Phát triển thị trường giáo dục đại học ở mỹ, nhật bản và bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 19

Mục lục
Trang
Danh mục các bảng i
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về phát triển thị trường giáo dục đại học 7
1.1. Khái niệm, đặc trưng của thị trường giáo dục đại học 7
1.1.1. Khái niệm thị trường giáo dục đại học 7
1.1.2. Những đặc trưng của thị trường giáo dục đại học 9
1.2. Tính tất yếu khách quan và nội dung phát triển thị trường giáo dục
đại học
11
1.2.1. Tính tất yếu khách quan phát triển thị trường giáo dục đại học 11
1.2.2. Nội dung phát triển thị trường giáo dục đại học 13
1.3. Các điều kiện chi phối sự phát triển thị trường giáo dục đại học 21
1.3.1. Mô hình và trình độ phát triển kinh tế 21
1.3.2. Truyền thống văn hóa 22
1.3.3. Chính sách quốc gia về giáo dục đào tạo 23
Chương 2. Thực trạng phát triển thị trường giáo dục đại học ở Mỹ và
Nhật Bản
25
2.1. Tạo lập môi trường phát triển thị trường giáo dục đại học 25
2.1.1. Tạo lập môi trường kinh tế 25
2.1.2. Tạo lập môi trường chính trị, pháp lý 26
2.1.3. Tạo lập môi trường văn hóa, xã hội 29
2.2. Xây dựng và phát triển các yếu tố cấu thành thị trường giáo dục đại
học
30
2.2.1. Xây dựng và phát triển hệ thống trường đại học 30
2.2.2. Xây dựng và phát triển các dịch vụ giáo dục đại học 33
2.2.3. Phát triển đội ngũ sinh viên 36
2.3. Định hướng và điều tiết sự phát triển thị trường giáo dục đại học 41

2 Bảng 2.2 Các trường đại học hàng đầu của Mỹ phân theo ngành
đào tạo
34
3 Bảng 2.3 Nguồn kinh phí học tập của sinh viên ở các trường đại
học tư
38
4 Bảng 2.4 Nguồn kinh phí học tập của sinh viên ở các trường đại
học công
39
5 Bảng 2.5 Phân bổ sinh viên Nhật Bản theo loại hình sở hữu trường 40
i
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục đào tạo luôn được xác định là chính sách hàng đầu trong
chiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia. Bước vào thời đại kinh tế tri
thức, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao càng đòi hỏi các quốc gia đẩy
mạnh phát triển giáo dục - đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học. Đối với Việt
Nam, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Để
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong
bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới
căn bản, toàn diện, mạnh mẽ.”
Đổi mới giáo dục đào tạo trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trường và trước xu thế hội nhập quốc tế cần thiết phải coi giáo dục đào tạo
như một thị trường đặc biệt, nó vừa chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nước
nhằm đảm bảo định hướng quốc gia về phát triển nguồn nhân lực, đồng thời
phải vận hành theo cơ chế thị trường nhằm huy động tối đa nguồn lực trong
và ngoài nước, đảm bảo sự phát triển năng động và hiệu quả của lĩnh vực đặc
biệt quan trọng này.
Chuyển đổi mô hình quản lý giáo dục đào tạo từ cơ chế tập trung sang
cơ chế thị trường ở Việt Nam là phù hợp với xu thế thời đại, tuy nhiên đây là

