Tác động của chính sách cắt giảm thuế đối với ô tô xe máy khi thực hiện cam kết trong khối ASEAN - Pdf 24

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, nền kinh tế thế giới đã chuyển từ đối đầu
sang đối thoại. Từ đó đã dẫn tới hình thành các khu vực kinh tế, các liên minh kinh
tế, trong đó lớn nhất là tổ chức thương mại thế giới là ngôi nhà chung của thế giới.
Các nước khi tham gia vào các khu vực kinh tế, tổ chức kinh tế thì đều được hưởng
những ưu đãi của các nước thành viên dành cho nhau.
Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng quốc tế hoá toàn cầu đó,
năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN và gia nhập WTO vào năm 2007. Khi gia
nhập vào các tổ chức kinh tế, thương mại thì Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi
từ các quốc gia thành viên khác trong tổ chức ngược lại Việt Nam cũng phải có
những ưu đãi lại cho các quốc gia thành viên khác. Khi gia nhập vào các tổ chức
thương mại thì hàng hoá, vốn và lao động luân chuyển giữa các quốc gia dễ
dàng hơn. Một trong những bước đệm để luân chuyển hàng hoá, vốn, và lao
động là các rào cản thương mại và phi thương mại dần giảm xuống tiến tới xoá
bỏ. Trong rào cản thương mại thì tiêu biểu là thuế nhập khẩu, gia nhập vào tổ
chức kinh tế khu vực, thương mại thế giới thì thuế suất được cắt giảm theo lộ
trình cam kết. Khi thuế suất được cắt giảm thì có nhiều tác động khác nhau tới
chủ thể của nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp nhập khẩu, doanh nghiệp lắp
ráp sản xuất trong nước, chính phủ, và cuối cùng là người tiêu dùng.
Là một sinh viên chuyên ngành quản trị kinh doanh quốc tế em xin chọn
đề tài “Tác động của chính sách cắt giảm thuế đối với ô tô xe máy khi thực hiện
cam kết trong khối ASEAN.” Để thấy rõ ảnh hưởng của thuế nhập khẩu đối với
đối với các doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất ô tô trong nước.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : ngành ô tô Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu :
- Tác động của thuế nhập khẩu đối với ngành ô tô Việt Nam
1
- Thời gian nghiên cứu sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN
3. Phương pháp và kết cấu của đề án

5%, thay cho mức 10% hiện hành.
Các dòng xe du lịch loại dưới 9 chỗ ngồi có dung tích xi-lanh từ 1,0 trở
lên vẫn áp dụng thuế suất cũ 83% như đối với các nước nằm ngoài khối
ASEAN. Thuế suất này được giữ nguyên trong 3 năm 2008, 2009 và 2010. Đến
năm 2011-2012 thuế được giảm xuống còn 70% và đến năm 2013 chỉ còn 60%.
b. Đối với linh kiện và phụ tùng ô tô
Đối với các loại linh kiện phụ tùng ô tô nhập khẩu từ các nước ASEAN,
mức thuế mới áp dụng chung cho giai đoạn từ 2008 đến 2013 là 5% và thấp hơn
3
khoảng 5-10% so với các nước nằm ngoài khối. Các loại xe máy phân khối lớn
tạm thời vẫn giữ thuế suất 90% hiện hành. Mức thuế này sẽ được giảm xuống
75% vào 2012 và còn 60% vào năm 2013.
Đối với CEPT/AFTA mức cam kết là 5% tại thời điểm 1/1/2006 và cắt
giảm xuống 0% vào năm 2015. Đối với ASEAN –Trung Quốc mức cắt giảm còn
0% vào năm 2018.
2. Chính sách thuế của chính phủ đối với mặt hàng ô tô
Cùng với lộ trình gia nhập thì chính phủ Việt Nam phải thực hiện theo
cam kết lộ trình giảm thuế. Tuy nhiên tuỳ theo tình hình của nền kinh tế mà
chính phủ cũng có những điều chỉnh cho phù hợp. Điển hình năm 2008 được coi
là năm đầy biến động đối với mặt hàng ô tô :
Sau 3 lần điều chỉnh giảm vào năm ngoái, từ 90% xuống còn 60%, đem
tin vui đến cho thị trường ô tô trong nước, thì vào tháng 3 và tháng 4/2008, thuế
nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc đã tăng trở lại, từ 60% lên 70%, rồi 83%. Lý
do được đưa ra là nhằm giảm nhập siêu và tình trạng ùn tắc giao thông tại các
thành phố lớn.
Với ô tô cũ nhập khẩu, ngày 6/5/2008, Thủ tướng Chính phủ chính thức
đồng ý với yêu cầu điều cầu điều chủnh thuế của bộ tài chính như sau:
Bảng 1: Biểu thuế nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc
Mặt hàng
Thuế suất hiện hành

