MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................... 1
LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ PHÁT TRIỂN XANH ...................................................................... 4
1.1. Tổng quan về phát triển bền vững ........................................................... 4
1.1.1. Khái niệm ........................................................................................... 4
1.1.2.Các mặt của phát triển bền vững ....................................................... 8
1.1.2.1 Kinh tế ...................................................................................... 8
1.1.2.2. Xã hội .................................................................................... 11
1.1.2.3 Môi trường ............................................................................. 12
1.2. Tổng quan về phát triển xanh ................................................................ 13
1.2.2. Định nghĩa ....................................................................................... 13
1.2.3. Quy mô của phát triển xanh ............................................................ 14
CHƯƠNG II: MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XANH CỦA SINGAPORE 19
2.1 Tổng quan về Singapore .......................................................................... 19
2.1.1 Vị trí địa lý ........................................................................................ 19
2.1.2 Lịch sử .............................................................................................. 21
2.1.3 Xã hội ................................................................................................ 23
2.1.4 Kinh tế ............................................................................................... 24
2.1.4 Môi trường ........................................................................................ 28
2.2 Mô hình phát triển xanh của Singapore ................................................ 29
2.2.1 Thay đổi từ người dân ...................................................................... 30
2.2.2 Xây dựng môi trường pháp lý cho sự phát triển xanh ................... 33
2.2.3 Xã hội hoá mô hình phát triển xanh ................................................ 42
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
VIỆT NAM ........................................................................................... 47
3.1 Thực trạng của Việt Nam ........................................................................ 47
3.1.1 Tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam ...................................... 47
3.1.2 Chương trình phát triển bền vững của Việt Nam ............................ 56
3.2 Những kinh nghiệm thực tiễn rút ra cho Việt Nam từ mô hình phát
phát triển xanh – một sự phát triển bền vững.
1
Vì tính thực tiễn của vấn đề phát triển bền vững như đã đề cập ở trên, em đã
chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình là:
Mô hình phát triển xanh hướng tới phát triển bền vững của Singapore và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thông qua đề tài này, em cũng muốn có được một cái nhìn sâu hơn, kiến thức
rộng hơn về “phát triển xanh” cũng như “phát triển bền vững” vì đó là mục đích
phấn đấu của xã hội, của loài người chứ không đơn thuần là một khái niệm được
đưa ra để nghiên cứu. Và cũng thông qua việc tìm hiểu về nước bạn – Singapore
xanh, em cũng sẽ có được những bài học về quá trình phát triển mà nước bạn đã
và đang tiếp tục áp dụng trên con đường đi đến một sự phát triển bền vững. Và
từ đó, em hy vọng mình sẽ góp một phần nhỏ bé vào quá trình giúp nước ta trong
quá trình phát triển.
Với những mục đích trên, đề tài nghiên cứu của em sẽ có kết cấu gồm 3
chương:
Chương I: Tổng quan về phát triển bền vững và phát triển xanh
Chương II: Mô hình phát triển xanh của Singapore
Chương III: Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Để hoàn thành luận văn trên, em đã sử dụng kết hợp các phương pháp kinh tế
như phương pháp logic, phân tích thống kê, phương pháp tổng phân hợp.
Trong quá trình hoàn thành bài báo cáo này, em đã nhận được sự giúp đỡ của
Thạc sĩ Nguyễn Thị Hải Yến – giảng viên bộ môn Kinh tế học, đại học Ngoại
Thương Hà Nội. Do kinh nghiệm thực tế còn thiếu và kiến thức còn hạn chế nên
đề tài của em còn thiếu sót. Em mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô để khóa
2
luận này được hoàn thiện hơn, đạt được kết quả tốt và hơn hết để giúp em nâng
tầm hiểu biết của mình, tạo tiền đề phấn đấu trong tương lại.
Em xin chân thành cảm ơn.
3
môi trường.
Trên đây là những khái niệm đầu tiên về phát triển bền vững, tuy nhiên cho
đến nay, các nhà khoa học, trên các lĩnh vực và diễn đàn khác nhau vẫn chưa đưa
ra một định nghĩa nào thống nhất. Dưới đây là một số định nghĩa về phát triển
bền vững tồn tại trên thế giới:
- Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát
triển bền vững, nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo
vệ Môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế.
