Bộ công thơng
văn phòng ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế
Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nớc
các giải pháp đổi mới cơ chế và tổ chức
điều phối liên ngành thúc đẩy thực
hiện các cam kết khi việt nam trở
thành thành viên WTO
(Báo cáo tổng hợp)
Chủ nhiệm đề tài: Lơng Văn Tự
Những ngời tham gia:
1. CN Nguyễn Sơn, Th ký đề tài
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Lịch
3. TS. Nguyễn Ngọc Vân
4. TS. Đặng Xuân Hoan
5. Ths. Hồ Trung Thanh
6. Ths. Nguyễn Khánh Ngọc
7. CN. Trần Hào Hùng
Hà Nội, 10/20091
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC SƠ ĐỒ 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: THỰC TRẠNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI CƠ CHẾ VÀ TỔ
CHỨC ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ SAU
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 17
diễn đàn kinh tế và chính trị quốc tế 54
1.4.5. Nâng cao năng lực hợp tác trong các tổ chức và diễn đàn kinh tế khu vực và toàn cầu 55
2
1.4.6. Yêu cầu tăng cường phối hợp giữa các ngành và giữa Trung ương với địa phương
song song với quá trình đẩy mạnh phân cấp quản lý 58
1.5. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 58
1.5.1. Về tổ chức bộ máy 59
1.5.2. Nhân lực và các cơ chế hoạt động hàng ngày của cơ quan điều phối liên bộ 65
1.5.3. Về các chức n
ăng của tổ chức điều phối 66
1.5.4. Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong việc điều phối liên ngành
trong HNKTQT 71
Chương 2: QUAN ĐIỂM, NỘI DUNG ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN CƠ CHẾ VÀ TỔ
CHỨC ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ SAU
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 73
2.1. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ĐỔI MỚ
I CƠ CHẾ VÀ TỔ CHỨC
ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ SAU KHI
VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 73
2.1.1. Những yếu tố quốc tế 73
2.1.2. Những yếu tố trong nước 84
2.1.3. Thuận lợi và khó khăn trong việc đổi mới cơ chế và tổ chức điều phối liên ngành
trong HNKTQT 88
2.2. QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI CƠ CHẾ VÀ TỔ CHỨC ĐIỀU PHỐ
I LIÊN NGÀNH
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 90
2.2.1. Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành trong HNKTQT phải quán triệt
các tư tưởng chỉ đạo tại các văn kiện của Đảng và Chính phủ 90
ạng trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách
HNKTQT 131
3.2.7. Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật 134
3.2.8. Tăng cường vai trò điều phối trong giải quyết bất đồng 135
3.2.9. Tranh thủ hỗ trợ quốc tế 135
3.2.10. Tổ chức tốt việc thực hiện các chương trình hành động hội nhập kinh tế quốc tế sau
khi Việt Nam gia nhập WTO 136
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 138
TÀI LIỆU THAM KH
ẢO 143 4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các mốc quan trọng trong hoạt động điều phối hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam 38
Bảng 2.1. Số lượng các FTA có hiệu lực theo năm 80
Bảng 3.1. Các giải pháp tăng cường năng lực hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi cam kết
WTO 100
Bảng 3.2. Kết quả điều tra khảo sát về mô hình tổ chức cơ quan
điều phối thực hiện tại
Đắc Lắc, Nha Trang, Tp. Hồ Chí Minh 117 DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. So sánh vị trí 4 mô hình điều phối liên ngành 24
trong bộ máy hành chính 24
Sơ đồ 1.2. Mô hình điều phối với Bộ đầu mối về hội nhập 28
Sơ đồ 1.3: Vị trí UBQG trong bộ máy hành chính 33
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á - Âu
CAFTA Central America Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Trung Mỹ
CEPT Common Effective Preferential
Tariff
Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu
lực chung
EC European Commission Uỷ ban châu Âu
EU European Union Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do
GATT General Agreement on Tariffs
and Trade
Hiệp định chung về thuế quan và mậu
dịch
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
NAFTA North American Free Trade Area Khu thương mại tự do Bắc Mỹ
OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
UNDP United Nations Development
Programme
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
WB World Bank Ngân hàng thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
6
2. Danh mục cụm từ viết tắt tiếng Việt
ĐPLN Điều phối liên ngành
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
việc thành lập đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế - thương mại quốc tế.
