trở nên phi hiệu quả. Vì vậy, cần xem
xét, phân tích kỹ các số liệu thống kê, tham khảo ý kiến của các nhà nghiên
cứu kinh tế trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề để có được sự lựa chọn
chính xác nhất.
Thứ hai: Quan điểm bảo hộ phải mang tính nhất quán và được đầu tư
một cách thoả đáng.
Sau khi đã lựa chọn được đối tượng bảo hộ thì phải khẳng định và theo
đuổi đến cùng mục tiêu bảo hộ của mình thông qua việc lập kế hoạch ưu tiên
cho các ngành sản xuất được lựa chọn: Các ưu tiên đặc biệt về thuế, các

chương trình đầu tư và vay vốn ngân sách nhà nước, ưu tiên sử dụng ngoại tệ
để mua máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến hoặc cung cấp tín dụng với lãi
suất thấp để nhập khẩu công nghệ tiên tiến… Việc áp dụng đồng bộ những
giải pháp này trong thời gian nhất định sẽ thúc đẩy các đối tượng được bảo hộ
phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều lao động và hạ giá thành sản phẩm. Nói
cách khác, tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm sẽ
được nâng lên. Bên cạnh đó, một lần nữa tầm quan trọng của việc lựa chọn

khách quan tất yếu mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài cuộc nếu
không muốn để lỡ những cơ hội phát triển mà xu thế này có thể mang lại.
Nhưng tất cả các quốc gia, dù phát triển hay đang phát triển, dù giàu hay
nghèo, khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá đều phải chịu những tác động
mặt trái của nó ở những mức độ và khía cạnh khác nhau. Trong xu thế này,
các quốc gia đang phát triển phải chịu nhiều thiệt thòi nhất và dễ bị tổn
thương nhất bởi tự do hoá thương mại đặt các quốc gia này trước những thách
thức vô cùng to lớn về khả năng cạnh tranh quốc tế và làm trầm trọng thêm
những vấn đề kinh tế – chính trị - xã hội.
Thứ nhất, về kinh tế: Tự do hoá thương mại làm tăng tính dễ bị tổn
thương của các nền kinh tế đang phát triển.
Nền kinh tế trong thời đại tự do hoá có các cơ cấu tùy thuộc lẫn nhau
và các thị trường tài chính hội nhập chặt chẽ hàm chứa những nguy cơ to lớn
về khủng hoảng tài chính tiền tệ đối với các quốc gia đang phát triển. Trong
điều kiện tự do hoá thương mại đang chịu sự chi phối của các nước tư bản
phát triển thì sự phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế - tài chính quốc tế tất yếu sẽ dẫn
đến sự phụ thuộc của các nước đang phát triển vào các thế lực tư bản tài chính
quốc tế và sự thu hẹp phạm vi và quyền lực của các chính quyền quốc gia với
chính quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước mình. Các cuộc khủng
hoảng kinh tế và tài chính ở châu á và Mỹ Latinh đã phơi bày những nguy cơ

có thể nảy sinh trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế , mà đặc biệt là toàn cầu
hoá tài chính và đầu tư, cũng như những xu hướng thái quá mà quá trình này
có thể đưa đến. Những cuộc khủng hoảng ở Mỹ Latinh vào thập kỷ 80, khủng
hoảng ở Mehico năm 1994 và khủng hoảng Tài chính tiền tệ châu á
(1997-1999) đều là các cuộc khủng hoảng mang tính cơ cấu với sắc thái tài
chính - tiền tệ rất đậm nét chứ không phải khủng hoảng chu kỳ hay sự đổ vỡ
của một mô hình phát triển nào đó. Các cuộc khủng hoảng đó đều kèm theo
suy thoái kinh tế mạnh diễn ra theo tính chất làn sóng như “Hiệu ứng
Đôminô” và bắt đầu từ các “trung tâm nhạy cảm” của từng khu vực. Đó chính

