- - - - - -
Luận văn
Thực trạng và giải pháp
hoàn thiện cơ chế quản lý
tiền lương, thu nhập
trong các doanh nghiệp
Nhà nước 1
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước thì các doanh
nghiệp Nhà nước nổi lên là một bộ phận quan trọng, là chỗ dựa để kinh tế Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo. Thông qua nó, Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết
vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN.
Trong khi đó một số doanh nghiệp Nhà nước còn có nhiều tiêu cực, làm ăn
không có hiệu quả và thua lỗ. Vì vậy một yêu cầu đặt ra là phải làm sao để các
doanh nghiệp Nhà nước - các doanh nghiệp nắm giữ các ngành, các lĩnh vực
trọng yếu của nền kinh tế có thể phát triển một cách vững mạnh và thực sự trở
Phần III: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý
tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước.
Tôi đã cố gắng trình bày vấn đề một cách khái quát và đầy đủ nhất. Tuy
nhiên, đây là một vấn đề phức tạp và do kiến thức, kinh nghiệm còn nhiều hạn
chế nên bài viết khó tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong nhận được những ý
kiến góp ý để tôi có thể nắm bắt vấn đề toàn diện hơn nữa và vững vàng hơn,
hoàn thiện hơn trong những lần viết sau.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
3
PHẦN I
Ý NGHĨA CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG,
THU NHẬP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG, THU NHẬP VÀ QUẢN LÝ
TIỀN LƯƠNG, THU NHẬP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Lý luận chung về tiền lương, thu nhập
1.1. Khái niệm, bản chất của tiền lương, thu nhập
Từ khi sức lao động trở thành hàng hoá, xuất hiện thị trường sức lao động
(hay còn gọi là thị trường lao động) thì khái niệm tiền lương xuất hiện. Tiền
thiểu do Nhà nước quy định".
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta
hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và
khu vực kinh tế.
Trong thành phần kinh tế Nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp,
tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức của Nhà nước
trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của Nhà nước và được thể
hiện trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định.
Trong các thành phần và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiền lương
chịu sự tác động và chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động. Tiền
lương trong khu vực này dù vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật và theo những
chính sách của Chính phủ, nhưng được quyết định theo sự thoả thuận trực tiếp
giữa chủ và thợ, những "mặc cả" cụ thể giữa một bên là làm thuê và một bên đi
thuê thông qua hợp đồng lao động.
Cùng với phạm trù tiền lương, chúng ta còn có các phạm trù khác như:
tiền công, thu nhập, chúng cùng mang bản chất với tiền lương tức là đều biểu
hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.
Nhưng giữa tiền lương và tiền công có sự phân biệt nhất định. Trước đây
hai khái niệm này khác nhau về cả nội dung và đối tượng chi trả. Khái niệm tiền
lương được sử dụng trong khu vực quốc doanh, nó là phần trả trực tiếp cho 5
người lao động, ngoài tiền lương được trả bằng tiền người lao động còn nhận
được phần phân phối gián tiếp bằng hiện vật thông qua tem, phiếu và một số
chính sách phúc lợi như chính sách nhà ở, bảo hiểm xã hôi, khám chữa bệnh
Tiền công được dùng cho các đối tượng còn lại ngoài Kinh tế quốc doanh, nó
bao gồm cả phần trả trực tiếp và gián tiếp cho người lao động. Nói khác đi tiền
công chính là tiền lương đã được tiền tệ hóa.
