kinh nghiệm phát triển thương mại công bằng đối với mặt hàng gạo của thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương
2014
Tên công trình
KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
CÔNG
BẰNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO CỦA
THÁI LAN
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Mã ngành: KD 3
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Danh mục từ viết tắt tiếng Việt Chữ Viết Tắt
Tiếng Việt
CNH – HĐH
HTX
NNPTNT
TMCB
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Hợp tác xã
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Thương mại Công bằng
Danh mục từ viết tắt tiếng Anh Chữ Viết Tắt
Tiếng Anh Tiếng Việt
Organic Agriculture
Certification
Chứng nhận Nông nghiệp Hữu cơ
ACT

International Federation of Organic Liên đoàn phong trào nông nghiệp
IFOAM
SFS
USDA
Agriculture Movement
Surin Farmers Support
United States Department of
Agriculture
hữu cơ quốc tế
Tổ chức hỗ trợ nông dân Surin
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
ii
WFTO
World Fair Trade organization
Tổ chức Thương mại Công bằng thế
giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. So sánh đặc điểm TMCB và thương mại thông thường 19
Bảng 1.2. Khối lượng và giá trị tiêu thụ của một số hàng hóa TMCB 2006-2012 26
Bảng 1.3. Giá trị bán lẻ hàng hóa TMCB ở một số quốc gia (đơn vị: Euro) 27
Bảng 1.4. Ý kiến người tiêu dùng về việc trả mức giá cao hơn cho sản phẩm TMCB . 32
Bảng 1.5. Giá tối thiểu một số loại gạo hữu cơ và gạo thông thường TMCB (EURO) 34
Bảng 2.1. Dân số, lao động của Thái Lan 2000-2004 38
Bảng 2.2. Giá một số loại gạo TMCB của Thái Lan hiện nay 48
Bảng 3.1. Quy mô lao động trong nông nghiệp giai đoạn 2005-2012 62
Bảng 3.2. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cho nông nghiệp theo giá hiện hành năm
2012
63
Bảng 3.3. Giá xuất khẩu một số loại gạo 66
Bảng 3.4. Một số thị trường xuất khẩu gạo lớn năm 2012 67

1.2. Vai trò của TMCB với các nước đang và chậm phát triển 19
1.2.1. Về kinh tế 19
1.2.2. Về xã hội 20
1.2.3. Về môi trường 22
1.3. Thực tiễn chung về phát triển TMCB và TMCB bằng đối với mặt hàng gạo .22
trên thế giới 22
1.3.1. Thực tiễn Thương mại Công bằng từ năm 1990 đến nay 22
1.3.2. Sự phát triển Thương mại Công bằng về gạo trên thế giới 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG ĐỐI
VỚI MẶT HÀNG GẠO TẠI THÁI LAN TRONG GIAI ĐOẠN 1990 – 2013 33
2.1. Tổng quan về sản xuất và thương mại đối với mặt hàng gạo tại Thái Lan 33
2.1.1. Tổng quan về sản xuất mặt hàng gạo 33
2.1.2. Tổng quan về thương mại mặt hàng gạo tại Thái Lan 39
iv
2.2. Thực trạng phát triển TMCB tại Thái Lan 40
2.2.1. Tổng quan TMCB tại Thái Lan 40
2.2.2. Thực trạng phát triển TMCB mặt hàng gạo tại Thái Lan 41
2.3. Một số dự án điển hình về TMCB đối với gạo Thái Lan giai đoạn 1990 – 52
2.3.1. Sự hỗ trợ của HTX Green Net trong phát triển TMCB về gạo tại Thái
Lan 53
2.3.2. Sự hỗ trợ của Quỹ gạo Surin trong phát triển TMCB về gạo tại tỉnh Surin,
Thái Lan 55
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ TMCB GẠO CỦA THÁI
LAN VÀ ĐỀ XUẤT DỰA TRÊN BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM57
3.1. Tổng quan ngành gạo và triển vọng phát triển TMCB gạo tại Việt Nam 57
3.1.1. Tổng quan về gạo tại Việt Nam 57
3.1.2. Sự cần thiết phát triển TMCB gạo tại Việt Nam 64
3.1.3. Triển vọng phát triển TMCB gạo tại Việt Nam 67
3.2. Một số bài học kinh nghiệm từ Thương mại Công bằng về gạo của Thái
Lan 71