khoa học nước ta đã thực hiện thành công một số công trình như:
- “Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam”,
luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Lê Phước Minh. Đề tài tiếp cận
theo hướng bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển giáo dục đại học ở
Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả
2
đã đề xuất những chính sách nhằm huy động sự đóng góp tài chính của nhiều
thành phần kinh tế, theo cơ chế thị trường, cho việc phát triển giáo dục đại
học ở Việt Nam, giai đoạn hiện nay.
- “Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước
nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, đề tài cấp Nhà nước do PGS. TS. Trần
Quốc Toản chủ nhiệm đề tài. Tuy không trực tiếp nghiên cứu về giáo dục đại
học, nhưng đề tài này đã đánh giá một cách tổng quan và đi tới kết luận: tồn
tại trên thực tế một thị trường giáo dục đào tạo ở Việt Nam, mà rõ nét nhất là
thị trường giáo dục đại học.
- “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ”, Kỷ
yếu Hội thảo khoa học tổ chức tại Đại học Hoa Sen, Thành phố Hồ Chí Minh,
tháng 12/2008. Cuốn sách tập hợp bài nghiên cứu của nhiều tác giả với nội
dung xoay quanh việc đánh giá cao những đổi mới mạnh mẽ, sáng tạo, dứt
khoát về môi trường giáo dục đại học Việt Nam đầu thế kỷ XX và yêu cầu đổi
mới môi trường giáo dục đại học giai đoạn hiện nay. Trong tham luận của
mình, các nhà khoa học cũng đề cập, mang tính gợi mở, về một môi trường
giáo dục đại học vận hành theo cơ chế thị trường.
- “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳng
Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Ban liên lạc các trường đại học và
cao đẳng Việt Nam tổ chức tháng 2/2011. Cuốn sách tập hợp bài nghiên cứu
của nhiều tác giả xoay quanh việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước đối với giáo dục đại học, cao đẳng ở Việt Nam nhằm đảm bảo chất
lượng dạy học và nâng cao tính hiệu quả về kinh tế.
Ngoài những công trình lớn kể trên, có rất nhiều bài nghiên cứu độc lập

Phát triển thị trường giáo dục đại học là đối tượng nghiên cứu của
nhiều môn khoa học khác nhau, mỗi môn khoa học có góc độ tiếp cận,
phương pháp và mục đích nghiên cứu khác nhau. Dưới góc độ kinh tế chính
trị, đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa các lực lượng xã hội trực tiếp tham gia
hoặc có lợi ích liên quan tới phát triển thị trường giáo dục đại học như: nhà
nước, các trường đại học, đội ngũ sinh viên, các tổ chức và doanh nghiệp sử
dụng người lao động trình độ đại học, … Đề tài nghiên cứu sự phát triển thị
trường giáo dục đại học đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với lực lượng
sản xuất xã hội, kiến trúc thượng tầng xã hội.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài khảo sát sự phát triển thị trường giáo dục
đại học ở Mỹ, Nhật Bản và những điều kiện tiền đề tác động trực tiếp tới sự
phát triển thị trường này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Sở dĩ lựa chọn phạm vi nghiên cứu như vậy bởi, tác giả nhận thấy, Mỹ
là quốc gia có thị trường giáo dục đại học phát triển nhất hiện nay, được cả
thế giới công nhận, còn Nhật Bản là quốc gia đạt được sự phát triển kinh tế
thần kỳ trong một vài thập niên gần đây, mà một trong những nguyên nhân
mang lại sự phát triển thần kỳ đó chính là việc cải cách hệ thống giáo dục.
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học của những quốc gia nói
trên sẽ cung cấp những bài học bổ ích cho việc phát triển thị trường giáo dục
đại học ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy
vật của chủ nghĩa Mác – Lênin. Do phạm vi nghiên cứu rộng và phức tạp, tác
giả sử dụng phổ biến phương pháp trừu tượng hóa khoa học nhằm gạt bỏ
những vấn đề ít liên quan, tập trung làm rõ đối tượng nghiên cứu là thị trường
giáo dục đại học.
5
Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu
thường dùng trong lĩnh vực khoa học xã hội như: kết hợp lôgic với lịch sử,
thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, …