Tự do hoá thương mại còn góp phần làm gia tăng các khoản nợ của các
nước nghèo. Để có thể tăng trưởng kinh tế trong thời kì hội nhập, các nước
nghèo cần vốn để đầu tư cho các chương trình phục vụ mục tiêu này. Do đó,
họ cần vay vốn thông qua các tổ chức tài chính tiền tệ (WB, IMF) hoặc vay
trực tiếp của các nước phát triển. Theo lý thuyết, vốn được vay sẽ được sử
dụng vào các chương trình nhằm tăng trưởng kinh tế và sẽ được hoàn trả
trong tương lai. Và trên thực tế, đã có một số quốc gia thực hiện được lý
thuyết này như các nước NICs. Tuy nhiên, con số các quốc gia mất khả năng
trả nợ, trở thành con nợ dai dẳng của WB, IMF và các nước giàu thì lại lớn
hơn nhiều. Họ không những không trả được nợ mà ngược lại gánh nặng nợ
nần trên vai họ lại ngày càng chồng chất.
Tự do hoá thương mại làm tăng nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc về mặt
công nghệ của các nước đang phát triển. Không thể phủ nhận rằng khoa học
công nghệ đóng một vai trò vô cùng quan trọng của đối với sự phát triển kinh
tế- xã hội trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Sự phát triển của khoa học
công nghệ chính là một trong những động lực của quá trình toàn cầu hoá.
Nhiều ý kiến lạc quan cho rằng cuộc cách mạng khoa học công nghệ mang
tới cho các nước đang phát triển những cơ hội để rút ngắn khoảng cách phát

triển đối với các nước công nghiệp. Tuy nhiên, nếu xem xét sâu hơn một chút
thì sẽ thấy ngay một sự thật rằng cụm từ “cuộc cách mạng công nghệ đang
diễn ra như vũ bão” thực chất, chủ yếu chỉ xảy ra ở những nước công nghiệp
phát triển, ở những tập đoàn khổng lồ. Còn ở những nước nghèo, người dân
chỉ nghe về nó chứ ít có cơ hội được tham gia, chứ chưa nói đến được hưởng
thành quả của nó. Thực trạng đáng buồn là quá trình toàn cầu hoá đã khiến
cho khoa học công nghệ càng phát triển thì hố ngăn cách về công nghệ giữa
các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng sâu sắc hơn, giống
như cái cách nó đã đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo.
Điều nguy hại hơn, và đáng buồn là lại khả phổ biến, là ngay cả khi đã
tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài, phần lớn các nước đang phát triển không

chấp nhận hạn chế thẩm quyền riêng biệt của mình trong nhiều lĩnh vực: kinh
tế - xã hội và thậm chí là chính trị, mà kẻ đứng đằng sau thao túng mọi hoạt
động của các tổ chức này lại là các nước tư bản phát triển mà đặc biệt là Mỹ.
Để được trở thành thành viên của WTO, một quốc gia phải chấp nhận mở
toang cửa nền kinh tế nước mình cho các công ty nước ngoài, không được bảo
hộ cho những ngành công nghiệp non trẻ của mình. Các nước đang phát triển
sẽ ngày càng phải đương đầu với áp lực của mâu thuẫn giữa yêu cầu hội nhập
vào xu thế toàn cầu hoá và yêu cầu duy trì an ninh quốc gia và độc lập chủ
quyền của họ. Nếu chiều theo mọi đòi hỏi tham lam của các thế lực bên ngoài,
họ sẽ mất chủ quyền quốc gia, ngày càng lệ thuộc vào bên ngoài, có thể dẫn
đến những hậu quả khôn lường trong tương lai.
2.2. Những tác động tích cực của chính sách bảo hộ mậu dịch hợp lý.
Tự do hoá thương mại và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu thông qua
tham gia vào các thể chế kinh tế toàn cầu và khu vực bắt buộc tất cả các nước
phải chấp nhận “luật chơi” tự do cạnh tranh, nghĩa là phải mở cửa thị trường,
dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá và dịch vụ