bình đẳng do Thương mại truyền thống gây ra.
Không chỉ là một trong những nước đứng đầu về sản xuất gạo trên thế giới,
Thái Lan còn đi tiên phong trong việc áp dụng TMCB với các sản phẩm gạo nhằm
cải thiện mức sống cho người nông dân, đồng thời nâng cao thương hiệu gạo Thái
trên thị trường thế giới. Do vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm của Thái Lan trong phát
triển TMCB mặt hàng gạo, phân tích trong điều kiện cụ thể của Việt Nam sẽ là những
căn cứ cụ thể đề xuất những giải pháp vận dụng những kinh nghiệm này vào thực tiễn
sản xuất và thương mại mặt hàng gạo tại Việt Nam.
Từ những phân tích trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Kinh nghiệm
phát triển Thương mại Công bằng đối với gạo của TháiLan và bài học cho Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu tổng thể về lý thuyết tổng quan về
TMCB bằng như:
· Thương mại Công bằng: Tổng quan, tác động và những thách thức, 2000,
Trường Đại học Tổng hợp Oxford, Anh.
· Stiglitz, JE & Charlton, A 2005, Thương mại Công bằng dành cho mọi người:
Cách để thương mại thúc đẩy sự phát triển,Nhà xuất bản trường Đại học Oxford,
Oxford, Anh.
· Rice, J 2010, ‘Tự do hóa thương mại, Thương mại Công bằng và sự bất bình
đẳng giới tính ở các nước kém phát triển’, Tạp chí Sustainable Development, số 18
năm 2010, trang 42 – 50.
· Hutchens, A 2010, ‘Trao quyền cho người phụ nữ qua TMCB: Bài học từ Châu
Á’, Tạp trí Third World Quarterly, số 31 năm 2010, trang 449 – 467.
· Hanson, L & các cộng sự, ‘Giới tính, sức khỏe và Thương mại Công bằng:
Góc nhìn từ những dự án nghiên cứu tại Nicaragua’, tạp chí Development in Practice,
Số 22 tháng 4/2012.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về tổng quan lý thuyết về TMCB trên thế giới
hiện nay vẫn còn rời rạc, chưa có cái nhìn toàn diện về đặc điểm, tác động của hình

nâng cao chất lương, sức khỏe cộng đồng, Chương trình phát triển Liên hợp quốc.
Những nghiên cứu về TMCB tại Việt Nam nói chung và TMCB mặt hàng gạo nói
riêng còn rất khiêm tốn, đồng thời vẫn chưa đề cập trực tiếp nhiều đến khía cạnh
thương mại trong TMCB.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm áp
dụng TMCB về gạo đã thành công ở Thái Lan để áp dụng vào Việt Nam là vấn đề
cần thiết trong việc phát triển nền nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng
một cách bền vững.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm phát triển TMCB mặt hàng gạo tại Thái
Lan và tìm kiếm những giải pháp phát triển TMCB gạo tại Việt Nam nhằm cải thiện
đời sống cho người nông dân sản xuất gạo ở Việt Nam thông qua phát triển TMCB
đối với mặt hàng gạo hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp tại Việt Nam.
Nhiệm vụ: Nhằm đạt được những mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài tự xác định các
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
4
Thứ nhất , làm rõ những vấn đề lý luận chung về Thương mại Công bằng và tính cấp
thiết phát triển Thương mại Công bằng đối với mặt hàng gạo của Việt Nam.
Thứ hai , nghiên cứu thực trạng Thương mại Công bằng của Thái Lan đối với mặt
hàng gạo và rút ra bài học kinh nghiệm.
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng sản xuất và thương mại gạo Việt Nam, từ đó đánh giá
tính khả thi của việc áp dụng những kinh nghiệm của Thái Lan vào điều kiện thực tế
của Việt Nam và đề xuất giải pháp phát triển Thương mại Công bằng đối với gạo Việt
Nam.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm phát triển TMCB đối với mặt hàng gạo của
Thái Lan và giải pháp nhằm phát triển TMCB gạo cho Việt Nam.
Khách thể nghiên cứu: Thực trạng phát triển TMCB mặt hàng gạo của Thái Lan.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tập trung vào hai nước Việt Nam và Thái