Trong các năm 1999, 2000, nhằm đáp ứng kịp thời đòi hỏi ngày càng
cao của công tác hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam, khi tiế
n
trình HNKTQT của nước ta ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu với
những công việc hết sức cụ thể, đòi hỏi phải tăng cường tính tích cực và chủ
động trong HNKTQT; nhận thức rõ tầm quan trọng của một cơ chế điều phối
liên ngành trong HNKTQT, Bộ Chính trị đã ra Nghị Quyết 07/NQ-TW ngày
27/11/2001 về HNKTQT và Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động
thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TW vớ
i chủ trương chỉ đạo kiện toàn UBQG về
HTKTQT có đầy đủ thẩm quyền và năng lực chỉ đạo, điều phối hoạt động của
các Bộ, ngành và địa phương về công tác hội nhập kinh tế quốc tế. Theo tinh
thần đó, ngày 6/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
70/2002/QĐ-TTg về việc kiện toàn Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc t
ế.
Nhờ sự chỉ đạo sát sao của của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ giữa các
bộ ngành, địa phương trong đàm phán và thực hiện các cam kết hội nhập kinh
8
tế quốc tế mà Việt Nam đã hội nhập thành công trong những năm qua: gia nhập
ASEAN và thực hiện tốt cam kết trong CEPT/AFTA, tham gia APEC, ASEM,
đặc biệt là tổ chức thành công hội nghị các nhà lãnh đạo APEC tháng 11/2006;
ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (2001) và thực hiện tốt các
cam kết của hiệp định; Ký kết nhiều hiệp định khu vực và song phương như
ACFTA, ASEAN+, Hiệp định thương mại Việt Nam - EU
Đặc biệt, Việt
Nam đã rất thành công trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Việc gia nhập
tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này trải qua 11 năm đàm phán là nỗ lực
của tất cả các cơ quan Đảng, chính phủ, các địa phương, các doanh nghiệp và
9
Thực hiện các cam kết WTO là một công việc khó khăn, đặt ra nhiều cơ
hội cũng như nhiều thách thức và có phạm vi tác động tới tất cả các lĩnh vực
của nền kinh tế. Do đó cần có sự đồng thuận, nhất trí và nỗ lực cao của tất cả
các cấp, các ngành, các giới. Trước hết đây là trách nhiệm của Chính phủ, các
bộ ngành, địa phương và cộng
đồng doanh nghiệp. Chương trình hành động
của Chính phủ thực hiện nghị quyết TW 4 đã cụ thể hoá các công việc với phân
công trách nhiệm cụ thể của từng bộ ngành. Trong đó, Chính phủ đã nhấn
mạnh vai trò phối hợp để tạo sự thống nhất từ trung ương tới địa phương, giữa
các ngành nhằm phát huy tối đa nội và ngoại lực để tận dụng các cơ
hội WTO
vì mục tiêu phát triển.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, UBQG về HTKTQT, với tư cách là
cơ quan giúp Chính phủ điều phối các hoạt động kinh tế quốc tế thấy cần thiết
phải nghiên cứu để đưa ra cơ sở khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện cơ
chế phối hợp trong HNKTQT của Việt Nam; đánh giá thực trạng cơ chế và tổ
chức hiện hành,
đặc biệt là vai trò điều phối liên ngành của UBQG về
HTKTQT; đề xuất quan điểm, nội dung, mô hình và giải pháp đổi mới và hoàn
thiện cơ chế tổ chức điều phối liên ngành trong HNKTQT.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Ngoài nước:
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần thành công trong đàm
phán gia nhập WTO và thực hiện hiện quả các cam kết của tổ chức này là vấ
n
đề xây dựng cơ chế và tổ chức điều phối giữa các cơ quan của Chính phủ.
