Những giải pháp nhằm phát triển thương mại điện tử đối với các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị tại Hà Nội và Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG

NGUYỄN ANH QUÝ

NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH SIÊU THỊ TẠI HÀ NỘI VÀ VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 603107 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS THỊNH VĂN VINH

HÀ NỘI – NĂM 2008
1.5 Những cơ hội và thách thức của thƣơng mại điện tử trong
kinh doanh theo xu thế hội nhập 38
CHƢƠNG 2 - THỰC TRẠNG THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦA CÁC
SIÊU THỊ TẠI HÀ NỘI VÀ VIỆT NAM
2.1 Hoạt động kinh doanh của các siêu thị tại Hà nội và Việt nam 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 40
2.1.1.1 Giai đoạn 1: Xuất hiện siêu thị (1994-1996) 42
2.1.1.2 Giai đoạn 2: Bắt đầu phát triển về lượng (1997-1999) 43
2.1.1.3 Giai đoạn 3: Cạnh tranh, đào thải và phát triển
(từ cuối năm 1999 đến nay) 45
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các siêu thị trên
địa bàn Hà nội 46
2.1.2.1 Về quy mô hoạt động 46
2.1.2.2 Về cơ cấu, hàng hóa, giá cả 47
2.1.2.3 Về nguồn hàng 48
2.1.2.4 Về cơ sở vật chất phục vụ bán hàng 48
2.1.3 Đặc điẻm tổ chức quản lý kinh doanh và bộ máy tổ chức
của các siêu thị tại Hà nội 49
2.2 Thực trạng công tác triển khai mô hình thƣơng mại điện tử tại
Hà nội và Việt nam 52
2.2.1 Bối cảnh chung 52
2.2.2 Thực trạng các mô hình thương mại điện tử
2.2.2.1 Mô hình kinh doanh sàn thương mại điện tử B2B 53
2.2.2.2 Mô hình kinh doanh sàn thương mại điện tử B2C 55
2.2.2.3 Mô hình kinh doanh sàn thương mại điện tử C2C 57
2.3 Đánh giá thực trạng công tác thƣơng mại điện tử tại Hà nội
và Việt nam 58


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thương mại điện tử (TMĐT) là một vấn đề mà hiện nay đang gây rất
nhiều tranh cải về tính khả thi của nó khi áp dụng tại Việt Nam. Không thể
phủ nhận được rằng TMĐT đóng vai trò rất to lớn trong việc làm tăng tính
cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Trên thế giới
hiện nay các công ty rất coi trọng hình thức giao dịch này và không ngừng
phát triển nó. Tuy vậy cũng không thể phủ nhận một điều là TMĐT hiện đang
còn là một cái gì đó khá mới mẽ đối với doanh nghiệp và cả người dân. Đa số
chuyên gia kinh tế cho rằng, còn lâu chúng ta mới có thể "lên mạng mua
hàng" và dẫn chứng ra một loạt các thất bại của các công ty dot.com trong
thập niên 90 vừa qua. Thêm vào đó là chúng ta chưa có luật TMĐT, chưa có
cổng thanh toán, người dân chưa có thói quen mua hàng trên mạng, và chưa
quen sử dụng thẻ tín dụng khi mua hàng. Chúng ta đã gia nhập WTO, tham
gia vào sân chơi mà ở đó sự cạnh tranh là rất khốc liệt và nghiệt ngã. Đã qua
rồi cái thời mà doanh nghiệp cứ mãi trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước.
Thay vào đó chính là sự đổi mới một cách toàn diện cả về tư duy và công
nghệ và tăng cao năng lực cạnh tranh. Có như thế chúng ta mới có thể phát
triển bền vững. Việc nắm bắt được và triển khai TMĐT sẽ giúp cho các doanh
nghiệp và người dân Việt nam nói chung cũng như các doanh nghiệp kinh
doanh siêu thị nói riêng có được những bước tiến xa và vững chắc.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm hệ thống hóa lý luận TMĐT trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị
trong điều kiện hội nhập kinh tế đồng thời làm rõ thực trạng TMĐT trong lĩnh
vực kinh doanh siêu thị ở Viêt nam mà chủ yếu là ở Hà nội. Từ đó luận văn sẽ
kiến nghị và nêu ra giải pháp nhằm phát triển TMĐT trong lĩnh vực siêu thị ở
Việt nam mà chủ yếu là ở Hà nội.