nước ngoài, loại bỏ các hạn chế đầu tư. Nhưng cạnh tranh luôn là con dao hai
lưỡi. Một mặt, nó là động lực thúc đẩy sản xuất trong nước vươn lên; mặt
khác, nó có thể giết chết sản xuất trong nước nếu không đủ sức mạnh để tồn
tại. Hơn nữa, trong bối cảnh mở cửa tự do, nền kinh tế luôn đứng trước nguy
cơ chịu tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài, nguy cơ tụt
hậu và phụ thuộc về mặt công nghệ của các nước đang phát triển, sự gia tăng
khoảng cách giàu nghèo, tình trạng chảy máu chất xám và những mối đe doạ
ô nhiễm môi trường sinh thái…
Đứng trước làn sóng mạnh mẽ của tự do hoá thương mại trên thế giới,
một chính sách bảo hộ mậu dịch hợp lý có khả năng bảo vệ thị trường nội địa
chống lại sự cạnh tranh, chèn ép của hàng hoá nước ngoài, từ đó tạo điều kiện
cho các ngành sản xuất trong nước phát triển. Nền kinh tế được bảo hộ sẽ
tránh được các cú sốc từ bên ngoài, có được môi trường tương đối ổn định để

về xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết hay xa xỉ từ
đó hạn chế chi tiêu ngoại tệ và thu về nhiều hơn thông qua xuất khẩu.
3. Các biện pháp bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước
Hầu hết các biện pháp được áp dụng để bảo hộ nền sản xuất trong nước
đối với công nghiệp và nông nghiệp đều tương tự nhau xét về bản chất, chỉ
khác nhau về mức độ, hình thức và tính phức tạp khi áp dụng. Hiện tại có rất
nhiều các biện pháp được sử dụng để bảo hộ sản xuất trong nước, kiểm soát
và hạn chế hàng nhập khẩu, nhưng những biện pháp bảo hộ phù hợp với
những quy định của WTO và có mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước tiêu
biểu có những biện pháp sau:
3.1. Hàng rào kỹ thuật thương mại và các biện pháp vệ sinh dịch tễ
3.1.1. Hàng rào kỹ thuật thương mại ( Technical Barriers to Trade)

Là các biện pháp đề cập đến các yêu cầu, tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật
đối với hàng nhập khẩu vào nước mình. Các tiêu chuẩn này tạo thuận lợi cho
thương mại quốc tế bằng cách giúp người mua nước ngoài đánh giá được quy
cách, chất lượng sản phẩm và cũng gián tiếp trở thành rào cản thương mại
trong trường hợp những tiêu chuẩn, quy định đặt ra quá khác biệt giữa các
nước.
 Các yêu cầu về nhãn mác, bao bì, đóng gói hàng hoá: tập trung chủ yếu
vào chuẩn hoá quy cách của sản phẩm chế tạo, như nhãn mác, bao bì,
đóng gói…
 Các yêu cầu về quy trình và sản xuất, thu hoạch và chế biến
 Các yêu cầu về vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS): nhằm bảo vệ
cuộc sống hoặc sức khoẻ con người và động thực vật thông qua việc
bảo đảm an toàn thực phẩm và ngăn chặn sự xâm nhập của các dịch
bệnh có nguồn gốc từ động thực vật.
Theo Hiệp định Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) của WTO, các
nước thành viên WTO phải tuân thủ các yêu cầu sau:
 Các tiêu chuẩn hướng dẫn và khái niệm của các tổ chức tiêu chuẩn