Chính vì vậy, vấn đề này đã được các học giả rất quan tâm. Trong những năm
qua, (trước khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO), đã có một
quy định của WTO. Các tác giả cũng đã viện dẫn thực tế
của một số nước trong
việc phối hợp chính sách để đạt được kết quả trong thực hiện các cam kết của
WTO. Nghiên cứu này còn gợi mở hướng xây dựng và phối hợp chính sách
trong thực hiện các cam kết của WTO đối với các lĩnh vực như cam kết về tiếp
cận thị trường, về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ…, cũng như m
ột số vấn
đề mang tính kỹ thuật như chống bán phá giá, tự vệ,…
- Nghiên cứu của Uỷ ban thương mại quốc gia Thuỵ Điển “Tác động của
các Hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển” (Được UBQG về
HTKTQT dịch ra tiếng Việt năm 2005) là một công trình nghiên cứu rất công
phu về tác động của các Hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển. Trên
c
ơ sở phân tích các tác động của việc thực hiện các Hiệp định gia nhập WTO
đối với các quốc gia mới gia nhập, viện dẫn kinh nghiệm thực hiện chúng của
các nước thành công và không thành công, công trình nghiên cứu đã đưa ra các
khuyến nghị cho các nước mới gia nhập làm thế nào để tận dụng được cơ hội
và tránh được những rủi ro khi thực hiện các cam kết quốc tế. Mặc dù công
trình này không trực tiếp
đề cập đến vấn đề cơ chế và tổ chức điều phối trong
đàm phán và thực hiện các cam kết gia nhập WTO nhưng đã có khuyến nghị
quan trọng là để tận dụng được cơ hội và giảm thiểu rủi ro của việc gia nhập
WTO các nước đang phát triển cần phải xây dựng thể chế có chất lượng cao,
cải cách liên tục và triệt để, phối h
ợp chính sách và có được sự đồng thuận xã
hội. Đây là những gợi mở quan trọng để xây dựng cơ chế và tổ chức điều phối
trong đàm phán và thực hiện cam kết quốc tế nói chung và WTO nói riêng. 11
Chương trình hành động của Chính phủ thự
c hiện Nghị Quyết TW 4.
Bên cạnh những chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ về việc nâng
cao năng lực điều phối liên ngành trong hội nhập kinh tế quốc tế, ở Việt Nam
đã có một số nghiên cứu về lĩnh vực này. Cụ thể:
- Nghiên cứu của UBQG về HTKTQT (2005) với tiêu đề “Đánh giá hạn
chế về năng lực của các Bộ/ngành trong hộ
i nhập kinh tế quốc tế” do UNDP
tài trợ, đã chỉ ra những mặt mạnh và hạn chế của các bộ ngành trong hội nhập
KTQT, đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực của các cơ quan này trong
HNKTQT.
12
- Nghiên cứu của UBQG về HTKTQT (2002) phân tích các nội dung
của Chương trình Nghị sự đàm phán mới của WTO (Vòng Doha), quan điểm
của các nước thành viên và tác động của Vòng đàm phán mới tới tiến trình gia
nhập WTO của Việt Nam.
- Nghiên cứu của Nhóm Hỗ trợ Kỹ thuật cho Đoàn đàm phán Chính phủ
về Kinh tế - Thương mại quốc tế và Văn phòng UBQG (2003) phân tích các
quy định đối xử đặc biệt và khác biệ
t dành cho các nước đang phát triển và các
nền kinh tế chuyển đổi trong WTO. Nghiên cứu đã phân tích giá trị pháp lý và
thực tiễn của các quy định này cũng như khả năng vận dụng của Việt Nam, từ
đó vận dụng để xây dựng cơ sở lập luận cho công tác đàm phán gia nhập WTO
của Việt Nam.