Hiện nay tiền lương và tiền công dường như không còn sự tách biệt, đều
Trong đó :
I
tltt
: là chỉ số tiền lương thực tế
I
tldn
: là chỉ số tiền lương danh nghĩa 6
I
gc
: là chỉ số giá cả
Thu nhập có cùng bản chất với tiền lương nhưng được hiểu với nghĩa
rộng hơn, thu nhập của một người lao động là tất cả những khoản thu mà người
lao động đó nhận được từ việc cung ứng sức lao động của mình, bao gồm cả
tiền lương (hay tiền công), tiền thưởng, tiền ăn ca
1.2. Các chức năng cơ bản của tiền lương:
1.2.1. Thước đo giá trị của lao động
Do lao động là hoạt động chính của con người và là đầu vào của mọi qúa
trình sản xuất trong xã hội, tiền lương là hình thái cơ bản của thù lao lao động
thể hiện giá trị của khối lượng sản phẩm và dịch vụ mà người lao động nhận
được trên cơ sở trao đổi sức lao động. Hiểu theo cách này, tiền lương bị chi
phối bởi quy luật giá trị và phân phối theo lao động.
1.2.2. Duy trì và phát triển sức lao động
Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao động nhằm thoả mãn
phần lớn các nhu cầu về văn hoá và vật chất của người lao động. Mức độ thoả
mãn các nhu cầu của người lao động phần lớn được căn cứ vào độ lớn của các
mức tiền lương. Độ lớn của tiền lương phải tạo ra các điều kiện cần thiết để bảo
đảm tái sản xuất sức lao động giản đơn và mở rộng sức lao động cho người lao
1.2.5. Chức năng xã hội của tiền lương
Cùng với việc không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền lương là
yếu tố kích thích không ngừng hoàn thiện các mối quan hệ lao động. Việc gắn
tiền lương với hiệu quả của người lao đọng và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy mối
quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để đạt được các mức tiền lương cao nhất. Bên
cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã hội
phát triển theo hướng dân chủ hoá và văn minh hoá.
Tóm lại, tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp và là đòn bẩy kinh tế
rất quan trọng đến sản xuất, đời sống và các mặt khác của nền kinh tế xã hội,
tiền lương được trả đúng đắn có tác dụng: (1) đảm bảo tái sản xuất sức lao
động và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho người lao
động; (2) là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động; (3) tạo điều 8
kiện để phân bố hợp lý sức lao động giữa các ngành nghề, các vùng, các lĩnh
vực trong cả nước: (4) thúc đẩy bản thân người lao động và xã hội phát triển.
1.3. Tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Các đặc điểm cơ bản của tiền lương:
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc đảm bảo mức sống
tối thiểu cho người lao động và gia đình họ là một mục tiêu quan trọng. Do vậy
tiền lương không bị hạ thấp một cách quá đáng hoặc quá linh hoạt, trái lại, nó
dừng ở một mức vừa phải và có tính ổn định. Tuy nhiên, thất nghiệp vì thế cũng
có nguy cơ gia tăng nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời của Chính phủ
thông qua các giải pháp kích cầu.
- Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tiền lương có mối quan
hệ tỷ lệ thuận với mức tăng lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh
tế là tiền đề để tăng tiền lương, thu nhập, nâng cao mức sống của người làm
công ăn lương và do vậy lợi nhuận phải được thực hiện trên cơ sở tăng năng
suất lao động, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, không dựa trên việc
- Cách biệt về tiền lương giữa những người thấp nhất và cao nhất không
như tiền lương trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
- Tiền lương có tính bảo đảm cao, không những bảo đảm mức sống cho
người lao động trong quá trình làm việc mà còn bảo đảm cho họ có mức sống
khi suy giảm sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn.
- Tiền lương dựa trên điều kiện lao động tốt, các tiêu chuẩn lao động và
chế độ làm việc ngày càng được hoàn thiện.
- Tiền lương linh hoạt tương đối, không những thể hiện giá trị lao động
mà cả hiệu suất lao động do sự tham gia của người lao động vào quá trình phân
phối lần đầu và lần 2 trong nội bộ doanh nghiệp.
- Mức tiền lương tăng dựa trên sự khai thác các yếu tố tiềm năng trong
sản xuất. Tiền lương là kết quả của mối liên kết quản lý lao động, không dựa
vào sự chiếm đoạt của người sử dụng lao động đối với người lao động.