cơ bản như người bán, người mua, hàng hóa, cung, cầu, giá cả và các quy luật
kinh tế. Người bán, người mua đóng vai trò chủ thể của các quan hệ kinh tế
thị trường, hàng hóa là đối tượng của thị trường, là nhân tố kết nối các chủ thể
thị trường. Cung, cầu, giá cả luôn biến động dưới sự chi phối của các quy luật
kinh tế, phản ánh mối quan hệ kinh tế phức tạp giữa các chủ thể thị trường.
Có nhiều cách tiếp cận để phân loại thị trường. Theo phạm vi, quy mô
của các quan hệ kinh tế (đặt trong địa giới hành chính), có thị trường trong
nước, thị trường khu vực và thị trường toàn cầu. Theo tính chất của các quan
hệ kinh tế có thị trường cạnh tranh tự do, thị trường độc quyền. Theo đối
tượng hàng hóa, thị trường được phân loại đa dạng nhất, có thị trường hàng
hóa và dịch vụ thông thường (phục vụ sinh hoạt), thị trường sức lao động, thị
trường khoa học công nghệ, thị trường tài chính, … thị trường giáo dục là một
loại thị trường theo cách phân loại này.
7
Thị trường giáo dục đào tạo là tổng hợp các quan hệ kinh tế gắn kết
người cung cấp với người sử dụng dịch vụ giáo dục đào tạo dựa trên sự điều
tiết của các quy luật kinh tế khách quan. Giáo dục đào tạo cũng được chia ra
thành nhiều bậc học, từ mầm non, tiểu học, trung học tới đại học và sau đại
học. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn của mình, tác giả chỉ đề cập tới thị
trường giáo dục đại học.
Để làm rõ nội hàm khái niệm thị trường giáo dục đại học cần chỉ ra các
yếu tố cấu thành nó. Thị trường giáo dục đại học cũng giống các loại thị
trường khác bởi đều chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, tuy
nhiên nó được phân biệt với các loại thị trường khác bởi đối tượng được trao
đổi trên thị trường và chủ thể thị trường.
Đối tượng được trao đổi trên thị trường giáo dục đại học chính là dịch
vụ giáo dục đại học, với tư cách là một hàng hóa đặc biệt. Giáo dục đại học
trong cơ chế thị trường cũng là một hàng hóa bởi nó là sản phẩm do lao động
của con người tạo ra, người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ là
những chủ thể độc lập. Giống như mọi hàng hóa khác, dịch vụ giáo dục đại

1.1.2. Những đặc trưng của thị trường giáo dục đại học
Thứ nhất, Thị trường giáo dục đại học có mối quan hệ gắn bó mật thiết
và trực tiếp giữa người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ. Đối với các
hàng hóa thông thường, quá trình sản xuất tách rời quá trình tiêu dùng, và khi
bàn tới việc phát triển thị trường các hàng hóa này, đôi khi người ta chỉ chủ ý
9
đến lĩnh vực sản xuất, cung ứng mặt hàng đó. Thị trường giáo dục đại học có
sự khác biệt, là một loại hình dịch vụ, quá trình "sản xuất" gắn liền với quá
trình "tiêu dùng". Nói cách khác, kết quả của quy trình sản xuất (cung cấp
dịch vụ) được thể hiện ngay trên sự biến đổi người tiêu dùng về tri thức, kĩ
năng, bản lĩnh, thái độ, Nhận thức đặc trưng này là cơ sở xác định nội dung
phát triển thị trường giáo dục đại học, luôn có sự gắn bó mật thiết giữa phát
triển hệ thống các trường đại học, các loại hình dịch vụ giáo dục đại học với
phát triển đội ngũ sinh viên.
Thứ hai, thị trường giáo dục đại học luôn gắn bó mật thiết với thị
trường sức lao động. Thị trường sức lao động xuất hiện từ rất sớm để đáp ứng
nhu cầu khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực xã hội phục vụ sản xuất,
và khi thị trường sức lao động phát triển tới mức đặt ra nhu cầu về một nguồn
nhân lực trình độ cao, nó đòi hỏi sự ra đời của thị trường giáo dục đại học,
bằng cách đưa các quan hệ thị trường vào cải tạo lĩnh vực giáo dục đại học
theo mô hình quản lý hành chính truyền thống. Như vậy, ngay từ đầu, thị
trường giáo dục đại học ra đời đã gắn bó mật thiết với thị trường sức lao
động, và trong toàn bộ quá trình phát triển, những vận động, biến đổi trên thị
trường sức lao động đều nhanh chóng làm gây ra những chuyển biến rõ ràng
trên thị trường giáo dục đại học. Nhận thức đặc trưng này, cho phép các quốc
gia xây dựng chính sách phát triển thị trường giáo dục đại học đồng bộ với
phát triển thị trường sức lao động để mang lại hiệu quả hoạt động cao nhất
cho cả 2 loại thị trường này.
Thứ ba, người sử dụng không hoàn toàn được tự do lựa chọn dịch vụ
theo ý mình. Đối với hàng hóa thông thường, người trực tiếp tiêu dùng hàng