3

CHƢƠNG 1 – NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Thƣơng mại điện tử
1.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò, tác dụng và lợi ích của thƣơng mại điện tử
1.1.1.1 Khái niệm:
Năm 1996 thuật ngữ thương mại điện tử (TMĐT) chính thức được Hội
đồng liên hợp quốc sử dụng trong “Đạo luật về thương mại điện tử” do Ủy
ban Liên hợp quốc tế về Thương mại quốc tế soạn thảo.
Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp:
TMĐT là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện
điện tử, nhất là Internet và các mạng viễn thông khác. Khái niệm này tương tự
với một số quan điểm vào cuối thập kỷ 90:
+ TMĐT là các giao dịch thương mại về hàng hóa và dịch vụ được thực
hiện thông qua các phương tiện điện tử (Diễn đàn đối thoại xuyên đại tây
dương, 1977)
+ TMĐT là việc thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn tới việc
chuyển giao giá trị thông qua các mạng viễn thông (EITO,1997)
+ TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một
mạng máy tính làm trung gian, bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay
quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ (Cục thống kê Hoa kỳ, 2000)
Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng:
TMĐT là việc sử dụng các phương pháp điện tử để làm thương mại.
Nói cách khác, TMĐT là thực hiện các quy trình cơ bản và các khung cảnh
của các giao dịch thương mại bằng các phương tiện điện tử, cụ thể là trên
mạng máy tính và viến thông một cách rộng rãi, ở mức độ cao nhất có thể.
Các quy trình cơ bản của một giao dịch thương mại gồm: tìm kiếm như mua

+ Giải quyết vấn đề chung : TMĐT tạo ra môi trường để làm việc, mua 5

sắm, giao dịch từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn. Bên cạnh đó,
TMĐT cũng góp phần vào chủ trương của chính phủ về giảm thiểu lưu thông
tiền mặt.
+ Nâng cao mức sống: Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực
giảm giá do đó khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, nâng cao mức
sống của mọi người
+ Lợi ích cho các nước nghèo: Những nước nghèo có thể tiếp cận với
các sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua Internet và
TMĐT. Đồng thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng được đào
tạo qua mạng. TMĐT giúp các nước nghèo sớm tiếp cận với nền kinh tế số
hóa.
+ Dịch vụ công được cung cấp thuận tiện hơn: Các dịch vụ công cộng
như y tế, giáo dục, các dịch vụ công của chính phủ được thực hiện qua
mạng với chi phí thấp hơn, thuận tiện hơn. Cấp các loại giấy phép qua mạng,
tư vấn y tế là các ví dụ thành công điển hình. TMĐT tạo điều kiện cho việc
thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình
thương mại.
Thứ hai, lợi ích đối với các doanh nghiệp:
+ Mở rộng thị trường, phát triển thương hiệu, tăng doanh số, tăng khả
năng cạnh tranh: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền
thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung
cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lưới nhà
cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn
và bán được nhiều sản phẩm hơn.
+ Nắm bắt được các thông tin về các đối tác tham gia vào quá trình