- Tác giả David Munro cho rằng: Bền vững không phải là mục tiêu chính
xác mà là một tiêu chuẩn đối với quan điểm và hành động, đó là: “Một quá trình
tiếp diễn, có tính lặp đi, lặp lại, thông qua kinh nghiệm trong việc quản lý các hệ
thống phức hợp, được tích lũy lại, được đánh giá và được vận dụng”
- Stephan Viederman xác định: “Bền vững không phải là vấn đề kỹ thuật cần
giải quyết, mà là một tầm nhìn vào tương lai, đảm bảo cho chúng ta một lộ trình
và giúp tập trung chú ý vào một tập hợp các giá trị và những nguyên tắc mang
tính luân lý và đạo đức để hướng dẫn hành động của chúng ta”
1
Theo wikipedia />%AFng
5
Tựu chung lại, mặc dù còn tồn tại nhiều định nghĩa về phát triển bền vững trên
thế giới, nhưng tất cả đều đi tới một sự thống nhất có tính tương đối về khía cạnh
và bản chất của phát triển bền vững. Mỗi mục tiêu phát triển đều có vị trí riêng
của nó, song nó phải gắn với những lợi ích khác để đi tới sự phát triển tối ưu cho
cả nhu cầu hiện tại và tương lại của xã hội loài người.
Khái niệm “Phát triển bền vững” bắt đầu phát triển trên thế giới từ những
năm 70 của thế kỷ trước và được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên
80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Dù xuất hiện khá muộn ở nước ta, nhưng
khái niệm này đã được nghiên cứu và phát triển khá rộng.
Thuật ngữ này được giới khoa học tiếp thu nhanh, cùng với đó là hàng loạt
những nghiên cứu liên quan mà ta có thể kể tới như: Tiến tới môi trường bền
hoà giữa môi trường nhân tạo, môi trường thiên nhiên, gìn giữ đa dạng sinh học.
3
(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, tr 162, Nhà xb chính trị quốc gia Hà
Nội).
Có thể thấy rằng, ở Việt Nam khái niệm về phát triển bền vững có xu hướng
đi theo khái niệm của Brundtland, trong đó sự phát triển để hướng tới sự lâu dài
dược thể hiện qua ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Theo đó, sự phát triển
kinh tế phải gắn liền với lợi ích phát triển của xã hội, nhằm hướng tới những lợi
ích xã hội như: giảm chênh lệch giàu nghèo, tăng lợi ích công cộng, gia tăng chất
lượng cuộc sống. Ngoài ra sự phát triển của kinh tế cũng không thể tách rời với
sự phát triển của những công nghệ mới, những nguyên liệu và năng lượng mới.
2
Văn kiện đại hội Đảng VI, nhà xuất bản Sự thật
3
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr 162, nxb Chính trị quốc gia
7
Con người phát triển những nguồn năng lượng sạch và dần chuyển sang sử dụng
những nguồn năng lượng có thể tái tạo được như sức gió, năng lượng mặt trời....
1.1.2.Các mặt của phát triển bền vững
Theo khái niệm Phát triển bền vững của Brundtland mà Việt Nam có xu hướng
nghiên cứu theo thì phát triển bền vững được đồng ý có sự tác động trên cả ba
mặt gồm có kinh tế, xã hội và môi trường.
1.1.2.1 Kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc
tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân
trên đâu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó
bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể
chế kinh tế, chất lượng cuộc sống.
Qua hai khái niệm ta có thể thấy được sự khác nhau giữa tăng trưởng kinh tế
tại thời điểm đó chia cho dân số của nó cũng tại thời điểm đó. Hiện nay mặc dù
GDP đang được sử dụng rộng rãi với giá trị như một chỉ số, tuy nhiên nó cũng
còn gây nhiều tranh cãi trong đó bao hàm cả ý nghĩa của sự phát triển bền vững.
Nói cách khác, nếu chỉ dựa vào sự tăng lên của GDP của một nền kinh tế thì
không thể khẳng định nền kinh tế đó phát triển bền vững. GDP của một nước
hay một vùng lãnh thổ có thể tăng lên đang kể nhờ vào việc khai thác tài nguyên
9
hay nhờ vào nguồn vốn đầu tư được rót vào nó. Lấy một ví dụ đơn giản, trữ
lượng lớn về phosphates làm cho người dân Nauru trở thành một trong những
người có thu nhập bình quân cao nhất trên thế giới, song, từ năm 1980 khi nguồn
cung cấp giảm thì chất lượng cuộc sống của họ lại giảm đi.Tương tự với những
nước có trữ lượng dầu lửa lớn. Họ có thể có sự sung túc không cần đến sản xuất,
tuy nhiên nó sẽ không thể như vậy khi không thể khai thác dầu.
