Ý NGHĨA CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG, THU NHẬP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC - Pdf 63

ý nghĩa của việc hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lơng,
thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nớc
I. Những vấn đề lý luận về tiền lơng, thu nhập và quản lý
tiền lơng, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nớc
1. Lý luận chung về tiền lơng, thu nhập
1.1. Khái niệm, bản chất của tiền lơng, thu nhập
Từ khi sức lao động trở thành hàng hoá, xuất hiện thị trờng sức lao động
(hay còn gọi là thị trờng lao động) thì khái niệm tiền lơng xuất hiện. Tiền lơng là
một phạm trù kinh tế - xã hội, thể hiện kết quả của sự trao đổi trên thị trờng lao
động.
Để có thể tiền hành sản xuất, cần có sự kết hợp của hai yếu tố cơ bản là lao
động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phận dân c trong xã hội, còn
một bộ phận dân c khác, do không có vốn, chỉ có sức lao động họ phải đi làm thuê
cho những ngời có vốn, đổi lại họ đợc nhận một khoản tiền, gọi là tiền lơng( hay
tiền công). Nh vậy khái niệm "tiền lơng" xuất hiện khi có sự sử dụng sức lao
động của một bộ phận dân c trong xã hội một cách có tổ chức và đều đặn bởi
một bộ phận dân c khác. Tiền lơng, tiền công đợc hiểu là giá cả sức lao động,
nó là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.
Xét trong mối quan hệ lao động thì tiền lơng là giá cả sức lao động, đợc
hình thành thông qua sự thoả thuận giữa ngời sử dụng sức lao động và ngời lao
động phù hợp với quan hệ cung cầu lao động trên thị trờng. Vậy giá cả sức lao
động do cái gì quyết định, do lợng hao phí lao động xã hội cần thiết hay do cung
cầu trên thị trờng quyết định? Chúng ta phải hiểu là cơ sở của giá cả sức lao động
là do lợng hao phí lao động xã hội cần thiết quyết định (còn gọi là giá trị sức lao
động), còn sự biến động trên thị trờng của giá cả sức lao động xoay quanh giá trị
sức lao động là do quan hệ cung cầu quyết định.
Ta có thể đi đến một khái niệm đầy đủ về tiền lơng, tiền lơng là biểu hiện
bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả yếu tố sức lao động mà ngời sử
dụng sức lao động phải trả cho ngời cung ứng sức lao động, tuân theo nguyên
tắc cung cầu, giá cả của thị trờng và pháp luật hiện hành của Nhà nớc.
Để có một khái niệm mang tính pháp lý về tiền lơng, Điều 55 Bộ luật Lao

tế quốc doanh và tiền công gắn với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Nhng dù tiền lơng hay tiền công cũng đều phải đảm bảo các yêu cầu sau :
+ Tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất sức lao động mở rộng
+ Thúc đẩy tăng năng suất lao động
+ Phù hợp với cung cầu lao động
Trong khái niệm tiền lơng cần phân biệt giữa tiền lơng danh nghĩa và tiền l-
ơng thực tế. Tiền lơng danh nghĩa là số tiền ngời lao động trực tiếp nhận đợc từ
phía ngời sử dụng lao động trả cho công việc họ làm, còn tiền lơng thực tế đợc
hiểu là lợng hàng hóa, dịch vụ cần thiết mà ngời lao động hởng lơng mua đợc
bằng lợng tiền lơng danh nghĩa của họ.
Nh vậy tiền lơng thực tế không chỉ phụ thuộc vào tiền lơng danh nghĩa mà
còn phụ thuộc vào giá cả hàng hoá, dịch vụ cần thiết. Mối quan hệ giữa tiền lơng
danh nghĩa và tiền lơng thực tế đợc thể hiện thông qua công thức :I
tldnI
tltt
=
I
gc
Trong đó :
I
tltt
: là chỉ số tiền lơng thực tế
I
tldn

