KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
H•I
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ
VÀ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN GIAO HỒ SƠ
CUỘC KIỂM TOÁN CÓ DẤU HIỆU TỘI PHẠM
CHO CƠ QUAN CHỨC NĂNG XỬ LÝ
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đặng Văn Hải
7547
02/11/2009
Hà Nội, 2009
1
Mục lục
Trang
5
8
8
8
8
8
14
18
19
20
21 24
24
25 26
ti phm vi c quan iu tra c quan tip nhn thụng tin v cú trỏch
nhim chng minh ti phm.
26 28 29
31
31 31
32
32
3.3.1. T chc tp hu
n chuyờn sõu v Lut kim toỏn nh nc,
Lut phũng, chng tham nhng v cỏc vn bn phỏp lut cú liờn quan
cho i ng cỏn b, cụng chc Kim toỏn Nh nc
3.3.2. Thụng qua kim toỏn phỏt hin kp thi v kiên quyết kin
ngh x lý cỏc hnh vi vi phm phỏp lut, tham nhng, lãng phí
3.3.3. Tăng cờng công tác kiểm tra, kiểm soát chất lợng kiểm
toán và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên
33
33
33
36 42
45
45
46
46
51 5
PHN M U
1. Tính cấp thiết ca ti
Kiểm toán Nhà nớc (KTNN) với vị thế cơ quan chuyên môn do Quốc hội
thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, cú vai trũ v trỏch nhim
to ln trong u tranh phũng, chng ti phm, mà trc tip l ti phm tham
nhng. Vai trò và trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nớc nói chung và trong
phòng, chống tham nhũng nói riêng trớc hết đợc khẳng định tại Điều 3 Luật
kiểm toán nhà nớc quy định về mục đích kiểm toán: Hoạt động kiểm toán nhà
nớc phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nớc trong quản lý, sử dụng ngân
2. Mục ớch nghiên cứu ca đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về tội phạm, đặc biệt là tội phạm
tham nhũng; vai trò và trách nhiệm của KTNN, của các cơ quan chức năng trong
phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm đợc phát hiện qua hoạt
động kiểm toán; những quy định của pháp luật về việc chuyển giao hồ sơ vụ việc
có dấu hiệu tội phạm cho các cơ quan chức năng xử lý.
- Đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế và phơng thức chuyển giao hồ sơ
vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho các cơ quan chức năng xử lý;
- Đề xuất phơng hớng, giải pháp hoàn thiện cơ chế và phơng thức
chuyển giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- ối tợng nghiên cứu của đề tài là việc lập và chuyển giao hồ sơ vụ việc
có dấu hiệu tội phạm cho các cơ quan chức năng xử lý.
- Phạm vi đề tài nghiên cứu cơ chế và phơng thức chuyển giao hồ sơ vụ
việc có dấu hiệu tội phạm, ch yu l tham nhng phát hiện trong hoạt động
kiểm toán của KTNN cho các cơ quan chức năng xử lý.
4. Phơng pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
các ph
ơng pháp nghiên cứu cụ thể nh: phơng pháp tổng hợp, so sánh, phân
tích, khảo sát, thống kê, hệ thống hoá
7
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài đợc trình bày thành 2 chơng:
Chơng I: C s lý lun v thc tin ca vic hon thin c ch v
HON THIN C CH V PHNG THC CHUYN GIAO
H S CUC KIM TON Cể DU HIU TI PHM
CHO C QUAN CHC NNG X Lí
1.1. Đặc điểm tội phạm phát hiện trong hoạt động kiểm toán và vai
trò của Kim toỏn Nh nc, của các cơ quan chức năng trong phát hiện,
điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm đợc phát hiện qua hoạt
động kiểm toán
1.1.1. Khỏi nim ti phm và các du hiệu của tội phạm
1.1.1.1. Khỏi nim ti phm
Theo quy định tại i
u 8 Bộ luật hình sự nc Cng ho XHCN Vit
Nam nm 1999: Ti phm l hnh vi nguy him cho xó hi c quy nh
trong Bộ luật hình sự, do ngi cú nng lc trỏch nhim hỡnh s thc hin mt
cỏch c ý hoc vụ ý, xõm phm c lp, ch quyn, thng nht ton vn lónh th
T quc, xõm phm ch chớnh tr, ch kinh t, nn vn hoỏ, quc phũng,
an ninh, trt t an ton xó hi, quyn, l
i ớch hp phỏp ca t chc, xõm phm
tớnh mng, sc kho, danh d, nhõn phm, t do, ti sn, cỏc quyn, li ớch hp
phỏp khỏc ca cụng dõn, xõm phm nhng lnh vc khỏc ca trt t phỏp lut
XHCN.
nh ngha ti phm trờn õy l nh ngha cú tớnh khoa hc th hin tp
trung nht quan im ca Nh nc ta v ti phm. nh ngha ny khụng
nhng l c s
cho vic nhn thc ỳng n v ti phm m cũn l c s ỏp
dng ỳng n nhng iu lut quy nh v tng ti phm c th.