- Nghiên cứu của Hội đồng lý luận Trung ương và tập thể tác giả của Bộ
Công Thươ
ng với nhan đề “Khi Việt Nam đã vào WTO” (Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2007) đã đánh giá vai trò của WTO trong 10 năm (1995-2005), cơ
hội và thách thức của các nước đang phát triển, những bài học thành công và
chấp thương mại, các biện pháp tự vệ,… Các nghiên cứu trên cũng đề cập đến
vấn đề đàm phán và các xử lý trong đàm phán ở một số vấn đề nhạy cảm như
bảo hộ trong nông nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp non trẻ, sở hữu trí
tuệ,…
- Về kinh nghiệm thực hiện các cam kết gia nhập WTO: Đây cũng là một
m
ảng nghiên cứu lớn ở Việt Nam trong những năm qua. Các nghiên cứu tập
trung chủ yếu vào kinh nghiệm đàm phán gia nhập và thực hiện các cam kết
của Trung Quốc, Đài Loan. Một số nghiên cứu tiêu biểu bao gồm: Võ Đại
Lược (2004), Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới: Thời cơ và
thách thức; Võ Đại Lược (2003), Trung Quốc gia nhập WTO và những tác
động đối với các lĩnh v
ực kinh tế, xã hội; UBQG về HTKTQT (2005), Các văn
bản pháp quy và cơ chế chính sách của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO;
Viện nghiên cứu Trung Quốc(2005), Trung Quốc gia nhập WTO: thành tựu và
những vấn đề; Viện nghiên cứu Trung Quốc (2006), Đài Loan trước và sau khi
gia nhập WTO: kinh nghiệm cho Việt Nam; Viện quản lý kinh tế Trung ương
và UNDP (2004), Chính sách phát triển kinh tế: kinh nghiệm và bài học của
Trung Quốc; Đỗ Kim Chi (2004): “Tác động của việc Trung Quốc gia nh
ập
WTO đối với cạnh tranh của một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam”… Các
nghiên cứu này tập trung vào phân tích các cơ hội và thách thức của Trung
Quốc sau khi gia nhập WTO, những thành tựu Trung Quốc đạt được và những
vấn đề cần xử lý sau khi gia nhập WTO và rút ra những bài học cho Việt Nam.
Các nghiên cứu này cung cấp những kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá
trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO như kinh nghiệm về sửa
đổi hệ
thống pháp luật, cắt giảm thuế quan và phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch
vụ, đặc biệt là thị trường tài chính và phân phối, các biện pháp tự vệ và giải
quyết tranh chấp, xử lý các vấn đề như phá sản doanh nghiệp, bất bình đẳng
khá công phu, sử dụng các phương pháp hiện đại có sức thuyết phục, tư
liệu
phong phú.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên
sâu nào về cơ chế và tổ chức điều phối liên ngành trong hội nhập kinh tế quốc
tế dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn. Chưa có nghiên cứu nào tổng kết một
cách đầy đủ về cơ chế và tổ chức điều phối liên ngành trong HNKTQT. Hiện
nay, đổi mới và hoàn thiện c
ơ chế và tổ chức điều phối liên ngành thúc đẩy
thực hiện các cam kết gia nhập WTO và đàm phán hội nhập kinh tế quốc tế sau
khi Việt Nam là thành viên của tổ chức này là một nhiệm vụ được Đảng và
Chính phủ rất quan tâm . Nghiện cứu này sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc
đổi mới và hoàn thiện cơ chế phối hợp trong HNKTQT của Việt Nam; đánh giá
thực trạ
ng cơ chế và tổ chức hiện hành, đặc biệt là vai trò điều phối liên ngành
của UBQG về HTKTQT; đề xuất quan điểm, nội dung, nguyên tắc và giải pháp
đổi mới và hoàn thiện cơ chế tổ chức điều phối liên ngành trong HNKTQT nói
chung và thực hiện các cam kết gia nhập WTO nói riêng. 15
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của các giải pháp về cơ chế và
tổ chức điều phối liên ngành trong hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam
gia nhập WTO;
- Làm rõ quan điểm, nội dung đổi mới và hoàn thiện cơ chế và tổ chức
điều phối liên ngành trong hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập
WTO;
-
Đề xuất các giải pháp đổi mới và hoàn thiện cơ chế và tổ chức điều
u phối, thực tiễn công
tác điều phối ở nước ta trong thời gian quan, đề tài xây dựng các mô hình và
các giải pháp hoàn thiện tổ chức và cơ chế điều phối liên ngành hội nhập kinh
tế quốc tế ở nước ta trong 10 năm tới.
6. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để thu thập các tài liệu
liên quan đến chủ đề nghiên như kinh nghiệm quốc t
ế, các chính sách của Đảng
và Chính phủ, các số liệu, tài liệu thống kê.
- Phương pháp phân tích, so sánh đối chứng được sử dụng để lựa chọn
mô hình tổ chức điều phối liên ngành phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
- Phương pháp mô hình hóa để xây dựng các mô hình tổ chức điều phối
liên ngành, trên cơ sở đó lựa chọn mô hình phù hợp.
- Phương pháp khảo sát th
ực tế trong nước và ngoài nước để tham khảo
các mô hình tổ chức, lấy ý kiến các chuyên gia về hội nhập kinh tế quốc tế để
khẳng định về mô hình tổ chức và điều phối.
- Sử dụng kỹ thuật tin học để quản lý dữ liệu, xây dựng mô hình điều phối.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài li
ệu tham khảo, đề tài được bố cục
thành 3 chương như sau:
Chương 1
: Thực trạng và sự cần thiết phải đổi mới cơ chế và tổ chức điều
phối liên ngành trong hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Chương 2
: Quan điểm, nội dung đổi mới, hoàn thiện cơ chế và tổ chức
điều phối liên ngành trong hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập
WTO.
Chương 3
cơ bản cấu thành chính sách đối ngoại của hầu hết các quốc gia. Bên cạnh đó,
cùng với sự phát triển của khái niệm thương mại hiện đại, hội nhập kinh tế
cũng mở rộng ảnh hưởng sang các lĩnh vực kinh t
ế, văn hoá, môi trường, y tế,
giáo dục, an sinh xã hội… Do đó, bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế là
hoạt động đối ngoại mang tính chất đại diện quốc gia và có phạm vi ảnh
hướng tới mọi lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội. Chính các thuộc tính cơ bản
này của hội nhập kinh tế quốc tế đã xác định sự cần thiết phả
i thiết lập các cơ
chế quản lý nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của quốc gia
trong hội nhập kinh tế quốc tế. 18
1.1.1. Tính chất đa ngành, đa lĩnh vực của các cam kết HNKTQT
Thực tiễn toàn cầu hóa cho thấy cùng với sự hội nhập sâu sắc giữa các
nền kinh tế, thương mại quốc tế ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang
các lĩnh vực khác và mức độ phức tạp của các vấn đề thương mại cũng ngày
càng tăng. Đơn cử việc đàm phán mở cửa th
ị trường giờ đây không chỉ còn
đơn thuần liên quan tới thuế mà đã mở rộng sang cả cấp phép, chứng nhận
xuất xứ, kiểm dịch, tiêu chuẩn, môi trường, lao động… Không một quốc gia
nào có thể có một cơ quan đủ bao trùm tất cả các lĩnh vực này. Công tác
hoạch định chính sách và triển khai thực thi, do đó, chỉ có thể được thực hiện
thông qua một cơ chế điều phố
i được tổ chức dưới hình thức này hay hình
thức khác, tùy theo đặc điểm tổ chức bộ máy hành chính của quốc gia đó.