trong việc xây dựng và phát triển một nền sản xuất lúa gạo bền vững.
7. Kết cấu của đề tài:
Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Thương mại Công bằng và sự phát triển Thương
mại Công bằng về gạo trên thế giới
Chương 2: Thực trạng phát triển Thương mại Công bằng đối với mặt hàng
gạo tại Thái Lan trong giai đoạn 1990 – 2013
Chương 3: Một số bài học kinh nghiệm từ TMCB gạo của Thái Lan và đề
xuất dựa trên bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI CÔNG
BẰNG VÀ THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG VỀ MẶT HÀNG GẠO TRÊN THẾ
GIỚI
1.1. Khái niệm và đặc điểm của Thương mại Công bằng
1.1.1. Bối cảnh ra đời của TMCB
Về mặt thời gian và địa lí, có hai quan điểm chính cho rằng Thương mại Công
bằng bắt đầu ra đời tại hai khu vực là Bắc Mỹ (1946) và Châu Âu (1950) (Fair Trade
Resource Network, 2009).
Ở khu vực Bắc Mỹ, sự ra đời TMCB được đánh dấu bằng sự xuất hiện của 2
tổ chức là Ten Thousand Villages (1946) (trước đây là Self Help Crafts) chuyên mua
6
các sản phẩm dệt may của Puerto Rico thông qua hội Thánh và SERRV1 (1949 –
1950) chuyên giao dịch đồng hồ gỗ từ dân tị nạn nước Đức sau thế chiến thứ hai.
Ở Châu Âu, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng TMCB là sáng kiến của
các tổ chức phi chính phủ và có manh nha vào năm 1950, khi giám đốc Oxfam UK2
sang thăm Hồng Kông và nảy ra ý định thu mua thú nhồi bông của những người tị
nạn Trung Quốc tại đây để giúp họ tăng thêm thu nhập. Tuy nhiên cũng có nhà nghiên
cứu lựa chọn mốc ra đời TMCB là năm 1957, khi một tổ chức tên là SOS Wereld
Handel được một số thanh niên công giáo ở miền nam Hà Lan thành lập với mục đích
nhập khẩu các sản phẩm của các nước đang phát triển với mức giá công bằng.

quảng bá hình ảnh cho TMCB.
Năm 1988, Liên đoàn quốc tế về thương mại thay thế (International Federation
of Alternative Trade) được thành lập nhằm đảm bảo việc xúc tiến TMCB và tạo thuận
lợi cho việc hợp tác giữa các tổ chức TMCB địa phương. Hai năm sau, một tổ chức
tương tự của châu Âu, Liên đoàn châu Âu về thương mại thay thế (European
Federation of Alternative Trade) cũng ra đời. Cũng vào năm 1988, nhãn hiệu TMCB
đầu tiên mang tên Max Havelaar ra đời với mục đích chứng nhận các sản phẩm có
nguồn gốc từ TMCB. Năm 1997, Tổ chức dán nhãn Thương mại Công bằng –
Fairtrade Labelling Organisation (FLO) được thành lập nhằm điều phối các nhãn hiệu
TMCB và các tổ chức cấp giấy chứng nhận TMCB trên thế giới. FLO ra đời đảm bảo
uy tín cho các nhãn hiệu TMCB cũng như đảm bảo các tiêu chuẩn này mang tính toàn
cầu.
Tóm lại, TMCB bắt nguồn từ ý thức của công dân tiến bộ ở châu Âu muốn có
cơ hội để góp phần nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của những người sản
xuất ở các nước đang phát triển một cách bền vững. Tiêu dùng đối với họ không chỉ
là một hành động tiêu thụ mà là sự tiêu dùng có ý thức, tối thiểu phải đáp ứng được
ba yêu cầu: giúp đỡ những nhà sản xuất ở các nước đang phát triển, tôn trọng một số
chuẩn mực xã hội, giữ gìn và bảo vệ môi trường.
1.1.2. Khái niệm
Vào năm 1988, tổ chức FINE gồm bốn tổ chức là tổ chức dán nhãn TMCB
(FLO, nay là FI), hiệp hội TMCB thế giới (IFAT, nay là WFTO), mạng lưới “Cửa
hàng thế giới” tại châu Âu (NEWS) và hiệp hội TMCB châu Âu (EFTA) đã định
nghĩa TMCB là: “Quan hệ đối tác kinh doanh dựa trên nền tảng của đối thoại, minh
bạch, sự tôn trọng đối với con người và môi trường tự nhiên, tìm cách để trở nên công
bằng hơn trong thương mại quốc tế. TMCB góp phần vào sự phát triển bền vững bằng
cách đề ra những điều kiện thương mại lành mạnh hơn và bảo đảm quyền lợi của các
nhà sản xuất và công nhân”. (Fair Trade Resource Network, 2009)
Dưới góc nhìn của FINE, TMCB hướng tới mục tiêu thiết lập hệ thống quản
lý công khai và minh bạch với những nguyên tắc rõ ràng, cụ thể để hình thành nên
8