Tuy nhiên Việt Nam hiện tại trong thời kỳ quá độ, từ nền sản xuất nông
nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, không thể tránh khỏi những yếu
tố của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như: sự cạnh tranh (kể cả cạnh 10
tranh không lành mạnh), phá sản, tình trạng thất nghiệp, sự phân hoá mạnh của
các mức lương, sự phân hoá về thu nhập, mức sống của xã hội và các tầng lớp
dân cư. Vì vậy cần thiết phải chấp nhận một sự phân biệt về tiền lương theo
vùng, ngành, theo kết quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
1.4. Yêu cầu và các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền lương
Tổ chức tiền lương là quá trình thực hiện chi trả cho người lao động theo
các yêu cầu và nguyên tắc của pháp luật hiện hành.
Tổ chức tiền lương bao gồm toàn bộ quá trình từ việc xây dựng quỹ tiền
lương đến việc áp dụng các chế độ hình thức trả lương để phân phối đến tay
người lao động. Tổ chức tiền lương là một mảng quản lý rất phức tạp, đòi hỏi
- Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động
làm trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân
Cơ sở của nguyên tắc này là đảm bảo kết hợp hài hoà giữa quá trình phân
công lao động và phát triển xã hội. Tính phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành
trong nền kinh tế quốc dân đòi hỏi trình độ lành nghề của người lao động là
khác nhau dẫn đến tiền lương bình quân của các ngành là khác nhau. Nguyên
tắc này khẳng định một sự phân biệt cần thiết các điều kiện lao động nhằm phục
vụ chính sách kinh tế xã hội. Mức lương cao hơn với một yêu cầu về kỹ năng,
trình độ, kinh nghiệm sẽ thúc đẩy người lao động tự học hỏi, tích luỹ kinh
nghiệm và nâng cao năng suất lao động.Nguyên tắc này thể hiện tính xã hội của
tiền lương, do đó không thể coi nhẹ. Nó bao hàm ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành
trong nền kinh tế quốc dân. Xét trong tòan bộ nền kinh tế, mỗi ngành có một vai
trò khác nhau trong các giai đoạn, thời kỳ phát triển khác nhau. Những ngành có
vai trò quan trọng, mang tính mũi nhọn được chú trọng cần được tập trung tài
nguyên, nhân lực để thúc đẩy phát triển kéo theo sự phát triển của các ngành
khác và các ngành mũi nhọn đó được áp dụng hưởng mức lương cao hơn so với
các ngành khác. Sự khác nhau về môi trường, khí hậu, dân cư, giá cả sinh hoạt
sẽ tạo ra sự chênh lệch nội dung. Sự khác nhau đó được bù lại bằng chế độ
chính sách mà tiền lương là một phần trong đó. Nguyên tắc này đã được cụ thể
hoá trong Bộ Luật Lao động nước ta. 12
Mỗi nguyên tắc trên đây phản ánh một khía cạnh khác nhau của tiền
lương, chúng kết hợp hài hoà và bổ sung cho nhau một cách thống nhất và tạo
ra vai trò quan trọng của tiền lương.
Yêu cầu của tổ chức tiền lương
- Bảo đảm tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống
vật chất cho người lao động
- Trình độ phát triển kinh tế chung của đất nước và của từng vùng
- Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cá nhân trong từng thời
kỳ
- Mô hình phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp
- Thâm niên làm việc trong doanh nghiệp
- Các khoản chi phí khác về tiền lương (nếu có).
Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương:
2. Quản lý Nhà nước về tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà
nước
Công vi
ệ
c
Kỹ năng
Nỗ lực
14
2.1.Quản lý Nhà nước về tiền lương
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách
kinh tế xã hội của đất nước. Chính sách này liên quan trực tiếp đến lợi ích của
đông đảo người lao động trong xã hội và được Nhà nước quản lý. Nhà nước
quản lý thống nhất về tiền lương. Đối với người lao động là công nhân viên
chức, Nhà nước trực tiếp quản lý tiền lương (theo các chỉ tiêu cụ thể về đối
tượng hưởng lương, bậc lương và tiền lương tối thiểu). Nhà nước cũng thực
hiện một cơ chế kiểm soát trong thực hiện chính sách và chế độ tiền lương, trên
cơ sở luật pháp về tiền lương, các hợp đồng lao động và thuế thu nhập. Đối với
người lao động không phải là công nhân viên chức Nhà nước, Nhà nước cũng
thực hiện quản lý và kiểm soát tiền lương trên cơ sở luật pháp về lao động và
tiền lương.