hạn chế một cách vô lý tới thương mại quốc tế.
3.2. Trợ cấp và chống trợ cấp trong thương mại quốc tế
Trong thương mại thế giới, buôn bán công bằng và ngay thẳng là điều
kiện quan trọng để thúc đẩy tự do hoá thương mại, góp phần bảo đảm sự ổn
định và minh bạch trong thương mại. Thoả thuận về trợ cấp và chống trợ cấp
đã đạt được trong thời kỳ GATT, sau đó Hiệp định này đã tiếp tục được sửa
đổi, hoàn thiện và cấu thành nên hệ thống pháp lý của WTO ngày nay. Không
giống như Hiệp định tiền nhiệm, Hiệp định mới về trợ cấp của WTO chứa
đựng định nghĩa về trợ cấp và đưa ra khái niệm về “trợ cấp đặc thù” hay còn
gọi là “trợ cấp riêng”. Chỉ các trợ cấp đặc thù hay trợ cấp riêng mới chịu sự
điều chỉnh bởi các nguyên tắc được quy định trong hiệp định này.
Những quy định về trợ cấp được làm rõ trong Hiệp định về trợ cấp và
các biện pháp đối kháng SCM (Subsidies and Countervailing Measures) và
Hiệp định Nông nghiệp AoA (Agreement on Agriculture).
3.2.1. Định nghĩa trợ cấp:
Trợ cấp xảy ra khi một số lợi ích được chuyển giao nhờ có sự hỗ trợ
của chính phủ về giá hay thu nhập, hay có sự đóng góp tài chính của chính
phủ cũng như các tổ chức công cộng, chẳng hạn như chuyển giao trực tiếp các

khoản tiền hay bảo lãnh tín dụng; hoặc bỏ qua các khoản tiền lẽ ra phải thu
cho ngân sách nhà nước, chẳng hạn như các ưu đãi về thuế (trừ thuế gián thu);
hoặc chính phủ cung cấp hàng hoá và dịch vụ không thuộc nhóm cơ sở hạ
tầng, hay thông qua việc mua hàng hoá.
(Trích điều 1-Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng).
Trợ cấp riêng là gì?
Trợ cấp riêng là loại trợ cấp chỉ dành cho một ngành hoặc một số ngành, một
doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp nhất định, và các cơ quan có thẩm
quyền hay các văn bản pháp luật không chỉ ra một cách rõ ràng, công khai các
tiêu chuẩn khách quan để đạt được trợ cấp.
Trợ cấp áp dụng giới hạn cho các doanh nghiệp nhất định nằm trong

khẩu của mình.
Có thể phân ra các loại trợ cấp sau:
Đối với các sản phẩm phi nông nghiệp, bao gồm 3 loại trợ cấp: trợ cấp bị cấm,
trợ cấp có thể đối kháng, và trợ cấp không thể đối kháng.
 Trợ cấp bị cấm
Trợ cấp có thể được sử dụng để hỗ trợ cho một ngành sản xuất non trẻ
vươn lên chiếm lĩnh thị trường hoặc vì các mục đích khác. Tuy nhiên, có một
số hình thức trợ cấp bị cấm trong WTO.
WTO đặc biệt cấm các thành viên không được sử dụng các biện pháp
trợ cấp gắn với thành tích xuất khẩu (trợ cấp xuất khẩu) cũng như các trợ cấp
gắn với việc ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng nhập khẩu (tức là trợ cấp
để sản xuất ra những sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu)
(Trích điều 3 - Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng)
 Trợ cấp có thể đối kháng
Điều 5 - Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO quy
định những trường hợp sau đây sẽ được coi là trợ cấp có thể đối kháng:

 Trường hợp trợ cấp được xác định rõ là đã gây ra phương hại (tổn hại) cho
nền công nghiệp nội địa của một nước hoặc vô hiệu hoá hoặc tước đi mất
lợi ích mà thông thường nước đó vẫn thu nhận được, đặc biệt là lợi ích thu
được do chế độ nhân nhượng lẫn nhau về thuế quan.
 Trường hợp trợ cấp gây ra phương hại (tổn hại) nghiêm trọng tới lợi ích
của nước thứ ba là thành viên của WTO. Quy định của WTO cũng chỉ ra
rõ rằng, phương hại (tổn hại) nghiêm trọng trong trường hợp này có nghĩa
là:
- Tổng trợ cấp tính theo giá trị của một sản phẩm vượt quá 5% trị giá
của nó.
- Trợ cấp để bù cho sự thua lỗ kéo dài trong hoạt động kinh doanh
của một ngành sản xuất.
- Trợ cấp để bù cho các hoạt động kinh doanh thua lỗ của một doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status