trường trước khi đi vào phục vụ sản xuất hoặc sinh hoạt. Trong cơ cấu của
nền kinh tế thị trường hiện đại xuất hiện một loạt các thị trường mới như vốn,
khoa học công nghệ, sức lao động, …làm cho các đối tượng này dịch chuyển
một cách năng động dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, đạt
được hiệu quả khai thác, sử dụng cao. Nền kinh tế thị trường hiện đại đã thừa
nhận và khẳng định sự cần thiết coi khoa học công nghệ và sức lao động là
đối tượng hàng hóa, thì việc sản sinh ra sản phẩm khoa học công nghệ và
nguồn nhân lực trình độ cao cũng cần được vận hành theo cơ chế thị trường.
Nói cách khác, việc phát triển thị trường giáo dục đại học là đòi hỏi khách
quan để phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại.
1.2.1.2. Do tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, giáo dục nói chung, giáo dục
đại học nói riêng, được nhiều quốc gia coi là loại hình dịch vụ xuất khẩu
mang lại giá trị gia tăng cao. Các nước phát triển đứng đầu là Mỹ, Anh, Úc,
Đức đã xuất khẩu giáo dục đại học ra toàn thế giới. Ở Đông Nam Á,
Singapore và Thái Lan cũng đang tìm cách chiếm lĩnh thị trường khu vực đối
với loại hình dịch vụ này. Trên thị trường Việt Nam, mấy năm gần đây, hội
thảo du học luôn đứng đầu bảng về mật độ, với sự cạnh tranh của các nhà
xuất khẩu giáo dục. Theo thống kê của Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ
GD&ĐT), nước ta hiện có trên 100.000 du học sinh theo học tại 49 quốc gia,
vùng lãnh thổ, trong đó khoảng 90% đi học bằng kinh phí tự túc [28]. Như
vậy, người Việt Nam đang bỏ tiền ra để sử dụng dịch vụ giáo dục đại học của
nước ngoài, và các nhà xuất khẩu giáo dục cũng tìm mọi cách để phục vụ tận
nơi đối với nhu cầu du học tại chỗ của sinh viên Việt Nam. Thực tiễn trên đòi
hỏi chúng ta phải phát triển thị trường giáo dục đại học càng sớm càng tốt,
12
một mặt nhằm phát huy mọi nguồn lực để đáp ứng nhu cầu học tập của sinh
viên trong nước, mặt khác giúp nền giáo dục đại học nước ta có thể hội nhập
với khu vực và toàn cầu.

dịch vụ này. Môi trường pháp lý cũng đồng thời là công cụ để nhà nước quản
lý, điều tiết thị trường giáo dục đại học nhằm định hướng các mục tiêu quốc
gia về giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tạo lập môi trường
pháp lý là xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực hoạt động
của cơ quan hành pháp và giáo dục nhận thức, hình thành thói quen hành
động theo pháp luật của các chủ thể trên thị trường giáo dục đại học.
Môi trường kinh tế cho phát triển thị trường giáo dục đại học là tổng
thể các quan hệ về mặt lợi ích giữa người cung ứng và người sử dụng dịch vụ
giáo dục đại học cùng với những quan hệ phức tạp về mặt lợi ích giữa các lực
lượng tham gia cung ứng và phân phối loại hình dịch vụ đặc biệt này. Môi
trường kinh tế lành mạnh tạo điều kiện huy động và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực để phát triển thị trường giáo dục đại học, trái lại môi trường kinh tế
thiếu lành mạnh sẽ kìm hãm sự phát triển của thị trường này. Tạo lập môi
trường kinh tế lành mạnh cho phát triển thị trường giáo dục đại học thực chất
là tạo điều kiện để các lực lượng xã hội tham gia thị trường này một cách tự
do, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế
khách quan, nhất là quy luật giá trị. Khi môi trường kinh tế lành mạnh được
xác lập, người học sẽ được hưởng dịch vụ tương xứng với giá cả của nó, các
lực lượng tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục đại học sẽ được hưởng lợi ích
14
kinh tế tương xứng với kết quả lao động của mình, sự cạnh tranh tự do cũng
làm cho chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ngày càng được nâng cao.
Môi trường văn hóa xã hộicho phát triển thị trường giáo dục đại học là
tổng thể các giá trị truyền thống, thói quen ứng xử, phong tục tập quán của xã
hội có liên quan tới hoạt động giáo dục đại học. Giáo dục nói chung và giáo
dục đại học nói riêng, bản thân nó đã là bộ phận cấu thành của nền văn hóa,
chịu sự chi phối trực tiếp của môi trường văn hóa. Quan điểm văn hóa truyền
thống của một quốc gia có thể thừa nhận hoặc không thừa nhận thị trường
giáo dục đại học, dư luận xã hội có thể ủng hộ hoặc phản đối việc phát triển
thị trường giáo dục đại học. Tạo lập môi trường văn hóa xã hội cho phát triển