thành trong cả nước tạm thời áp dụng mức phí trước bạ chung là 10%, cho đến
khi UBND các tỉnh/thành căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương để ban
hành mức phí mới phù hợp, trong phạm vi 10-15%.
3 Tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian gần đây
Trong thời gian gần kinh tế của chúng ta được coi là nền kinh tế mới nổi
tốc độ tăng trưởng kinh tế của chúng ta cao và khá ổn định kể cả khi cuộc khủng
hoảng kinh tế đang diễn ra trên thế giới cụ thể là:

6
Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Năm 2005 2006 2007 2008
9 Tháng
đầu năm
2009
Tốc độ
tăng
trưởng
kinh tế %
8.4 8.3 8.48 6.23 4.59

Qua tốc độ tăng trưởng kinh tế tên chúng ta thấy nền kinh tế của chúng ta
không bị ảnh hưởng nhiều của cuộc khủng hoảng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao và khá ổn định trong thời gian qua giúp thu nhập của người dân tăng
lên và do đó đời sống của người dân cũng tăng, nhu cầu của người dân đối với
những hàng hoá xa xỉ trong đó có ô tô tăng lên. Điều này được thể hiện, trong
thời gian gần đây khi người dân có nhu cầu mua xe thì phải chớ tầm 3 đến 4
tháng mới có xe như thời điểm cuối năm 2008 hay thời điểm hiện tại tháng
9/2009 thì phải đầu năm sau mới có xe.
II. TÌNH HUỐNG “ TỐI HẬU THƯ CỦA TOYOTA”

Khả năng thứ 2 sẽ xảy ra khi chính sách của Nhà nước không xác định rõ
ưu tiên cho dòng xe chiến lược. Thị trường Việt Nam có quy mô nhỏ nhưng có
rất nhiều dòng xe, sản lượng và doanh số của từng dòng xe sẽ rất nhỏ và phân
tán, kết quả là không dòng xe nào đạt được số lượng đủ lớn cho việc NĐH để hạ
giá thành. Hệ quả là, trong thời gian ngắn từ nay đến 2018, các dòng xe sản xuất
trong nước không cạnh tranh nổi với xe nhập khẩu nguyên chiếc và Việt Nam
không những không phát triển được công nghiệp ô tô và công nghiệp phụ trợ mà
còn gia tăng thâm hụt thương mại (theo dự tính của Bộ Công Thương, kim
ngạch nhập khẩu ô tô năm 2025 có thể lên tới 12 tỷ USD).
8
Là nhà sản xuất, đương nhiên TMV muốn Chính phủ có chính sách ưu
tiên cho dòng xe chiến lược
Đâu là “xe chiến lược”?
(Ảnh: Việt Hưng)
TMV cho rằng dòng xe 6 - 9 chỗ là dòng xe chiến lược tại Việt Nam.
Ngoài các lý do dễ thấy như đây là dòng xe phù hợp cho gia đình; ít bị cạnh
tranh hơn so với xe 1 - 5 chỗ (hiện rất nhiều nước đã tập trung sản xuất xe 1 - 5
chỗ hoặc bán tải, chỉ riêng Indonesia tập trung cho dòng xe 6 - 9 chỗ); đã và
đang được ưu đãi về thuế (mức thuế thường thấp hơn so với dòng xe 1 - 5
chỗ)..., còn một lý do sâu xa hơn. Hiện nay, sản phẩm chủ lực chiếm tỷ trọng
cao nhất (65%) của TMV là dòng sản phẩm 6 - 9 chỗ: Innova. Đây cũng là sản
phẩm bán chạy nhất tại thị trường Việt Nam trong thời gian qua (15.000
xe/năm).
Đưa ra 3 yếu tố cơ bản để phát triển dòng xe chiến lược (phù hợp với thị
hiếu của khách hàng, có chính sách khuyến khích ổn định, lâu dài và có công
nghiệp phụ trợ đủ mạnh) TMV cũng ngầm chứng minh rằng, dòng xe như
Innova là phù hợp nhất để Chính phủ ưu tiên phát triển. Được biết, hiện Innova
có tỉ lệ NĐH cao nhất, đạt 37%. Nhà sản xuất này cũng đã xây dựng kế hoạch 4
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status