Tính tất yếu khách quan của việc điều phối liên ngành trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế được xác định bởi tính chất liên ngành, đa lĩnh vực
của các cam kết hội nhập KTQT. Thực tế cho thấy, đàm phán gia nhập và
Với chính sách ngoại giao rộng mở “Việt Nam muốn làm bạn với tất
cả các nước”, chúng ta đã xác định cho mình một đường lối đối ngoại linh
hoạt với mục tiêu tận dụng mọi cơ hội, mọi nguồn lực trong và ngoài nước
cho phát triển. Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi phải có sự đ
iều hòa chính
sách để đảm bảo tính thống nhất của chính sách đối ngoại, sự cân bằng trong
quan hệ với các nhóm nước cũng như hài hòa giữa các lĩnh vực: chính trị,
quân sự, kinh tế, văn hóa…
Mục tiêu của mọi quốc gia trong hội nhập kinh tế là mong muốn đạt
được lợi ích tối đa trong quá trình đàm phán. Chẳng hạn, trong đàm phán gia
nhập WTO, nước xin gia nhập phải tiến hành đàm phán đa phươ
ng và song
phương với các thành viên có yêu cầu về các lĩnh vực như thương mại hàng
hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ Thực tế cho thấy, nhiều nước phải trải qua nhiều
vòng đàm phán, mất nhiều năm, chẳng hạn, Trung Quốc là 14 năm, Việt Nam
hơn 11 năm và hiện nay, Cộng hoà Liên bang Nga bắt đầu từ năm 1999
nhưng đến nay vẫn chưa kết thúc đàm phán. Sau khi được công nhận là thành
viên c
ủa WTO, nước xin gia nhập phải cam kết thực hiện đầy đủ các cam kết.
WTO có cơ chế kiểm tra việc thực hiện các cam kết của các nước thành viên.
Trường hợp nước gia nhập không thực hiện đầy đủ các cam kết sẽ bị trừng
phạt trả đũa thương mại.Riêng Trung Quốc, khi gia nhập WTO phải chấp
nhận việc thành lập Uỷ ban giám sát việc thực thi các cam kết. Việt Nam đ
ã
gửi đơn xin gia nhập WTO từ năm 1995, trải qua 14 phiên đàm phán đa
phương và 200 phiên đàm phán song phương với 28 nước thành viên của
WTO có yêu cầu đàm phán. Ngày 7/11/2006, Việt Nam được kết nạp vào
WTO và ngày 11/1/2007 chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương
mại Thế giới, sau hơn 11 năm đàm phán.
Tuy nhiên, gia nhập WTO chỉ là bước khởi đầu cho việc tham gia thực
quan và phi thuế quan, các thủ tục hạn chế đầu tư và thực hiện bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ. Điều này, trước mắt, sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các nhóm xã
hội bao gồm cả người sản xuất và người tiêu dùng. Các nước đều cố gắng
cam kết ở mức độ an toàn cao nhất có thể nhằm kéo dài thời gian và cơ h
ội
bảo vệ được lợi ích của các ngành sản xuất trong nước. Đặc biệt, những nước
có nền kinh tế tập trung trước đây như Việt Nam và Trung Quốc đều muốn
kéo dài lộ trình cắt giảm để bảo hộ sản xuất trong nước, tránh xảy ra sự phá
sản của các doanh nghiệp do phải cạnh tranh với hàng hoá và dịch vụ nước
ngoài. Chẳng hạn, trong lĩnh vực dịch v
ụ, các nước đều muốn duy trì mức độ
bảo hộ nhất định đối với những lĩnh vực nhạy cảm như phân phối, ngân hàng,
bảo hiểm Tuy nhiên, với mục tiêu tối cao là tự do hóa thương mại, bảo hộ
trong WTO luôn phải được hiểu là bảo hộ có thời hạn và có điều kiện. Chính
vì vậy cần phải có chính sách điều tiết để cân đối giữa các ngành, chấ
p nhận
hy sinh một số ngành vì lợi ích trong những lĩnh vực khác.