1.1.1.2. Cỏc du hiệu ca ti phm
Du hiu ca ti phm l nhng quy nh ca phỏp lut nhm phõn bit
gia hnh vi b coi l ti phm vi nhng hnh vi khụng ph
i l ti phm. Theo
phép làm sáng rõ tính giai cấp trong quan niệm về tội phạ
m và qua đó cũng cho
phép khẳng định thêm tính giai cấp của luật hình sự nói riêng cũng như của pháp
luật nói chung.
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không những là căn cứ để phân
biệt hành vi là tội phạm với những hành vi vi phạm khác mà còn là cơ sở để
đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội và qua đó giúp
cho việc cá thể hoá trách nhiệm hình sự được chính xác.
10
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật. Với ý nghĩa là thuộc tính khách
quan của tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn có thể được con người
nhận thức và nhận thức đúng. Do vậy, khi khẳng định hành vi nhất định là hành
vi nguy hiểm cho xã hội thì không có nghĩa đó là sự áp đặt theo ý muốn chủ
quan của con người mà đó chỉ là sự xác nhận thự
c tế khách nhau của hành vi
hoặc có liên quan đến hành vi. Những tình tiết đó, trước hết phải kể đến là:
- Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại;
- Tính chất của hành vi khách quan, trong đó bao gồm cả tính chất của
phương pháp, thủ đoạn, của công cụ và phương tiện phạm tội;
- Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe doạ gây ra cho quan hệ xã hội bị xâm
hại;
- Tính chấ
t và mức độ lỗi;
- Động cơ, mục đích của người có hành vi phạm tội;
- Hoàn cảnh chính trị - xã hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra;
- Nhân thân của người có hành vi phạm tội;
- Những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự khác.
Những tình tiết trên đây không những có ý nghĩa đối với người áp dụng
cải tạo này chỉ có thể đạt được nếu hình phạt được áp dụng cho người có lỗi. Đối
với người không có lỗi, hình phạt không thể phát huy được tác dụng giáo dục,
cải tạo.
c. Tính trái pháp luật hình sự
Theo Điều 8 Bé luËt h×nh sù của nươc Cộng hoà XHCN Việt Nam, hành
vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể b
ị coi là tội phạm nếu “… được quy định
trong Bộ luật hình sự…”. Như vậy, tính được quy định trong luật hình sự hay
tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu đòi hỏi phải có ở hành vi bị coi là tội
phạm. Việc quy định này là sự thừa nhận nguyên tắc đã được ghi nhận trong
Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc: “không ai bị kết án
vì một hành vi mà lúc họ thực hiện lu
ật pháp quốc gia hay quốc tế không coi là
tội phạm” (khoản 2 Điều 1). Trong sự thống nhất với việc xóa bỏ nguyên tắc
tương tự và cấm hồi tố, việc khẳng định tính trái pháp luật hình sự của tội phạm
là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế XHCN.
Trong Bé luËt h×nh sù, tính trái pháp luật hình sự không những chỉ được
thể hiện ở Điều 8 mà còn được th
ể hiện ở Điều 2 và Điều 7. Điều 2 Bé luËt h×nh
sù quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bé luËt h×nh sù quy định mới
phải chịu trách nhiệm hình sự ”. Khoản 2 Điều 7 quy định: “Điều luật quy định
một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc
12
hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt,
giảm tình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm
tội, thì không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật
đó có hiệu lực thi hành”.
Việc quy định tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm không
những là cơ sở đảm bảo cho đường lối
hiểm cho xã hội và về hình thức, có tính trái pháp luật hình sự chứ không phải vì
nó có tính chịu hình phạt. Ngược lại, hành vi sở dĩ có tính chịu hình phạt, vì là
tội phạm – vì nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật hình sự. Như vậy, tính phải
chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái
pháp luật hình sự. Tính chất này không những chỉ thể hi
ện ở chỗ chỉ hành vi
phạm tội mới phải chịu hình phạt trong từng trường hợp phạm tội cụ thể. Tính
nguy hiểm cho xã hội vừa là cơ sở của việc phân hoá tính chịu hình phạt trong
luật vừa là cơ sở để cá thể hoá hình phạt trong thực tiễn áp dụng luật hình sự.