phí giao dịch cũng giảm theo. Thời gian giao dịch internet chỉ bằng khoảng 7

70% so với giao dịch qua fax và bằng 5% so với giao dịch qua bưu điện [10,
tr. 27].
+ Củng cố quan hệ khách hàng, tăng sự hài lòng của khách hàng:
Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng, quan hệ với trung gian và
khách hàng được củng cố dễ dàng hơn. Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm
và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng cố lòng
trung thành.
+ Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ,
giá cả đều có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời.
+ Chi phí đăng ký kinh doanh: Một số nước và khu vực khuyến khích
bằng cách giảm hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng. Thực tế,
việc thu nếu triển khai cũng gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù của Internet.
+ Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện
chất lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và
chuẩn hóa các quy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ; tăng
khả năng tiếp cận thông tin và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh hoạt
trong giao dịch và hoạt động kinh doanh.
Thứ ba, lợi ích đối với người tiêu dùng:
+ Vượt giới hạn về không gian và thời gian: TMĐT cho phép khách
hàng mua sắm mọi nơi, mọi lúc đối với các cửa hàng trên khắp thế giới
+ Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: TMĐT cho phép người mua
có nhiều lựa chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn
+ Giá thấp hơn: Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên
khách hàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ
đó tìm được mức giá phù hợp nhất
9

chọn trước khi bắt đầu triển khai ứng dụng TMĐT, đặc biệt đối với những
doanh nghiệp vừa và nhỏ hướng tới phục vụ đối tượng người tiêu dùng.
Điểm mấu chốt quyết định thành công của một website TMĐT B2C là
khả năng thu hút và duy trì sự quan tâm của người tiêu dùng. Để thu hút
khách hàng mới, bên cạnh giao diện đẹp và thuận tiện cho việc sử dụng, thông
tin trên website cũng cần phải hết sức phong phú. Kinh nghiệm cho thấy
khách hàng đặc biệt quan tâm tìm kiếm những thông tin mô tả và giá cả hàng
hóa, dịch vụ trên mạng, qua đó so sánh, đối chiếu để dẫn đến quyết định mua
hàng. Việc đáp ứng một cách thuận tiện nhu cầu của người tiêu dùng về khảo
sát giá cũng như sản phẩm là một lợi thế nổi bật của phương thức tiếp thị trực
tuyến mà các nhà kinh doanh cần khai thác triệt để. Một khi khách hàng đã
quan tâm đến website, dùng thử các dịch vụ trên đó và thấy thực sự hiệu quả
thì xác suất quay lại sẽ là rất lớn.
Phương thức mua hàng trên mạng có sức thu hút mạnh với đối tượng là
cán bộ công sở, sinh viên, những người có ít thời gian mua sắm và thường
xuyên có nhu cầu sử dụng mạng Internet. Do đó, khi triển khai các “cửa hàng
trực tuyến”, doanh nghiệp cần lưu ý phân tích thói quen và tâm lý tiêu dùng
của các nhóm đối tượng này để có chiến lược tiếp thị hoặc lựa chọn loại hàng
hóa cho phù hợp.
Mô hình kinh doanh TMĐT theo phương thức B2C phù hợp hơn với
các doanh nghiệp thương mại dịch vụ. Khi có nhu cầu mua sắm, người tiêu
dùng muốn tìm được thông tin đa dạng về các loại hàng hóa và sản phẩm
khác nhau ngay tại một chỗ. Các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra hàng hóa
sẽ khó lòng đáp ứng được nhu cầu này do mỗi doanh nghiệp chỉ tập trung sản
xuất một vài sản phẩm nhất định. Trong khi đó, doanh nghiệp thương mại
dịch vụ, vốn chỉ đóng vai trò trung gian phân phối sản phẩm, sẽ có lợi thế hơn
11