Để đảm bảo lợi ích chung của cả nền kinh tế, nhất là lợi ích dài hạn,
cần thiết phải có sự điều phối liên ngành trên cơ sở tính toán lợi ích tổng thể
và dài hạn. Việc điều phối liên ngành sẽ giúp cho Chính phủ có chương trình
mở cửa hợp lý, cân đối lợi ích giữa các ngành và các nhóm xã hội, từ đó có
biệ
n pháp để hạn chế những rủi ro trong quá trình thực hiện các cam kết hội
nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra, chỉ trên cơ sở một cơ chế điều phối chính sách
tầm quốc gia hiệu quả mới có thể huy động nguồn lực và triển khai các chính
21
sách an sinh – xã hội, đảm bảo sự ổn định đời sống cho các đối tượng dễ bị
tác động tiêu cực từ các cam kết mở cửa thị trường: nông dân, người lao động
phổ thông, lao động tại các doanh nghiệp bị cạnh tranh khi mở cửa…
ệc đòi hỏi
kiến thức chuyên môn cụ thể trong từng lĩnh vực hội nhập mà việc thảo luận
đòi hỏi phải có các kiến thức sâu về các hiệp định, điều khoản và hoạt động
thực tiễn về lĩnh vực hội nhập. Hiện còn có những cách nhìn nhận đánh giá
khác nhau về cơ quan điều phối cấp kỹ thuật ở Việt Nam. Tuy nhiên, v
ề cơ
bản công việc này đang được chia sẻ giữa Văn phòng UBQG-HTKTQT và
Vụ Đa biên, Bộ Công Thương.
22
Về cơ bản, các chức năng của cơ quan điều phối về hội nhập kinh tế
bao gồm:
- Phổ biến thông tin nội bộ, bao gồm việc tập hợp, phân tích và xử lý
thông tin; luân chuyển tới các cơ quan liên quan và báo cáo, cập nhật tình
hình cho cấp điều phối chính trị.
- Chuẩn bị phương án đàm phán. Thực hiện chức năng đầu mối xây
dựng nội dung và k
ế hoạch tổ chức, triển khai các vòng đàm phán thương
mại.
- Tổ chức thực thi các hiệp định bao gồm đôn đốc việc ban hành văn
bản, triển khai các công tác kỹ thuật để đưa các hiệp định đã được ký kết vào
thực thi; tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động và đề xuất các giải pháp thực
thi hiệu quả các cam kết quốc tế.
- Đảm bảo sự phố
i hợp hài hoà giữa các cấp, các ngành, lĩnh vực và các
cơ quan, giới doanh nghiệp trong quá trình xây dựng và triển khai thực thi
chính sách hội nhập thông qua các cơ chế trao đổi thông tin, tham vấn,
- Tổ chức chuẩn bị nguồn lực đáp ứng các yêu cầu trong từng giai đoạn
của hội nhập, bao gồm các chuyên gia đàm phán, chuyên gia pháp lý, chuyên
gia trong các lĩnh vực thương mại quốc tế, đội ngũ các nhà nghiên cứu hỗ trợ
trong các vấn đề thương mại quốc tế. Đồng thời với tổ chức bộ máy quy mô,
chuyên nghiệp cơ quan này sẽ có mặt trong hầu hết các cơ chế tham vấn quốc
gia về các vấn đề thương mại quốc tế.
Có thể đưa ra 4 loại hình tổ chức cơ b
ản cho điều phối liên ngành
HNKTQT sau đây:
• Mô hình tập trung (Vị trí A trên sơ đồ)
• Mô hình trung gian (Vị trí B trên sơ đồ)
• Mô hình bộ đầu mối (Vị trí C trên sơ đồ)
• Mô hình cơ quan chuyên trách (Vị trí D trên sơ đồ)