của tiền lơng phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh, khi khối lợng các t liệu
sinh hoạt của ngời lao động phụ thuộc trực tiếp vào độ lớn của các mức tiền lơng
thì ngời lao động sẽ quan tâm trực tiếp đến kết quả hoạt động của họ. Nâng cao
hiệu quả lao động là nguồn gốc để tăng thu nhập, tăng khả năng thoả mãn nhu cầu
của ngời lao động. Hiểu theo cách này, tiền lơng bị chi phối bởi quy luật không
ngừng thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt và không ngừng nâng cao năng suất lao
động. Nguyện vọng không ngừng thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt đợc thể hiện
trong việc không ngừng nâng cao hiệu quả lao động, không ngừng nâng cao năng
suất lao động, tăng hiệu quả lao động.
1.2.4. Kích thích kinh tế phát triển và thúc đẩy sự phân công lao động trên
toàn bộ nền kinh tế
Trên lĩnh vực vĩ mô, tổng mức tiền lơng quyết định tổng cầu về hàng hoá và
dịch vụ cần thiết phải sản xuất. Do vậy, việc tăng các mức tiền lơng có tác dụng
kích thích tăng sản xuất, qua đó tăng nhu cầu về lao động.
Bên cạnh đó, sự chênh lệch tiền lơng giữa các ngành, các nghề thúc đẩy sự
phân công và bố trí lao động cũng nh các biện pháp nâng cao năng suất lao động.
1.2.5. Chức năng xã hội của tiền lơng
Cùng với việc không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền lơng là yếu tố
kích thích không ngừng hoàn thiện các mối quan hệ lao động. Việc gắn tiền lơng
với hiệu quả của ngời lao đọng và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy mối quan hệ hợp tác,
giúp đỡ lẫn nhau để đạt đợc các mức tiền lơng cao nhất. Bên cạnh đó, tạo tiền đề
cho sự phát triển toàn diện của con ngời và thúc đẩy xã hội phát triển theo hớng
dân chủ hoá và văn minh hoá.
Tóm lại, tiền lơng là một phạm trù kinh tế tổng hợp và là đòn bẩy kinh tế
rất quan trọng đến sản xuất, đời sống và các mặt khác của nền kinh tế xã hội,
tiền lơng đợc trả đúng đắn có tác dụng: (1) đảm bảo tái sản xuất sức lao động
và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho ngời lao động; (2) là
một yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động; (3) tạo điều kiện để
phân bố hợp lý sức lao động giữa các ngành nghề, các vùng, các lĩnh vực trong
cả nớc: (4) thúc đẩy bản thân ngời lao động và xã hội phát triển.

- Việc làm, an toàn việc làm và an sinh xã hội là mối quan tâm của ngời lao
động, do đó mức tiền lơng cần phải đủ lớn để duy trì cuộc sống của họ trong ngày
hôm nay và cho cả khi họ không có sức lao động. Nói cách khác, tiền lơng cần
bao gồm cả tiền lơng cơ bản và một phần cho an sinh xã hội phòng khi thất
nghiệp. Về thực chất tiền lơng này cao hơn so với tiền lơng của nền kinh tế t bản
chủ nghĩa.
Các nguyên tắc cơ bản của tiền lơng:
- Tiền lơng bị chi phối không những bởi quy luật giá trị, quy luật cung cầu
lao động mà còn bị chi phối bởi các qui luật kinh tế khác, trong đó có qui luật về
mức sống tối thiểu.
- Cách biệt về tiền lơng giữa những ngời thấp nhất và cao nhất không nh
tiền lơng trong nền kinh tế t bản chủ nghĩa.
- Tiền lơng có tính bảo đảm cao, không những bảo đảm mức sống cho ngời
lao động trong quá trình làm việc mà còn bảo đảm cho họ có mức sống khi suy
giảm sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn.
- Tiền lơng dựa trên điều kiện lao động tốt, các tiêu chuẩn lao động và chế
độ làm việc ngày càng đợc hoàn thiện.
- Tiền lơng linh hoạt tơng đối, không những thể hiện giá trị lao động mà cả
hiệu suất lao động do sự tham gia của ngời lao động vào quá trình phân phối lần
đầu và lần 2 trong nội bộ doanh nghiệp.
- Mức tiền lơng tăng dựa trên sự khai thác các yếu tố tiềm năng trong sản
xuất. Tiền lơng là kết quả của mối liên kết quản lý lao động, không dựa vào sự
chiếm đoạt của ngời sử dụng lao động đối với ngời lao động.
Tuy nhiên Việt Nam hiện tại trong thời kỳ quá độ, từ nền sản xuất nông
nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, không thể tránh khỏi những yếu tố
của nền kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa nh: sự cạnh tranh (kể cả cạnh tranh
không lành mạnh), phá sản, tình trạng thất nghiệp, sự phân hoá mạnh của các mức
lơng, sự phân hoá về thu nhập, mức sống của xã hội và các tầng lớp dân c. Vì vậy
cần thiết phải chấp nhận một sự phân biệt về tiền lơng theo vùng, ngành, theo kết
quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.