Vì lý do trên, chúng ta không thể chỉ xét sự phát triển bền vững về kinh tế chỉ
bằng sự tăng trưởng của GDP hay GDP bình quân đầu người của một quốc gia
hay vùng lãnh thổ. Bên cạnh đó, ta phải xem xét đến một cơ cấu kinh tế hợp lý,
đảm bảo cho sự tăng trưởng của GDP ổn định. Để phát triển bền vững, cơ cấu
nền kinh tế không được phụ thuộc vào khai thác tài nguyên hay tăng trưởng do
đầu tư ồ ạt mà không đạt hiệu quả kinh tế. Ta đã thấy hậu quả trong phát triển
của việc tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức ở những
ví dụ trên. Vậy việc đầu tư ồ ạt, liệu có đưa đến những hậu quả về phát triển như
vậy.
Ta có thể thấy rằng, vốn là một yếu tố quan trọng trong phát triển và thúc đẩy
sự phát triển. Bất kỳ một quốc gia, một nền kinh tế nào cũng cần có vốn để phát
triển công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư sản xuất…. Tuy nhiên khi một
luồng tiền vào ồ ạt và nền kinh tế không thể hấp thụ kịp những nguồn vốn này
thì sẽ cho ta thấy sự non yếu của nền kinh tế. Khi luồng tiền đầu tư vào nhiều,
chỉ số tăng trưởng sẽ tăng lên. Cũng có thể nói, tăng vốn đồng nghĩa với tăng
trưởng. Tuy nhiên vốn này không được sử dụng hiệu quả, vì một hay nhiều lý do
nào đó như cơ sở hạ tầng kém, quản lý chưa chuyên nghiệp hay năng lực sản
toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập). Hệ số
Gini cũng được dùng để biểu thị mức độ chênh lệch về giàu nghèo. Bên cạnh đó
để đánh giá sự phát triển xã hội chúng ta còn sửa dụng chỉ số phát triển con
người HDI. Phát triển con người chính là, và phải là, sự phát triển mang tính
nhân văn. Đó là sự phát triển vì con người, của con người và do con người.Quan
điểm phát triển con người nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người
dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó (có nghĩa là sự tự do).
Những lựa chọn quan trọng nhất là được sống lâu và khỏe mạnh, được học hành
và có được một cuộc sống ấm no. Chỉ số phát triển con người (Human
Development Index - HDI) là chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ
biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới. HDI
giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia. Chỉ số này
được phát triển bởi một kinh tế gia người Pakistan là Mahbub ul Haq vào năm
1990 HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người. Nó đo thành tựu
trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:
1. Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ trung
bình.
2. Tri thức: Được đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các
cấp giáo dục (tiểu học, trung học, đại học).
3. Thu nhập: Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người
1.1.2.3 Môi trường
Như đã phân tích ở trên, với phạm trù phát triển bền vững được nghiên cứu
với ba mặt kinh tế - xã hội – môi trường, để phát triển kinh tế và xã hội bền vững
12
ta phải giải được bài toán do môi trường đặt ra. Trong bất kỳ phương án quy
hoạch phát triển nào theo hướng bền vững cũng đều phải tính toán kỹ mối tác
động qua lại giữa con người và thiên nhiên sao cho sự phát triên kinh tế - xã hội
không làm suy thoái hoặc hủy diệt môi trường, bảo tồn tài nguyên, ngăn chặn ô
nhiễm.