quyền trẻ em và bảo vệ môi trường.
Cụ thể 10 nguyên tắc của TMCB được trình bày trong PHỤ LỤC 1.
9
1.1.4. Đặc điểm của TMCB
1.1.4.1. Hàng hóa TMCB
Mặt hàng nào cũng có thể được dán nhãn TMCB nếu đảm bảo được các tiêu
chuẩn của TMCB3. Tuy nhiên do mục tiêu của TMCB là hướng tới những nhà sản
xuất tại các nước đang và chậm phát triển nên hàng hóa TMCB chủ yếu là hàng nông
sản, hàng thủ công mỹ nghệ trong khi đối với thương mại thông thường, hàng nông
nghiệp chỉ chiếm dưới 15% kim ngạch xuất nhập khẩu thế giới (WTO, 2012, pp.1).
Hiện nay, trên thế giới có hơn 15 loại hàng TMCB, mỗi loại hàng này lại bao gồm rất
nhiều dòng sản phẩm và sản phẩm bên trong (Products, 2011). Ví dụ như hạt ngũ cốc
thì bao gồm 3 dòng sản phẩm: hạt fonio, quinoa và gạo; trong dòng sản phẩm gạo lại
bao gồm 22 sản phẩm phân biệt (FLO, 2014, pp. 1-2). Sản phẩm TMCB được chia
thành hai loại: sản phẩm đơn chất và sản phẩm hỗn hợp
(composite) (Fairtrade Mark, 2011)
Các sản phẩm đơn chất: là các sản phẩm thô, chưa qua chế biến như chuối, bông,
hoa, hoa quả tươi, vàng, mật, gạo, gia vị.
Các sản phẩm hỗn hợp: là các sản phẩm đã qua chế biến với nguyên liệu từ các
sản phẩm TMCB. Các sản phẩm hỗn hợp này sẽ được cấp chứng nhận TMCB khi và
chỉ khi mọi nguyên liệu (có trong danh mục sản phẩm TMCB) đều là sản phẩm
TMCB. Tùy từng tổ chức TMCB mà họ có thể đưa ra các quy định về hàm lượng
nguyên liệu TMCB tối thiểu như với FLO là 20% (FLO, 2011, pp. 10). Ví dụ như
thanh sô cô là một sản phẩm hỗn hợp được làm từ ca cao, bơ ca cao, đường và nhiểu
nguyên liệu khác, phụ thuộc vào loại sô cô la. Nếu ca cao, bơ ca cao và đường là sản
phẩm của TMCB thì thanh sô cô la đó sẽ được dán nhãn TMCB với điều kiện hàm
lượng 3 loại nguyên liệu trên trong thanh sô cô la lớn hơn hoặc bằng 20%.
1.1.4.2. Nhãn hiệu TMCB:
Nhãn hiệu TMCB là một bằng chứng cho việc sản phẩm hoặc tổ chức phù hợp
với các tiêu chuẩn của TMCB. Trong khi các loại nhãn hiệu thông thường dùng để