Tính chịu hình phạt được coi là dấu hiệu của tội phạm vì nó được xác định bở
i
chính những thuộc tính khách quan bên trong của tội phạm. Chỉ có hành vi
phạm tội mới phải chịu biện pháp trách nhiệm là hình phạt; không có tội phạm
thì cũng không có hình phạt.
Nói tội phạm có tính chịu hình phạt có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội
nào, do tính nguy hiểm cho xã hội cũng đều bị đe dọa phải chịu hình phạt là biện
pháp cưỡng chế nhà nước có tính nghiêm khắc nhất trong hệ thông những biện
pháp cưỡ
ng chế nhà nước. Nhưng điều đó không có nghĩa là việc áp dụng và thi
hành trong thực tế hình phạt cụ thể là có tính chất bắt buộc tuyệt đối cho mọi
trường hợp phạm tội. Trong thực tế vẫn có trường hợp người phạm tội không
phải chịu hình phạt. Đó là những trường hợp có tội nhưng được miễn trách
nhiệm hình sự, được miễn hình phạt ho
ặc được miễn chấp hành hình phạt.
Vì có những trường hợp như vậy nên có ý kiến cho rằng không nên coi
tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu của tội phạm. Quan niệm như vậy là không
thấy được mối liên hệ giữa tội phạm và hình phạt. Trong các hành vi của con
người, chỉ có tội phạm là hành vi có thể áp dụng hình phạt. Có thể có tội mà
không phải chịu hình phạt nhưng không thể áp dụng hình phạt khi không có t
ội.
1. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở
trung ơng.
2. Cơ quan đợc giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nớc các cấp.
3. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan khác ở địa
phơng.
4. Đơn vị thuộc lực lợng vũ trang nhân dân.
5. Đơn vị quản lý quỹ dự trữ của Nhà nớc, quỹ dự trữ của các ngành, các
cấp, quỹ tài chính khác của Nhà nớc.
15
6. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nớc.
7. Đơn vị sự nghiệp đợc ngân sách nhà nớc bảo đảm một phần hoặc
toàn bộ kinh phí.
8. Tổ chức quản lý tài sản quốc gia.
9. Ban Quản lý dự án đầu t có nguồn kinh phí ngân sách nhà nớc hoặc
có nguồn gốc từ ngân sách nhà nớc.
10. Hội, liên hiệp hội, tổng hội và các tổ chức khác đợc ngân sách nhà
nớc hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động.
11. Doanh nghiệp nhà nớc.
12. Ngoài cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản từ khoản 1 đến
khoản 11 Điều này, đơn vị nhận trợ giá, trợ cấp của Nhà nớc, đơn vị có công nợ
đợc Nhà nớc bảo lãnh mà không phải là doanh nghiệp nhà nớc có thể thuê
doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán; doanh nghiệp kiểm toán phải thực
hiện việc kiểm toán theo chuẩn mực, quy trình kiểm toán nhà nớc và gửi báo
cáo kiểm toán cho Kiểm toán Nhà nớc.
Nh vậy, đơn vị đợc kiểm toán là các cơ quan, đơn vị, tổ chức có quản lý,
sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nớc. Từ thực tiễn kiểm toán những năm
qua cho thấy còn nhiều sai phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài
sản nhà nớc. Tính đến hết năm 2006, KTNN đã kiến nghị tăng thu, giảm chi,
ồn vốn hợp
pháp khác của đơn vị để hoàn trả, đảm bảo sử dụng đúng qui định Khoản này
chiếm gần 140 tỉ đồng.
Loại thứ tư “giảm chi khác” chiếm 550 tỉ đồng. Ở đây có cả sai phạm và
cả do cơ chế, qui định bất cập, như chi vượt tổng mức đầu tư, chi ngoài dự
toán
Loại cuối cùng và đáng quan tâm nhấ
t là “sai chế độ, phải thu hồi nộp
ngân sách”. Khoản này là 140 tỉ đồng, trong đó có cả chi thường xuyên và chi
xây dựng cơ bản Sau khoản thu, khoản chi là khoản phải ghi thu - ghi chi quản
lý qua ngân sách nhà nước, đã thu rồi nhưng “cất giữ” không đúng qui định gồm
1.350 tỉ đồng. Đó là học phí, viện phí, phí giao thông , các lệ phí đã thu nhưng
17
cha c np vo kho bc. Thờm gn 300 t ng l cỏc khon tin tm gi do
thu np pht, chng buụn lu hin ang ti kho bc nhng cha c x lý
theo ỳng qui nh.