* Việc quản lý Nhà nước về tiền lương được phân cấp thực hiện như sau :
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý Nhà nước về
tiền lương ở cấp cao nhất. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành các
văn bản pháp luật để hướng dẫn các doanh nghiệp phương pháp xây dựng đơn
giá tiền lương, các thông số tiền lương và các hệ số điều chỉnh cần thiết và
thông báo các thông tin cần thiết về tiền lương trong phạm vi toàn bộ nền kinh
tế. Qua đó chỉ đạo việc quản lý tiền lương của các Bộ, ngành và địa phương
trong toàn quốc.
- Các Bộ quản lý ngành, các đại phương (cấp tỉnh, thành phố) có trách
nhiệm và quyền hạn quản lý công tác tiền lương của các doanh nghiệp, cơ quan
trong phạm vi của mình trên cơ sở chỉ đạo của Bộ LĐ - TB&XH. Trong đó,
phải báo cáo thường xuyên lên Bộ LĐ - TB&XH về công átc quản lý tiền lương
tại Bộ, ngành mình.
- Các doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện công tác lao động, tiền lương
theo quy định, trong đó công tác tổ chức, xây dựng đơn giá và thực hiện các thủ
lao động và tiếp tục phát triền giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Khi nói đến quản lý tiền lương, thu nhập trong doanh nghiệp Nhà nước là
nói đến việc xác định quan hệ phân phối lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp
và người lao động. Nói đến quan hệ phân phối thì chính là nói đến sở hữu, đến
vai trò quyết địnhcủa chủ sở hữu, đến mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền 16
sử dụng. Sở hữu là vấn đề cốt lõi trong quan hệ sản xuất, vì người nào nắm
quyền sở hữu thì người đó sẽ có quyền chiếm dụng, quyền định đoạt và quyền
hưởng thụ. Cũng vì lẽ đó, sở hữu là xuất phát điểm, làm cơ sở cho chủ sở hữu
quyết định sẽ quản lý tài sản của mình ra sao, sẽ phân phối kết quả sản xuất
kinh doanh mà tài sản đó mang lại như thế nào.
Trong kinh tế quốc doanh, tính chất sở hữu ở đây chính là sở hữu toàn
dân mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu do vậy đương nhiên Nhà nước
đóng vai trò quyết định chính sách phân phối. Nhưng vấn đề đặt ra trong quá
trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước thì Nhà nước quản lý như thế nào, quản
lý đến đâu và cụ thể là ai?
Trong thời kỳ quản lý tập trung chúng ta đã tuyệt đối hoá vai trò của Nhà
nước. Trung ương quyết định tất cả, quản lý tất cả, trong lĩnh vực lao động, tiền
lương quyết định từ tuyển dụng, đào tạo đến mức lương, tổng quỹ lương của
doanh nghiệp. Sự tuyệt đối hoá có tính quan liêu này đã phải trả giá không nhỏ
là triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Nhà
nước trở thành chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp tồn tại, tiền lương do
Ngân sách chi trả mang nặng tính bình quân, không gắn với năng suất, hiệu quả
của từng người, của từng doanh nghiệp.
Nhận thấy những tồn tại trên, từ những năm đầu của thập kỷ 80 chúng ta
đã bắt đầu đổi mới tổ chức, quản lý doanh nghiệp, bước đầu tách hai chức năng
sở hữu và kinh doanh. Song xác định ai là người cụ thể đại diện chủ sở hữu
động vẫn còn đan xen chưa có sự phân định minh bạch.