1.1.2.2 Mô hình giao dịch B2B
B2B (Business To Business): Là hình thức kinh doanh giữa các nhà
cung cấp, giữa nhà sản xuất sản phẩm và các đại lý với nhau [5, tr. 42].
Trong TMĐT B2B, việc giao dịch giữa một doanh nghiệp với một
doanh nghiệp khác thường bao gồm nhiều công đoạn: từ việc chào bán sản
phẩm, mô tả đặc tính kỹ thuật của sản phẩm cho đến đàm phán giá cả, điều
kiện giao hàng, phương thức thanh toán…. Chính vì vậy mà các giao dịch này
được coi là phức tạp hơn so với việc bán hàng cho người tiêu dùng.
Trên thế giới, xu hướng TMĐT B2B chiếm ưu thế vượt trội trong việc
lựa chọn chiến lược phát triển của các công ty kinh doanh trực tuyến. B2B
được coi như là một kiểu “phòng giao dịch ảo”, nơi sẽ thực hiện việc mua bán
trực tuyến giữa các công ty với nhau, hoặc cũng có thể gọi là sàn giao dịch
mà tại đó, các doanh nghiệp có thể mua bán hàng hoá trên cơ sở sử dụng một
nền công nghệ chung. Khi tham gia vào sàn giao dịch này, khách hàng có cơ
hội nhận được những giá trị gia tăng như dịch vụ thanh toán hay dịch vụ hậu
mãi, dịch vụ cung cấp thông tin về các lĩnh vực kinh doanh, các chương trình
thảo luận trực tuyến và cung cấp kết quả nghiên cứu về nhu cầu của khách
hàng cũng như các dự báo công nghiệp đối với từng mặt hàng cụ thể.
Với ưu thế sẵn có của mình, TMĐT B2B có thể giúp các doanh nghiệp
tiết kiệm được chi phí trong quá trình tham gia kinh doanh như chi phí quản
lý kho bãi, mặt bằng, chi phí giấy tờ, tài liệu, chi phí đầu vào của sản phẩm,
chi phí tổ chức nhân sự…
B2B (Business to Business) - từ doanh nghiệp tới doanh nghiệp theo
hình thức bán buôn mới thật sự là giao dịch TMĐT lớn mạnh. Nhưng một
điều cũng cần phải thừa nhận chính là TMĐT tại Việt Nam vẫn chưa phát
triển mạnh như các nước trong khu vực. Hiện nay Nhà nước và Chính phủ ta

tích hợp các số liệu công nợ, thanh toán vào hệ thống sổ sách kế toán của 13

doanh nghiệp. Mô hình này hữu hiệu khi số lượng mặt hàng lớn, trong kỳ
giao hàng nhiều lần, có việc đối lưu hàng hóa hay thanh toán, tạm ứng nhiều
lần.
Mô hình bán hàng thông qua hệ thống các đại lý
Mô hình kinh doanh này thường được sử dụng để quản lý hệ thống đại
lý. Nó hỗ trợ cho doanh nghiệp quản lý được hệ thống đại lý của mình, nắm
được lượng bán hàng của từng đại lý tại thời điểm mà mình quan tâm.
Ví dụ như vào lúc 17h30 hàng ngày doanh nghiệp cần nắm được trong
ngày hệ thống đại lý của mình bán được bao nhiêu hàng, những hàng nào
đang bán chạy, đại lý nào ngày mai sẽ hết hàng và nếu phải điều hàng tới thì
phải điều từ kho nào…Mô hình này cho phép các đại lý hỗ trợ lẫn nhau trong
bán hàng. Ví dụ khách hàng đại lý của LG tại Hà nội mua một cái tủ lạnh,
nhưng lại muốn giao hàng tại Nam định, đại lý LG tại Hà nội sẽ bán hàng cho
khách và chuyển việc giao hàng cho đại ý tại Nam định. Đại lý LG tại Nam
định sẽ thực hiện và cuối kỳ hai đại lý sẽ thanh toán bù trừ cho nhau. Các dữ
liệu kinh doanh của toàn bộ hệ thống đại lý này sẽ được cập nhật vào cơ sở dữ
liệu chủ để LG có thể căn cứ vào đó điều chỉnh kế haọch giao hàng, bổ sung
cho kế hoạch tiếp thị cũng như hoạch định các phương án kinh doanh.
Về mặt công nghệ, thực chất của mô hình này là doanh nghiệp xây
dựng một cataloge chung, các thành viên của doanh nghiệp theo chức năng
của mình sẽ được chia sẽ một phần cataloge chung đó mà một thành viên
được chia sẻ sẽ được doanh nghiệp áp dụng chính sách riêng, không phụ
thuộc vào các chính sách áp dụng cho các thành viên khác. Như vậy tuy cùng
một loại hàng nhưng các thành viên khác nhau sẽ được doanh nghiệp dành
riêng cho các giá bán buôn khác nhau, thời hạn thanh toán, số lượng, chủng