Phn cui cựng ca hn 7.600 t ng l tin nh nc ó b cho vay, cho
tm ng sai qui nh, n cui nm vn cha thu hi c chim 1.570 t
ng
cựng mt s sai phm khỏc chim hn 1.100 t ng.
Tuy nhiên, trong các hành vi vi phạm nêu trên thì chỉ những hành vi vi
phạm nghiêm trọng đã đợc Bộ luật hình sự của nớc ta quy định là tội phạm do
những ngời có trách nhiệm trong các đơn vị đợc kiểm toán thực hiện mới đợc
xem xét để xử lý về hình sự. Theo quy định của Bộ luật hình sự, nhóm tội phạm
do các chủ thể có chức vụ, quyền hạn thực hiện này đợc gọi là tội phạm về chức
vụ, quyền hạn, bao gồm 2 nhóm là: tội phạm về chức vụ và tội phạm về tham
nhũng, trong đó nhóm tội phạm đợc phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán
chủ yếu là tội phạm tham nhũng.
Về khỏi nim tham nhng: Khon 2, iu 1 Lut phũng, chng tham
b) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quanm hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân
dân;
c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nớc, cán bộ
lãnh đạo, quản lý là ngời đại diện phần vốn góp của Nhà nớc tại doanh nghiệp.
d) Ngời đợc giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi
thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
Nh vậy, có bốn nhóm đối tợng đợc coi là ngời có chức vụ, quyền hạn.
Nhóm thứ nhất là cán bộ, công chức, viên chức đợc quy định cụ thể trong
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, năm 2003).
Đây là nhóm đối tợng chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn về số lợng trong số ngời có
chức vụ, quyền hạn thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chông tham
nhũng. Đồng thời, cán bộ, công chức, viên chức cũng là nhóm đối tợng thờng
nm giữ những vị trí, công việc liên quan đến vốn, tài sản nhà n
ớc hoặc tiếp xỳc
trực tiếp, giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp có nhiều cơ hội để
thực hiện hành vi tham nhũng nên cần đợc thể chế hoá và giám sát chặt chẽ để
giảm thiểu nguy cơ tham nhũng.
19
Những ngời có chức vụ, quyền hạn nêu tại Điểu b) là nhóm đối tợng có
địa vị pháp lý tơng đối đặc thù, thuộc các lực lơng vũ trang nhân dân và đợc
quy định cụ thể tại Luật Quốc phòng và Luật Công an nhân dân.
Nhóm đối tợng thứ ba nêu tại Điểm c) có thể đợc chia thành 2 loại: thứ
nhất, những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nớc; thứ hai,
cán bộ, lãnh đạo, quản lý là ngời đại diện phần vốn góp của Nhà nớc tại doanh
nghiệp.
Những ngời có chức vụ, quyền hạn quy định tại điểm d) cũng đã đợc
quy định là ngời có chức vụ, quyền hạn tại Phần các tội phạm về chức vụ, Bộ
phòng, chống tham nhũng có bổ sung 5 hành vi tham nhũng mới. Đây là những
hành vi xuất hiện ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây. Việc quy định
thêm 5 loại hình mới này là cần thiết và là cơ sở pháp lý để đấu tranh với những
biểu hiện ngày càng phức tạp của tham nhũng. Tuy nhiên, không phải là mọi
hành vi tham nhũng đều bị xử lý về hình sự mà chỉ những hành vi hội đủ các dấu
hiệu cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự thì mới đợc xác định là
tội phạm và bị xử lý bằng biện pháp hình sự (các hành vi đợc quy định từ khoản
1 đến khoản 7 iều 3 của Luật) còn những hành vi khác (từ khoản 8 đến khoản
12, iều 3 của Luật) đợc xác định là hành vi tham nhũng nhng cha cấu thành
tội phạm thì đợc xử lý bằng biện pháp kỷ luật.