tồn tại và phát triển của các donah nghiệp và của cả xã hội.
- Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lơng giữa những ngời lao động làm
trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân
Cơ sở của nguyên tắc này là đảm bảo kết hợp hài hoà giữa quá trình phân
công lao động và phát triển xã hội. Tính phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành trong
nền kinh tế quốc dân đòi hỏi trình độ lành nghề của ngời lao động là khác nhau
dẫn đến tiền lơng bình quân của các ngành là khác nhau. Nguyên tắc này khẳng
định một sự phân biệt cần thiết các điều kiện lao động nhằm phục vụ chính sách
kinh tế xã hội. Mức lơng cao hơn với một yêu cầu về kỹ năng, trình độ, kinh
nghiệm sẽ thúc đẩy ngời lao động tự học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm và nâng cao
năng suất lao động.Nguyên tắc này thể hiện tính xã hội của tiền lơng, do đó
không thể coi nhẹ. Nó bao hàm ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế
quốc dân. Xét trong tòan bộ nền kinh tế, mỗi ngành có một vai trò khác nhau
trong các giai đoạn, thời kỳ phát triển khác nhau. Những ngành có vai trò quan
trọng, mang tính mũi nhọn đợc chú trọng cần đợc tập trung tài nguyên, nhân lực
để thúc đẩy phát triển kéo theo sự phát triển của các ngành khác và các ngành mũi
nhọn đó đợc áp dụng hởng mức lơng cao hơn so với các ngành khác. Sự khác
nhau về môi trờng, khí hậu, dân c, giá cả sinh hoạt sẽ tạo ra sự chênh lệch nội
dung. Sự khác nhau đó đợc bù lại bằng chế độ chính sách mà tiền lơng là một
phần trong đó. Nguyên tắc này đã đợc cụ thể hoá trong Bộ Luật Lao động nớc ta.
Mỗi nguyên tắc trên đây phản ánh một khía cạnh khác nhau của tiền lơng,
chúng kết hợp hài hoà và bổ sung cho nhau một cách thống nhất và tạo ra vai trò
quan trọng của tiền lơng.
Yêu cầu của tổ chức tiền lơng
- Bảo đảm tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống
vật chất cho ngời lao động
Sức lao động là năng lực lao đông, là toàn bộ thể lực và trí lực của con ngời.
Sức lao động thể hiện ở trạng thái thể lực và tinh thần trạng thái tâm, sinh lý thể
hiện ở trình độ nhận thức, kỹ năng lao động. Sức lao động là một trong 3 yếu tố
của quá trình sản xuất, nó là yếu tố quan trọng nhất vì sức lao động có khả năng

Xã hội
-Cung cầu lao
động
-Điều kiện KT
quốc gia
-Giá cả sinh
hoạt
-Luật pháp
-Quan niệm
thành kiến
Công ty
-Định mức
LĐKT
-Khả năng chi
trả
-Chính sách
chiến lợc
-Đặc điểm hoạt
động
Tiền lơng,
thu nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status