Trong thực tế một doanh nghiệp thường có nhiều khách hàng với cá
tính chất công việc khác nhau, do vậy cần phải quản lý các khách hàng này 15

khác nhau. Mô hình hỗn hợp thường được sử dụng trong trường hợp này. Mô
hình cho phép người bán hàng có thể tạo ra nhiều site nhằm vào các nhóm
người sử dụng khác nhau. Ví dụ, người bán hàng có thể tạo ra các site theo
vùng địa lý, các site riêng cho khách hàng lớn. Tất cả các site khác nhau được
tạo ra này đều có thể chia sẻ các tài sản chung nhưng catalogue chẳng hạn, tại
đó mỗi site tạo ra có thể lựa chọn một nhóm con của catalogue và chỉ phần
được chọn đó mới được hiển thị, nếu cần thiết có thể thêm các thông tin riêng
như giá cả, điều kiện giao hàng, thanh toán, khuyến mãi…cho site con được
tạo ra. Điều đó có tác dụng:
+ Cho phép doanh nghiệp tạo ra nhiều chiến lược để sản phẩm dịch vụ
luôn sẵn sàng đối với khách hàng.
+ Doanh nghiệp có nhiều site trình diễn khác nhau mà khách hàng thấy
như là một site riêng biệt
+ Doanh nghiệp có thể tạo ra các site theo vùng địa lý, mặt hàng, phân
đoạn thị trường, khách hàng.
Mỗi site thể thiện như là một site riêng duy nhất cho khách hàng truy
cập, mỗi site có thể áp dụng quy định kinh doanh riêng. Ví dụ, các vùng đại lý
khác nhau có thể có quy định giá cả, điều kiện thương mại và mức thuế khác
nhau.
Mô hình này khởi tạo và quản lý một cấu hình dữ liệu chung, các site
sẽ chia sẻ và sử dụng chung. Doanh nghiệp có thể tạo site mở rộng chứa tất cả
các khai báo cần thiết khác đối với khách hàng của mình để xác lập site duy
nhất cho một thị trường đặc biệt.
Mô hình kinh doanh theo kiểu mở rộng cho phép doanh nghiệp sử dụng

chóng, chính xác và minh bạch.
Điểm khác biệt giữa Thương mại điện tử B2B và B2C:
+ Khách hàng: Khách hàng của các giao dịch B2B (giao dịch giữa
doanh nghiệp với doanh nghiệp) là các công ty còn khách hàng của B2C là 17

các cá nhân. Xét về tổng thể, các giao dịch B2B phức tạp hơn và đòi hỏi tính
an toàn cao hơn.
+ Đàm phán, giao dịch: Việc bán hàng cho các doanh nghiệp
(B2B) phải bao gồm cả các yếu tố như đàm phán về giá cả, việc giao nhận
hàng và xác định quy cách, các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm. Bán hàng cho
người tiêu dùng (B2C) không nhất thiết phải bao gồm tất cả các yếu tố như
vậy. Điều này khiến cho các nhà bán lẻ dễ dàng hơn trong việc đưa lên mạng
catalog sản phẩm dịch vụ của họ để mở một siêu thị trực tuyến. Đó cũng
chính là lý do tại sao những ứng dụng TMĐT B2B đầu tiên được phát triển
chỉ cho những hàng hóa và sản phẩm hoàn chỉnh, đơn giản trong khâu mô tả
đặc tính và định giá.
+ Tích hợp hệ thống: Các công ty trong TMĐT B2C không phải tích
hợp hệ thống của họ với hệ thống của khách hàng. Trái lại các công ty khi bán
hàng cho các doanh nghiệp (B2B) cần phải đảm bảo rằng các hệ thống của họ
có thể giao tiếp được với nhau mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con
người dẫn đến nhu cầu phải tích hợp hệ thống của doanh nghiệp bán hàng và
doanh nghiệp mua hàng.
1.1.2.3 Mô hình giao dịch C2C
C2C (Consumer To Consumer - Người tiêu dùng với người tiêu dùng):
Là hình thức kinh doanh giữa những người tiêu dùng với nhau [5, tr. 44].
Phương thức giao dịch TMĐT diễn ra giữa các cá nhân người tiêu dùng
với nhau. Tuy nhiên, khác với TMĐT B2C hoặc B2B là những mô hình kinh