1.1.2.3. Về khách thể
Khách thể của loại tội phạm này là hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà
nớc hoặc tổ chức xã hội. Mỗi cơ quan Nhà nớc, mỗi tổ chức xã hội hoạt động
trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ do nhà nớc quy định trong các văn bản pháp
luật. Thông qua việc quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nớc,
tổ chức xã hội, pháp luật của Nhà nớc ta bảo đảm hiệu lực quản lý của bộ máy
nhà nớc và các tổ chức xã hội. Vì vậy, hoạt động đúng đắn cần hiểu là hoạt
động theo đúng quy định của pháp luật. Mọi hành vi xâm phạm hoạt động đúng
đắn đó đều có thể gây ra những thiệt hại cho lợi ích của Nhà nớc, của xã hội
hoặc lợi ích hợp pháp của công dân. Đặc biệt trong tình hình hiện nay tham
nhũng đã trở thành quốc nạn; tình hình tham nhũng diễn ra rất phức tạp, ở
nhiều lĩnh vực và có xu hớng tăng về quy mô, tính chất ngày càng nghiêm
trọng. Tội phạm tham nhũng không chỉ xâm phạm nghiêm trọng hoạt động đúng
đắn của bộ máy Nhà n
ớc mà còn làm ảnh hởng đến uy tín của bộ máy nhà
nớc, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu
21
quả quản lý của Nhà nớc. Chớnh vỡ vy, mt trong nhng nhim v cp bỏch
m ng, Nh nc ta ra trong tỡnh hỡnh hin nay l phi kiờn quyt u
tham nhũng, xử lý ngời có hành vi tham nhũng và phải chịu trách nhiệm trớc
22
pháp luật về kết luận, quyết định của mình trong quá trình thanh tra, kiểm toán,
điều tra, truy tố, xét xử vụ việc tham nhũng.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện, cộng tác
với cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nớc, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong
việc phát hiện , xử lý ngời có hành vi tham nhũng. Trong ú, trỏch nhim ca
tng c quan trong u tranh phũng, chng tham nhng c quy nh c th
nh sau:
1.1.3.1 Trỏch nhim ca Kim toỏn Nh nc
Kiểm toán Nhà nớc với vị thế cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành
lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đợc Luật phòng, chống tham
nhũng xếp vào nhóm các cơ quan trực tiếp có trách nhiệm phát hiện và phối hợp
xử lý tham nhũng, bao gồm: cơ quan thanh tra nhà nớc, cơ quan điều tra, Kiểm
toán Nhà nớc, viện kiểm sát, toà án; đồng thời, quy định cụ thể, rõ ràng về trách
nhiệm trong phòng, chống tham những. Những quy định về trách nhiệm của
Kiểm toán Nhà nớc trong Luật phòng, chống tham nhũng về cơ bản phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nớc và thống nhất với các quy
định của Luật kiểm toán nhà nớc đợc thông tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá
XI.
Vai trò và trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nớc nói chung và trong
phòng, chống tham nhũng nói riêng trớc hết đợc khẳng định tại Điều 3 Luật
kiểm toán nhà nớc quy định về mục đích kiểm toán; đồng thời, đ
ợc quy định
khá đầy đủ trong Luật thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Kiểm toán Nhà nớc, nhất là những nội dung mới nh: Kiểm toán Nhà
nớc tự quyết định kế hoạch kiểm toán hàng năm và báo cáo với Quốc hội,
Chính phủ trớc khi thực hiện; trình ý kiến của Kiểm toán Nhà nớc để Quốc hội
xem xét, quyết định dự toán ngân sách nhà nớc, quyết định phân bổ ngân sách
kim sỏt, xột x theo quy nh ca phỏp lut v chu trỏch nhim trc phỏp lut
v quyt nh ca mỡnh (Điều 62).
1.1.3.2. Trách nhiệm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động điều tra tội phạm về
tham nhũng.
24
1.1.3.3. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân
dân tối cao
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện
hoạt động truy tố các tội phạm về tham nhũng; kiểm sát hoạt động điều tra, xét
xử, thi hành án đối với các tội phạm về tham nhũng.
- Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm xét xử, hớng dẫn công tác xét
xử các tội phạm về tham nhũng.
1.2. C ch v phng thc chuyn giao h s vụ việc cú du hiu ti
phm cho c quan chức năng xử lý theo pháp luật
1.2.1. C ch chuyn giao h s vụ việc cú du hiu ti phm cho c
quan chức năng xử lý theo pháp luật
Lut phũng, chng tham nhng quy nh rt c th v cú nhiu im tin
b quan trng v
c ch phi hp trong phũng, chng tham nhng gia cỏc c
quan thanh tra nh nc, Kim toỏn Nh nc, iu tra, Vin kim sỏt, To ỏn.
Phõn nh rừ rng hot ng phi hp thnh hai mng l phi hp chung nhm
phũng nga tham nhng v phi hp trong phỏt hin, x lý hnh vi tham nhng
cú du hiu ti phm:
- Hot ng phi hp chung ch yu l trao i thng xuyờn thụng tin v
kinh nghim nhm ngn nga hi