nhân sự và nội dung chương trình đào tạo. Tức là, bên cạnh khối trường công
lập, nhà nước cần có cơ chế thông thoáng và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi
thành phần kinh tế được thành lập các trường cao đẳng, đại học khi hội đủ
những tiêu chí cần thiết. Các trường có quyền tuyển chọn, đãi ngộ và sử dụng
đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục theo cơ chế thị trường. Ngoài
khung chương trình bắt buộc, các trường được tự do xác định nội dung,
chương trình đào tạo và cạnh tranh lành mạnh để thu hút sinh viên bằng chính
thương hiệu, chất lượng đào tạo và mức học phí riêng. Như vậy, phát triển hệ
thống trường cao đẳng, đại học là tạo ra cơ chế thông thoáng để huy động mọi
thành phần kinh tế tham gia thành lập trường nhằm có một hệ thống nhà
trường phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, lĩnh vực đào tạo, mức
học phí, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của mọi đối tượng sinh
viên.
16
Thứ hai, phát triển đội ngũ sinh viên, với tư cách là chủ thể tiêu dùng
dịch vụ giáo dục đại học. Nhu cầu học đại học đang gia tăng rất nhanh trong
thời gian gần đây, tuy nhiên để có một thị trường giáo dục đại học hoạt động
hiệu quả, đáp ứng đòi hỏi việc đào tạo một nguồn nhân lực chất lượng cao
cho xã hội thì đội ngũ sinh viên cần được phát triển một cách tự giác chứ
không phải nảy sinh tự phát.
Phát triển đội ngũ sinh viên là nhằm tạo ra một đội ngũ sinh viên có số
lượng phù hợp, chất lượng đảm bảo, cơ cấu cân đối theo chiến lược quốc gia
về phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển số lượng sinh viên là làm tăng lượng người có đủ điều kiện
về kiến thức, kinh tế để tham gia học đại học. Để tăng số người có đủ điều
kiện kiến thức, giáo dục phổ thông cần được mở rộng, thậm chí phổ cập giáo
dục phổ thông nếu trình độ phát triển và điều kiện bảo đảm của nền kinh tế
cho phép làm điều này. Mặt khác, cần hỗ trợ về mặt kinh tế đối với những học
sinh có điều kiện khó khăn, nhưng ham học và học giỏi, dưới hình thức trợ
cấp học phí hoặc cho vay ưu đãi.