do việc thuế các showroom trưng bày các sản phẩm giảm nhờ TMĐT, chi phí
marketing, quảng bá thương hiệu hình ảnh cũng được giảm đáng kể. Có thể
thấy rõ hiệu quả của TMĐT trong của một số hãng sản xuất như Dell.com,
Ford Motor.com, General Motor, General Electrics. 19

- Hàng loạt các dịch vụ ngân hàng điện tử được hình thành và phát triển
mở ra cơ hội mới cho cả các ngân hàng và khách hàng: Internet banking là
việc ngân hàng tiến hành công tác thanh toán với khách hàng thông qua mạng
trực tuyến, giúp nâng cao tính hiệu quả trong giao dịch với ngân hàng do các
khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp hay tổ chức không phải đi đến ngân
hàng như trước đây mà có thể thực hiện các lệnh thu hay chi thông qua mạng
internet bằng việc sử dụng các tài khoản, mật khẩu đã được ngân hàng cung
cấp trước đó. Các loại thẻ tín dụng cũng có thể được thanh toán trực tuyến
đây là điểm khác biệt so với trước đây vì các thẻ tín dụng chỉ chủ yếu được
thanh toán tại các nhà hàng, khách sạn hay ngân hàng nơi có các máy quẹt thẻ
và chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng. Các loại thẻ thông minh ra đời cũng dần
nâng cao chất lượng thanh toán. Song song với các hình thức thanh toán trên
thì cũng xuất hiện hình thức thanh toán Mobile banking. Hình thức này giúp
những cá nhân hay tổ chức sử dụng điện thoại di động có thể tiến hành thanh
toán từ máy di động của mình. Ngoài ra các máy rút tiền tự động ATM của
các ngân hàng, các điểm kinh doanh thu tiền POS nối mạng của các doanh
nghiệp lớn cũng xuất hiện ngày càng nhiều, sử dụng mạng internet để kết nối
dữ liệu cũng ngày càng phát triển.
- Mô hình kinh doanh bảo hiểm cũng bị thay đổi bởi tác động của
TMĐT. Trước đây việc bán bảo hiểm được thực hiện thủ công, các nghiệp vụ
được diễn ra trực tiếp với người có nhu cầu mua bảo hiểm và các công ty bảo
hiểm. Trong giai đoạn này, uy tín, hình ảnh của các công ty bảo hiểm được

Để có cái nhìn chung nhất và dễ hiểu về loại hình mua bán qua mạng
này, sơ đồ dưới đây sẽ nói lên quy trình chung. Sau đây là tóm tắt bằng sơ đồ
mô hình quá trình mua và thanh toán qua trang web của khách hàng cũng như
tóm tắt quá trình bán hàng trên trang web của doanh nghiệp bằng sơ đồ sau: 21
Hình 1.1 Quy trình mua bán qua thương mại điện tử
+ có thể đặt
hàng hay (Chi tiết quy trình xem tại mục
1.2.4 Quy trình chọn hàng của khách)
+ Bước 2: Xác nhận khả năng thực hiện của đơn hàng bởi siêu thị. Nếu
sai thì hủy đơn hàng. Nếu đúng thì có thể yêu cầu khách hàng thanh toán đặt
cọc hoặc toàn bộ (Chi tiết quy trình thanh toán xem tại mục 1.2.2 Quy trình
thanh toán và xác nhận thông tin)
+ Bước 3: Chuẩn bị hàng hóa và tổ chức vận chuyển giao hàng cho
khách. Trong trường hợp có những thay đổi thì xác nhận lại với khách hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status