1.2. Tổng quan về phát triển xanh
Về kinh tế:
Để phát triển, một nền kinh tế cần vận hành để tăng khả năng tăng lên về mọi
mặt và hướng tới đảm bảo sự hoàn chỉnh về cơ cấu, thể chế kinh tế. Để hướng
tới sự phát triển xanh, các mặt của nền kinh tế phải phát triển theo hướng thân
thiện với môi trường, với kết cấu hợp lý đảm bảo không gây tổn hại tới môi
trường sống, ảnh hưởng tới lợi ích thế hệ tương lại. Cụ thể, công nghiệp trong cơ
cấu ấy phải phát triển dựa trên những nguồn nguyên liệu tự nhiên, có thể tái chế
và không tạo ra chất thải công nghiệp gây ô nhiễm. Một ví dụ dễ thấy đó chính là
việc sử dụng năng lượng gió để phát điện. Các máy phát điện lợi dụng sức gió đã
được sử dụng nhiều ở các nước châu Âu, Mỹ và các nước công nghiệp phát triển
khác. Sau thảm họa Chernobyl (Ukraine 1986), cuộc đấu tranh đòi hủy bỏ các
nhà máy điện nguyên tử tại Đức diễn ra ngày càng mãnh liệt nên điện bằng sức
gió phát triển rất mạnh, sản lượng đã vượt xa sản lượng thủy điện và trở thành
nguồn năng lượng đáng kể trên cường quốc công nghiệp này. Ưu điểm dễ thấy
14
nhất của điện bằng sức gió là không tiêu tốn nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi
trường như các nhà máy nhiệt điện, dễ chọn địa điểm và tiết kiệm đất xây dựng,
khác hẳn với các nhà máy thủy điện chỉ có thể xây dựng gần dòng nước mạnh
với những điều kiện đặc biệt và cần diện tích rất lớn cho hồ chứa nước. Các trạm
điện bằng sức gió có thể đặt gần nơi tiêu thụ điện, như vậy sẽ tránh được chi phí
cho việc xây dựng đường dây tải điện. Ngày nay điện bằng sức gió đã trở nên rất
phổ biến, thiết bị được sản xuất hàng loạt, công nghệ lắp ráp đã hoàn thiện nên
chi phí cho việc hoàn thành một trạm điện bằng sức gió hiện nay chỉ bằng 1/4 so
với năm 1986. Trạm điện bằng sức gió có thể đặt ở những địa điểm và vị trí khác
nhau, với những giải pháp rất linh hoạt và phong phú. Các trạm điện bằng sức
gió đặt ở ven biển cho sản lượng cao hơn các trạm nội địa vì bờ biển thường có
gió mạnh. Giải pháp này tiết kiệm đất xây dựng, đồng thời việc vận chuyển các
cấu kiện lớn trên biển cũng thuận lợi hơn trên bộ. Dải bờ biển VN trên 3.000km
có thể tạo ra công suất hàng tỉ kW điện bằng sức gió. Trên mái nhà cao tầng
cũng có thể đặt trạm điện bằng sức gió dùng cho các nhu cầu trong nhà và cung
Về xã hội:
Mục đích của sự phát triển trong xã hội loài người luôn là vì cộng động và để
nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Như đã đề cập ở trên, xã hội phát triển
đồng bộ cả về cơ cấu sẽ là một xã hội với những lợi ích vì toàn dân.
16
Cuộc sống phát triển xanh để mọi người hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn,
khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong sự gia tăng không ngừng về dân
số, sự thay đổi chóng mặt của công nghệ và biến đổi môi trường, cuộc sống của
chúng ta có được hiện đại hơn nhưng cũng tiềm ẩn những khó khăn đe dọa về
một đời sống lành mạnh. Trong quá trình phát triển xanh, chúng ta xác định vai
trò của xã hội và sự phát triển của xã hội cũng là mục tiêu cần đạt đến. Con
người phải là nhân tố hàng đầu để thúc đẩy sự phát triển xã hội. Nói cách khác,
chúng ta cần xây dựng một xã hội với nền móng từ những con người được đào
tạo và tư duy phù hợp với sự phát triển đó.
Nói ba mặt của sự phát triển luôn găn kết chặt chẽ với nhau là hoàn toàn hợp
lý. Trong đó, kinh tế là một chân không thể thiếu trong chiếc kiềng ba chân của
sự phát triển. Khi con người giàu có hơn và hành vi của họ ý thức về một sự
phát triển xanh thì cũng là lúc họ ý thức hơn về trách nhiệm xã hội của bản thân.
Mỗi người dân ý thức được phải làm cuộc sống của mình phải lành mạnh thì xã
hội cũng từ đó đi lên theo hướng tích cực. Nói tóm lại, để phát triển toàn xã hội,
mỗi con người trong xã hội ấy phải đẩy xã hội đi lên theo hướng tích cực bằng
chính hành vi của mình.
Về môi trường:
Nói đến phát triển xanh, có thể nói là nói tới khái niệm của sự thân thiện với
môi trường. Trong đó, mọi người hướng về một cuộc sống xanh hơn – gần gũi
với tự nhiên và bảo vệ tự nhiên như một cộng đồng. Bởi cuộc sống của chúng ta
được bao bọc bởi bầu khí quyển, ta thở bằng không khí để sống, uống nước và
làm ra mọi vật từ đất. Chúng ta có trách nhiệm phải gìn giữ cho những thế hệ sau
và cũng chính là đảm bảo cho chúng ta có một cuộc sống tốt đẹp hơn ở hiện tại
17
Bắc, băng qua eo biển Tebrau và chỗ nối thứ hai Tuas, một cầu phía Tây nối với
Juhor. Đảo Jurong, Pulau Tekong, Pulau Ubin và Sentosa là những đảo lớn nhất
19
của Singapore, ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ khác. Vị trí cao nhất của
Singapore là đồi Bukit Timah với độ cao 166 m.
Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và
những nước lân cận. Nhờ đó, diện tích đất của Singapore đã tăng từ 581,5 km² ở
thập niên 1960 lên 697,25 km² ngày nay (xấp xỉ diện tích huyện Cần Giờ (thành
phố Hồ Chí Minh)), và có thể sẽ tăng thêm 100 km² nữa đến năm 2030.
Vùng thành thị trước đây chỉ tập trung ở khu vực phía Bắc Singapore bao
quanh sông Singapore, hiện nay là trung tâm buôn bán của Singapore, trong khi
đó những vùng còn lại rừng nhiệt đới ẩm hoặc dùng cho nông nghiệp. Từ thập
niên 1960, chính phủ đã xây dựng nhiều đô thị mới ở những vùng xa, tạo nên
một Singapore với nhà cửa san sát ở khắp mọi miền, mặc dù Khu vực Trung tâm
vẫn là nơi hưng thịnh nhất. Ủy ban Quy hoạch Đô thị là một ban của chính phủ
chuyên về các hoạt động quy hoạch đô thị với nhiệm vụ là sử dụng và phân phối
đất hiệu quả cũng như điều phối giao thông. Ban đã đưa ra quy hoạch chi tiết cho
việc sử dụng đất ở 55 khu vực.
Sự đô thị hóa đã làm biến mất nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới một thời, hiện
nay chỉ còn lại một trong số chúng là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bukit Timah.
Tuy nhiên, nhiều công viên đã được gìn giữ với sự can thiệp của con người, ví
dụ như Vườn Thực vật Quốc gia. Không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn
cung cấp nước chủ yếu của Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại
trong những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa rào cung cấp khoảng 50% lượng
nước, phần còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ nước tái chế - một
loại nước có được sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế
đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.
20
2.1.2 Lịch sử
Tên Singapore xuất phát từ Singapura trong tiếng Malaysia (hay tiếng Malay),
nước đầu tiên là Yusof bin Ishak và thủ tướng đầu tiên là Lý Quang Diệu sau
cuộc bầu cử năm 1959. Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào
Liên bang Mã Lai đã đạt được năm 1962, đưa Singapore trở thành một thành
viên của liên bang Mã Lai cùng với Malaya, Sabah và Sarawak như là một bang
có quyền tự trị vào tháng 9 năm 1963. Singapore bị tách ra khỏi liên bang vào
ngày 7 tháng 8 năm 1965 sau những bất đồng quan điểm chính trị chính phủ của
bang và hội đồng liên bang tại Kuala Lumpur. Singapore được độc lập 2 ngày
sau đó, vào ngày 9 tháng 8 năm 1965, sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của
Singapore. Malaysia là nước đầu tiên công nhận nền độc lập của Singapore.
Độc lập đồng nghĩa với tự túc, Singapore đã phải đối mặt với nhiều khó khăn
trong giai đoạn này, bao gồm nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và tài nguyên
thiên nhiên như dầu mỏ. Với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Đồng Minh, trong nhiệm
kỳ của mình từ năm 1959 đến 1990, Thủ tướng Lý Quang Diệu đã từng bước
kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình
nhà ở công cộng với quy mô lớn. Các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được
phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống
22
phòng vệ quốc gia được thiết lập. Singapore từ một nước đang phát triển trở
thành một nước phát triển vào cuối thế kỷ 20.
Năm 1990, Goh Chok Tong kế nhiệm chức thủ tướng, đối mặt với nhiều khó
khăn bao gồm ảnh hưởng kinh tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm
1997, sự lan tràn của SARS năm 2003 cũng như những đe dọa khủng bố từ
Jemaah Islamiah, hậu 11 tháng 9 và các vụ đánh bom ở Bali. Năm 2004, Lý Hiển
Long, con trai cả của Lý Quang Diệu, trở thành thủ tướng thứ ba.
2.1.3 Xã hội
Xã hội Singapore là một xã hội đa sắc tộc gồm nhiều nền văn hóa khác nhau.
Singapore là một đất nước nhỏ bé và dân cư tại đây là sự tổng hợp của nhiều nền
văn hoá khác nhau như Trung Quốc, Ấn Độ, Mã Lai do kết quả của quá trình di
cư, vì vậy, xã hội Singapore là một xã hội đa sắc tộc. Mỗi người dân đến đây, họ