Do vấn đề chủ sở hữu chưa được xác định rõ ràng nên chính sách phân
phối nói chung và chính sách tiền lương nói riêng đối với doanh nghiệp trong
giai đoạn này còn nhiều quan điểm chưa phù hợp.
Tháng 4/1995 Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội thông qua đã qui
định rõ chủ sở hữu đối với tài sản công trong doanh nghiệp Nhà nước là Chính
phủ, đồng thời cho phép Chính phủ phân cấp hoặc uỷ quyền cho các Bộ, ngành
và Ủy ban thực hiện một số quyền này. Còn đối với doanh nghiệp, dù kinh
doanh hay hoạt động công ích, chỉ được quyền quản lý, sử dụng vốn và tài sản
của Nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ của mình và tự chịu trách nhiệm về
toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong phạm vi doanh nghiệp quản lý. 18
Luật doanh nghiệp nhà nước đã xác định rõ quyền sở hữu và quyền sử
dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp. Vì vậy vấn đề quản lý Nhà nước về
tiền lương, thu nhập đối với các doanh nghiệp cũng phải xác định phù hợp với
quyền sở hữu của Nhà nước.
Trước hết, Nhà nước giữ vai trò quy định chính sách tiền lương để các
doanh nghiệp áp dụng;
Tiếp đến, Nhà nước quản lý thống nhất thông qua những biện pháp gián
tiếp như ở giới hạn thấp nhất quy định tiền lương tối thiểu, ở giới hạn cao nhất
thì điều tiết thông qua thuế thu nhập. Biện pháp trực tiếp như xác định yếu tố
đầu vào chi phí tiền lương của sản phẩm, dịch vụ hoặc chính sách phân chia lợi
nhuận.
Trong phạm vi nguồn quỹ thu nhập gồm quỹ tiền lương, quỹ tiền thưởng
doanh nghiệp được quyền trả lương cho người lao động theo năng suất và mức
độ đóng góp của từng người.
Tóm lại vai trò của Nhà nước về quản lý tiền lương đối với doanh nghiệp
2.3. Cơ chế quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước:
Để đáp ứng đòi hỏi của cơ chế quản lý kinh tế mới, Chính phủ đã ban
hành Nghị định 26/CP ngày 25/03/1993 và Nghị định 28/CP ngày 28/3/1997 về
đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước. Trong
đó Nhà nước không trực tiếp quản lý quỹ tiền lương của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp có quyền tự xây dựng quỹ tiền lương thông qua đơn giá tiền lương được
Nhà nước giao (trên cơ sở doanh nghiệp đã xác định đơn giá và có sự điều
chỉnh của Nhà nước sao cho phù hợp với điều kiện của từng ngành, lĩnh vực,
điều kiện thực tế và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính đến
giá cả sức lao động trên thị trường).
Việc quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước được
quy định như sau :
2.3.1. Nguyên tắc chung:
- Các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp nhà nước đều phải có định mức
lao động và đơn giá tiền lương. Đơn giá tiền lương phải được xây dựng trên cơ
sở định mức lao động trung bình tiên tiến của doanh nghiệp và các thông số tiền
lương do Nhà nước quy định. Khi thay đổi về định mức lao động và các thông
số tiền lương thì thay đổi đơn giá tiền lương. 20
- Tiền lương và thu nhập phụ thuộc vào thực hiện khối lượng sản phẩm,
dịch vụ, năng suất, chất lượng lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Tốc
độ tăng tiền lương phải thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động.