tỷ lệ nhất định nguyên liệu TMCB trong quá trình sản xuất. Ví dụ, một công ty có thể
cam kết mua 30% khối lượng ca cao nguyên liệu là ca cao TMCB để sản xuất kẹo.
Nhãn hiệu chương trình TMCB có thể được dùng trên mặt trước và mặt sau của
bao bì sản phẩm nhưng chỉ đi kèm với tên công ty, không đi kèm với nhãn hiệu sản
phẩm. Công ty được công khai nhãn hiệu thông qua trang web của công ty, trên các
báo cáo hàng năm, báo cáo trách nhiệm xã hội để cho người tiêu dùng biết là họ tham
gia mua những sản phẩm TMCB (Using the fair trade mark, 2011).Chương trình này
11
tạo ra nhiều lựa chọn hơn cho doanh nghiệp khi muốn tham gia vào chuỗi cung ứng
TMCB. Người tiêu dùng cũng có thể hỗ trợ cho người nông dân khi mua sản phẩm
từ những công ty tham gia chương trình TMCB. Còn người nông dân thì bán được
nhiều sản phẩm TMCB hơn. (The Fair trade program Mark, 2011).
Hình 1.2. Nhãn hiệu chương trình TMCB
Trên đây là 3 nhãn hiệu chương trình TMCB, tương ứng với ba mặt hàng:
đường, sợi bông và ca cao.
1.1.4.2.3. Kiểm tra và dán nhãn
Để đảm bảo mọi sản phẩm được dán nhãn đều tuân thủ các tiêu chuẩn của
TMCB thì việc kiểm tra các nhà sản xuất là cần thiết. Việc kiểm tra bao gồm kiểm tra
ban đầu và kiểm tra định kỳ.
Kiểm tra ban đầu được tiến hành với các nhà sản xuất mong muốn được sử
dụng nhãn hiệu TMCB. Đầu tiên, các nhà sản xuất phải nộp hồ sơ đăng ký theo quy
định của tổ chức cấp phép. Sau đó, tổ chức cấp phép sẽ tiến hành kiểm tra thực tế và
nếu tất cả các tiêu chuẩn TMCB đều được đảm bảo thì nhà sản xuất sẽ dán nhãn cho
sản phẩm họ đã đăng ký. Tổ chức sản xuất sẽ phải trả phí cho toàn bộ quá trình kiểm
tra ban đầu.
Kiểm tra định kỳ được thực hiện với các nhà sản xuất đã được quyền sử dụng
nhãn hiệu. Tùy theo quy định của tổ chức cấp phép mà việc kiểm tra có thể được thực
hiện theo hình thức giấy tờ hoặc kiểm tra thực tế. FLO tiến hành kiểm tra các nhà sản
xuất mỗi năm 1 lần, đối với các tổ chức hoàn thành tốt việc kiểm tra trong nhiều năm
liền, họ sẽ được tin tưởng và chỉ phải kiểm tra 3 năm 1 lần. Trong khi đó, quy trình