sẽ là tín hiệu để người học lựa chọn loại dịch vụ giáo dục đại học, và nhu cầu
của người học là tín hiệu để nhà trường cung cấp loại hình dịch vụ phù hợp.
Việc tự do lựa chọn ngành học, trường học của sinh viên cũng tạo ra cơ chế
cạnh tranh lành mạnh buộc các trường phải nâng cao chất lượng phục vụ của
mình.
18
Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực, cơ chế thị trường tất yếu
cũng tồn tại nhiều hạn chế mà điều dễ nhận thấy nhất là khả năng mất cân đối
trong cơ cấu nhân lực. Việc chạy theo các ngành đào tạo được cho là hấp dẫn
với kỳ vọng về một công việc tốt và mức thu nhập cao sẽ dẫn tới một số
ngành đào tạo phát triển vượt quá nhu cầu thực tế của xã hội, trong khi một số
lĩnh vực đào tạo thiết yếu lại không được đầu tư tương xứng. Do vậy, phát
triển các dịch vụ giáo dục đại học đòi hỏi có sự can thiệp của nhà nước bằng
cách hỗ trợ, khuyến khích phát triển những loại hình dịch vụ đào tạo cần thiết,
tạo ra một cơ cấu cân đối về các ngành, lĩnh vực đào tạo, phù hợp với yêu cầu
phát triển nguồn nhân lực của xã hội.
1.2.2.3. Định hướng, điều tiết sự phát triển thị trường giáo dục đại học
Lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại khẳng định không tồn tại một thị
trường tự do thuần túy, nhà nước luôn phải can thiệp để định hướng về mục
tiêu phát triển, điều tiết để khắc phục những hạn chế nảy sinh một cách tự
phát, đảm bảo thị trường hoạt động lành mạnh.
Định hướng phát triển thị trường giáo dục đại học là xác định mục tiêu
chiến lược và sử dụng tổng hợp các nguồn lực của nhà nước để tác động theo
hướng dẫn dắt các lực lượng tham gia thị trường giáo dục đại học hành động
nhằm đạt tới mục tiêu chiến lược đã xác định. Việc xác định mục tiêu chiến
lược về giáo dục đại học phải cắn cứ vào điều kiện, tình hình cụ thể và phải
phù hợp với chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực. Công cụ để
nhà nước tác động nhằm định hướng sự phát triển của thị trường giáo dục đại
học bao gồm cả công cụ kinh tế, công cụ pháp lý và sự tham gia trực tiếp của
nhà nước vào thị trường như một chủ thể cung cấp dịch vụ, nhưng dù sử dụng

quốc gia đã phát triển kinh tế thị trường theo những mô hình khác nhau, mỗi mô
hình kinh tế này chi phối khác nhau tới sự phát triển của thị trường giáo dục đại
học. Mô hình kinh tế thị trường tự do ở Mỹ, Anh, Úc tạo ra điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển thị trường giáo dục đại học bằng cách trao quyền tự chủ
rộng rãi cho các nhà trường. Mô hình kinh tế thị trường xã hội phúc lợi ở
Đức, Thụy điển và các nước Bắc Âu lại gần như bao cấp hoàn toàn lĩnh vực
giáo dục, thậm chí, sinh viên Đức được hoàn toàn miễn phí khi học trường đại
học đầu tiên. Mô hình kinh tế thị trường nhà nước phát triển ở Nhật Bản, mặc
dù nhà nước can thiệp trực tiếp, nhưng vẫn tạo ra sự thông thoáng nhất định
cho sự phát triển thị trường giáo dục đại học.
Trình độ phát triển kinh tế tác động trực tiếp tới thị trường giáo dục đại
học, không có thị trường giáo dục đại học hoạt động hiệu quả trong một nền
kinh tế kém phát triển. Lịch sử phát triển giáo dục đại học ở nhiều quốc gia
ghi nhận sự xuất hiện từ rất sớm các trường đại học tư, hoạt động theo mô
hình doanh nghiệp, tuy nhiên thị trường giáo dục đại học chỉ thực sự phát
triển khi nền kinh tế đạt ra yêu cầu về một nguồn nhân lực trình độ cao. Bên
cạnh đó, trình độ phát triển kinh tế luôn song hành với trình độ phát triển
khoa học công nghệ, mà sự phát triển khoa học công nghệ lại chi phối trực
tiếp tới chất lượng các dịch vụ giáo dục đại học.
1.3.2. Truyền thống văn hóa
Truyền thống văn hóa cũng chi phối mạnh mẽ tới sự phát triển thị
trường giáo dục đại học, mà rõ nhất là sự ảnh hưởng của văn hóa tới nhu cầu
học đại học của người dân. Ở các nước phương Tây, nhu cầu học đại học chỉ
thực sự gia tăng nhanh khi thị trường sức lao động hình thành một mức cầu
21
cao về loại lao động có trình độ đại học. Một bộ phận không nhỏ học sinh tốt
nghiệp phổ thông, mặc dù có điều kiện học đại học nhưng không chọn hướng
đi này, họ thường lựa chọn một lĩnh vực nghề nghiệp theo sở thích cá nhân.
Trong quan niệm của đông đảo người dân phương Tây, trình độ học vấn
không phải là tiêu chí phân biệt đẳng cấp xã hội. Ở phương Đông thì khác, do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status