* Đối với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực:
- Trước tháng 4 hằng năm, thẩm định và giao đơn giá tiền lương cho các
doanh nghiệp thuộc quyền quản lý
- Phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, thẩm định đơn giá
tiền lương cho các Tổng công ty thành lập theo quyết định số 90/TTg ngày
7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ được xếp doanh nghiệp hạng đặc biệt
- Kiểm tra việc xây dựng, thực hiện đơn giá tiền lương và quản lý lao
động, tiền lương, thu nhập của các doanh nghiệp thuộc quyền
* Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo để
Sở Lao động- Thương binh và Xã hội phối hợp với các Sở quản lý ngành,
lĩnh vực:
- Hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của địa phương để
xây dựng đơn giá tiền lương theo quy định tại Thông tư 13/LĐTB&XH-TT
ngày 10/4/4997
- Trước tháng 4 hàng năm, thẩm định và giao đơn giá tiền lương cho
các doanh nghiệp nhà nước và các Công ty cổ phần có trên 50% vốn do
doanh nghiệp nhà nước góp thuộc quyền quản sau khi trao đổi quản lý vốn
và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp ở địa phương.
- Thanh tra kiểm tra việc xây dựng, thực hiện đơn giá tiền lương và
quản lý lao động, tiền lương, thu nhập của các doanh nghiệp trực thuộc địa
phương.
* Cán bộ quản lý ngành, lĩnh vực và các Sở Lao động -Thương binh
và Xã hội Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
- Chậm nhất vào tháng 5 hàng năm, báo cáo về Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội tình hình đơn giá tiền lương hàng năm kế hoạch
cho các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý và tình hình lao động, tiền
lương, thu nhập thực hiện năm trước của các doanh nghiệp theo mẫu số 1
và mẫu số 2 kèm theo thông tư 13/LĐTBXH-TT ngày 10/4/1997.
23
Các doanh nghiệp phải tiến hành xây dựng đơn giá tiền lương từ quý
IV năm báo cáo để gửi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền kịp thẩm
định và giao đơn giá tiền lương vào quý I năm kế hoạch.
* Thủ tục hành chính đề nghị duyệt đơn giá tiền lương:
Theo phân cấp và tổ chức quản lý, sau khi xây dựng đơn giá tiền
lương, doanh nghiệp có công văn gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm định và
giao đơn giá tiền lương theo quy định tại điểm 2 nói trên;
Công văn gửi kèm các biểu sau:
- Biểu trình xây dựng đơn giá tiền lương theo mẫu số 3a và số 3b.
- Đối với doanh nghiệp có nhiều đơn vị thành viên và có nhiều đơn giá tiền
lương thì lập biểu tổng hợp đơn giá tiền lương theo mẫu số 4.
* Báo cáo tình hình thực hiện lao động, tiền lương và thu nhập.
Vào quý I chậm nhất là tháng 4 năm kế hoạch, doanh nghiệp phải báo
cáo cho cơ quan có thẩm quyền giao đơn giá tình hình thực hiện lao động,
tiền lương và thu nhập của năm trước liền kề theo mẫu số 5 kèm theo Thông
tư 13/ LĐTBXH-TT ngày 10/4/1997.
2.3.4. Xác định quỹ tiền lương thực hiện theo kết quả sản xuất kinh
doanh.
* Điều kiện xác định quỹ tiền lương thực hiện:
- Các chỉ tiêu tổng sản phẩm hàng hoá (kể cả sản phẩm quy đổi), tổng
doanh thu, chi phí, lợi nhuận thực hiện được xác định theo quy chế quản lý
tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước ban hành
kèm theo nghị định số 59/ CP ngày3/10/1996 của Chính phủ. Trong các chỉ
tiêu nêu trên, nếu có yếu tố tăng hoặc giảm do nguyên nhân khách quan,
không tính đến khi xây dựng đơn giá tiền lương thì phải loại trừ khi xác
định quỹ tiền lương thực hiện.
- Trước khi xác định quỹ tiền lương thực hiện, doanh nghiệp phải đánh
nghỉ việc riêng, nghỉ lễ tết, nghỉ theo chế đọ lao động nữ, hội họp, học tập
theo quy định của Bộ luật Lao động
Vtg : Quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo số giờ thực tế làm
thêm nhưng không vượt quá quy định của Bộ Luật lao động.