khấu hao đất, chi phí quản lý, chi phí thu hoạch và sau thu hoạch, chi phí sơ chế (nếu
có), chi phí chuẩn bị hàng và chi phí đóng gói (nếu có); và một mức lợi nhuận hợp lý.
1.1.4.3.2. Giá phúc lợi
Giá phúc lợi là một khoản tiền mà người sản xuất được nhận thêm từ người mua
để đầu tư cho cộng đồng, cuộc sống, công việc kinh doanh của người sản xuất (với
các tổ chức của người sản xuất nhỏ) hoặc đầu tư cho phát triển điều kiện kinh tế xã
hội cho công nhân và cộng đồng của họ (trong trường hợp công nhân làm thuê). Mục
đích cụ thể sẽ do những người sản xuất quyết định một cách dân chủ. Giá phúc lợi có
thể được thể hiện bằng một con số tuyệt đối hoặc một tỉ lệ tương đối tùy vào từng
trường hợp. Ví dụ: giá phúc lợi của gạo jasmine Thái Lan là 19,14 EUR/tấn; giá phúc
13
lợi của đường mía hữu cơ áp dụng toàn thế giới là 15% giá thị trường (áp dụng từ
ngày 12/03/2009)(FLO, 2014, pp.1).
1.1.4.4. Thanh toán và hỗ trợ tài chính
Thực tế cho thấy, những người sản xuất TMCB tại các nước đang phát triển
chủ yếu là những người sản xuất nhỏ lẻ và thường xuyên ở trong tình trạng thiếu vốn.
Để giải quyết vấn đề này, các tổ chức TMCB đưa ra tiêu chuẩn về hỗ trợ tài chính.
Hỗ trợ tài chính là một khoản tài chính ngắn hạn, cho phép tổ chức tài trợ vốn
cho các nhà sản xuất thành viên. Mục tiêu của nó là giúp người sản xuất có thể tiếp
cận được nguồn vốn một cách hợp lý để có thể thực hiện được những đơn hàng. Mức
hỗ trợ này là do trung gian hoặc công ty chế biến cung cấp theo hợp đồng được ký
với nhà sản xuất. Với các thành viên của FLO, khi người sản xuất yêu cầu và không
có quy định khác, tỷ lệ hỗ trợ tài chính trước có thể đạt đến mức trần là 60% trị giá
hợp đồng với mức lãi suất hợp lý4. Mức tối thiểu sẽ cho nhà sản xuất quy định. Như
vậy, nhà sản xuất có thể yêu cầu hỗ trợ tối đa là 60% trị giá hợp đồng và người mua
sẽ bắt buộc phải cung cấp được. Các khoản hỗ trợ này có thể dưới dạng trả trước hoặc
cung cấp giống cây cho người sản xuất (FLO, 2011, pp. 14 – 16). Đối với WFTO, tỷ
lệ hỗ trợ tối thiểu là 50%; lãi suất 0% với hàng thủ công và lãi suất hợp lý với mặt
hàng thực phẩm (WFTO, 2014, pp. 7/23). So sánh với lãi suất trả trước trong thương
mại thông thường (được tính theo lãi suất thị trường cộng thêm mức lãi để bù đắp rủi

chức
bán lẻ
Người tiêu
dùng có ý
thức
Công ty
sản xuất
Tổ chức
hỗ trợ
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự tổng hợp
Trong mô hình trên, chiều của mũi tên thể hiện dòng chảy của hàng hóa từ tay
người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Ban đầu, các sản xuất đơn lẻ trực tiếp sản
xuất hàng hóa TMCB. Hàng hóa này sẽ được các tổ chức của người sản xuất thu mua,
sau đó chuyển qua nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, tổ chức bán lẻ trước khi tới được
tay người tiêu dùng. Đối với các sản phẩm hỗn hợp thì kênh phân phối còn có thêm
sự tham gia của công ty sản xuất. Trong mô hình phân phối trên, một tổ chức có thể
đồng thời đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau. Ví dụ như tổ chức sản xuất có thể đồng
thời là nhà xuất khẩu hay nhà nhập khẩu có thể kiêm thêm nhiệm vụ bán lẻ. Các tổ
chức hỗ trợ không tham gia vào phân phối hàng hóa, tuy nhiên, nó có vai trò điều
phối và kiểm soát chung cho cả quá trình.
1.1.4.5.2. Các chủ thể trong hệ thống phân phối của TMCB
Hệ thống phân phối của TMCB bao gồm các chủ thể chính là: nhà sản xuất,
trung gian thương mại, tổ chức hỗ trợ, người tiêu dùng.
a. Nhà sản xuất
Nhà sản xuất trong mô hình phân phối bao gồm 3 chủ thể: nhà sản xuất đơn lẻ,
tập hợp của nhà sản xuất, công ty sản xuất (WFTO, 2014, pp. 2/23).
Các nhà sản xuất đơn lẻ là người trực tiếp tham gia sản xuất ra các sản phẩm
TMCB đơn chất. Họ chính là những người nông dân, thợ thủ công và công nhân đơn
lẻ - chủ thể hưởng lợi chính từ sự phát triển của TMCB. Nhờ vào sự xuất hiện của
15

labour, 2011).
16
b. Trung gian thương mại
Tương tự như thương mại thông thường, các sản phẩm TMCB được phân phối
tới người tiêu dùng thông qua các trung gian TMCB. Tuy nhiên, cơ chế hoạt động của
các tổ chức này phải đáp ứng những tiêu chuẩn của TMCB5 và được chứng nhận bởi
các tổ chức TMCB quốc tế. Các tổ chức trung gian mua hàng hóa TMCB trực tiếp từ
các tổ chức sản xuất theo hợp đồng dài hạn, thanh toán và hỗ trợ tài chính theo đúng
quy định của TMCB và cung cấp các hỗ trợ khác. Khác với thương mại truyền thống,
giữa nhà sản xuất và trung gian thương mại, TMCB hướng tới giảm dần và tiến tới
xóa bỏ quan hệ đối đầu về giá, chất lượng, thanh toán cũng như các điều khoản khác.
Trung gian TMCB gồm hai nhóm chính: tổ chức bán buôn và tổ chức bán lẻ
(WFTO, 2014, pp. 2/23).
Tổ chức bán buôn là các tổ chức, công ty mua bán hàng hóa TMCB với số
lượng lớn. Tổ chức bán buôn bao gồm: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, công ty thương
mại trong nước,…trong đó quan trọng nhất là nhà xuất khẩu và nhập khẩu.
Nhà xuất khẩu là những tổ chức, công ty, cá nhân mua sản phẩm TMCB từ tổ
chức sản xuất và tiến hành xuất khẩu các sản phẩm này ra nước ngoài. Nhiệm vụ của
tổ chức xuất khẩu là kết hợp chặt chẽ với các tổ chức sản xuất, nghiên cứu thị trường,
kết nối các nhà sản xuất hoàn cảnh khó khăn với các tổ chức nhập khẩu ở các nước
đang phát triển và hỗ trợ họ trong việc đáp ứng những yêu cầu và các nguyên tắc của
TMCB.
Nhà nhập khẩu nhập khẩu sản phẩm TMCB từ các tổ chức sản xuất hoặc từ các
tổ chức xuất khẩu. Nhà nhập khẩu thường là các doanh nghiệp tại các nước phát triển.
Họ giúp đỡ các đối tác sản xuất TMCB trong quá trình phát triển sản phẩm, đào tạo
các kỹ năng và cũng hỗ trợ thêm trong điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn. Tại quốc
gia của mình, các tổ chức nhập khẩu hoạt động như những nhà bán buôn, bán lẻ, hoặc
đôi khi là sự kết hợp của cả hai (Nguyễn Mai Trang, 2009, pp. 13-17).
Ví dụ như công ty Claro Fair trade, thành viên của WFTO, vừa đóng vai trò là người
nhập khẩu sản phẩm TMCB để bán lại cho các cửa hàng bán lẻ trên khắp thế giới,

các tổ chức hỗ trợ thành viên. Các thành viên này đều phải được cấp chứng nhận
thành viên và tuân theo các quy định của tổ chức “mẹ” mà mình trực thuộc. Các tổ
chức hỗ trợ không tham gia vào kênh phân phối hàng hóa TMCB mà chỉ có vai trò là
người điều phối và quản lý chung.
Ngoài ra, các công ty chế biến, công ty dịch vụ logistics có thể tham gia vào
chuỗi phân phối sản phẩm TMCB, tùy thuộc vào từng mặt hàng cụ thể (Edwardson,
W., 2013, pp. 18).
18
Bảng 1.1. So sánh đặc điểm TMCB và thương mại thông thường
Tiêu chí
TMCB
Thương mại thông thường
Chủ yếu là nông sản, hàng thủ Đa dạng nhưng sản phẩm nông
Hàng hóa
công nghiệp.
nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ, dưới
10%
Nhãn hiệu TMCB chứng nhận Nhãn hiệu công ty, nhãn hiệu của
Nhãn hiệu
Giá
Thanh toán
tính công bằng về thương mại do các tổ chức quản lý
chất lượng
tổ chức TMCB cấp. độc lập cấp.
Cao hơn và ổn định. Giá được Biến động, do thị
trường quyết
đàm phán trên cơ sở giá tổi thiểu định, các chủ thể ít
có khả năng
và giá phúc lợi được tổ chức can thiệp.
TMCB định sẵn.

Trích đoạn Sự cần thiết phát triển TMCB gạo tại Việt Nam Triển vọng phát triển TMCB gạo tại Việt Nam Thành công của Thái Lan trong việc phát triển nông nghiệp hữu cơ Bài học từ thành công của Thái Lan trong việc phát triển TMCB về gạo Giải pháp phát triển nền nông nghiệp hữu cơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status