LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước thì các doanh
nghiệp Nhà nước nổi lên là một bộ phận quan trọng, là chỗ dựa để kinh tế Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo. Thông qua nó, Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết
vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN.
Trong khi đó một số doanh nghiệp Nhà nước còn có nhiều tiêu cực, làm ăn
không có hiệu quả và thua lỗ. Vì vậy một yêu cầu đặt ra là phải làm sao để các
doanh nghiệp Nhà nước - các doanh nghiệp nắm giữ các ngành, các lĩnh vực
trọng yếu của nền kinh tế có thể phát triển một cách vững mạnh và thực sự trở
thành một lực lượng vật chất hùng mạnh.
Để có thể đứng vững và phát huy vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế
thị trường, các doanh nghiệp Nhà nước phải làm ăn thật sự hiệu quả mà trước
hết là phải quản lý, sử dụng tốt các nguồn đầu vào. Do đó việc quản lý tốt tiền
lương, thu nhập - một trong những chi phí đầu vào là hết sức cần thiết, làm sao
để sử dụng hiệu quả nhất chi phí tiền lương, phát huy được vai trò đòn bẩy kinh
tế của tiền lương.
Trong thời gian vừa qua vấn đề quản lý tiền lương, thu nhập trong các
doanh nghiệp Nhà nước mặc dù đã được nhiều nhà quản lý, nghiên cứu đề cập
đến nhưng do tiền lương một mặt là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, mặt
khác tiền lương trong cơ chế thị trường vẫn là một vấn đề mới nên việc đưa ra
các chính sách, giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lương, thu nhập
trong các doanh nghiệp Nhà nước là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cần thiết
trong giai đoạn hiện nay. Nó có liên quan chặt chẽ đến động lực phát triển và
tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, khai thác các khả
năng tiềm tàng từ mỗi người lao động.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và được sự giúp đỡ nhiệt tình
của tập thể cán bộ Vụ Tiền lương - Tiền công - Bộ Lao động - Thương binh và
1
Xã hội, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo GS.TS Phạm Đức
Thành, tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lương,
làm thuê cho những người có vốn, đổi lại họ được nhận một khoản tiền, gọi là
tiền lương( hay tiền công). Như vậy khái niệm "tiền lương" xuất hiện khi có sự
sử dụng sức lao động của một bộ phận dân cư trong xã hội một cách có tổ chức
và đều đặn bởi một bộ phận dân cư khác. Tiền lương, tiền công được hiểu là giá
cả sức lao động, nó là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.
Xét trong mối quan hệ lao động thì tiền lương là giá cả sức lao động,
được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa người sử dụng sức lao động và
người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu lao động trên thị trường. Vậy giá
cả sức lao động do cái gì quyết định, do lượng hao phí lao động xã hội cần thiết
hay do cung cầu trên thị trường quyết định? Chúng ta phải hiểu là cơ sở của giá
cả sức lao động là do lượng hao phí lao động xã hội cần thiết quyết định (còn
gọi là giá trị sức lao động), còn sự biến động trên thị trường của giá cả sức lao
động xoay quanh giá trị sức lao động là do quan hệ cung cầu quyết định.
3
Ta có thể đi đến một khái niệm đầy đủ về tiền lương, tiền lương là biểu
hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả yếu tố sức lao động mà người
sử dụng sức lao động phải trả cho người cung ứng sức lao động, tuân theo
nguyên tắc cung cầu, giá cả của thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà
nước.
Để có một khái niệm mang tính pháp lý về tiền lương, Điều 55 Bộ luật
Lao động có ghi: "Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong
hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả
công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối
thiểu do Nhà nước quy định".
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta
hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và
khu vực kinh tế.
Trong thành phần kinh tế Nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp,
tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức của Nhà nước
trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của Nhà nước và được thể
tiền lương thực tế. Tiền lương danh nghĩa là số tiền người lao động trực tiếp
nhận được từ phía người sử dụng lao động trả cho công việc họ làm, còn tiền
lương thực tế được hiểu là lượng hàng hóa, dịch vụ cần thiết mà người lao động
hưởng lương mua được bằng lượng tiền lương danh nghĩa của họ.
Như vậy tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào tiền lương danh
nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả hàng hoá, dịch vụ cần thiết. Mối quan hệ
giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế được thể hiện thông qua công
thức :I
tldnI
tltt
=
I
gc
Trong đó :
I
tltt
: là chỉ số tiền lương thực tế
I
tldn
: là chỉ số tiền lương danh nghĩa
5
I
gc
: là chỉ số giá cả
hoạt động của họ. Nâng cao hiệu quả lao động là nguồn gốc để tăng thu nhập,
tăng khả năng thoả mãn nhu cầu của người lao động. Hiểu theo cách này, tiền
lương bị chi phối bởi quy luật không ngừng thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt và
không ngừng nâng cao năng suất lao động. Nguyện vọng không ngừng thoả
mãn các nhu cầu sinh hoạt được thể hiện trong việc không ngừng nâng cao hiệu
quả lao động, không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả lao
động.
1.2.4. Kích thích kinh tế phát triển và thúc đẩy sự phân công lao động trên
toàn bộ nền kinh tế
Trên lĩnh vực vĩ mô, tổng mức tiền lương quyết định tổng cầu về hàng hoá
và dịch vụ cần thiết phải sản xuất. Do vậy, việc tăng các mức tiền lương có tác
dụng kích thích tăng sản xuất, qua đó tăng nhu cầu về lao động.
Bên cạnh đó, sự chênh lệch tiền lương giữa các ngành, các nghề thúc đẩy
sự phân công và bố trí lao động cũng như các biện pháp nâng cao năng suất lao
động.
1.2.5. Chức năng xã hội của tiền lương
Cùng với việc không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền lương là
yếu tố kích thích không ngừng hoàn thiện các mối quan hệ lao động. Việc gắn
tiền lương với hiệu quả của người lao đọng và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy mối
quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để đạt được các mức tiền lương cao nhất. Bên
cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã
hội phát triển theo hướng dân chủ hoá và văn minh hoá.
Tóm lại, tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp và là đòn bẩy kinh tế
rất quan trọng đến sản xuất, đời sống và các mặt khác của nền kinh tế xã hội,
tiền lương được trả đúng đắn có tác dụng: (1) đảm bảo tái sản xuất sức lao động
và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho người lao động; (2)
là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động; (3) tạo điều kiện để
7
phân bố hợp lý sức lao động giữa các ngành nghề, các vùng, các lĩnh vực trong
cả nước: (4) thúc đẩy bản thân người lao động và xã hội phát triển.
lợi ích chính đáng, tính tích cực, sáng tạo của họ.
- Việc làm, an toàn việc làm và an sinh xã hội là mối quan tâm của người
lao động, do đó mức tiền lương cần phải đủ lớn để duy trì cuộc sống của họ
trong ngày hôm nay và cho cả khi họ không có sức lao động. Nói cách khác,
tiền lương cần bao gồm cả tiền lương cơ bản và một phần cho an sinh xã hội
phòng khi thất nghiệp. Về thực chất tiền lương này cao hơn so với tiền lương
của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương:
- Tiền lương bị chi phối không những bởi quy luật giá trị, quy luật cung
cầu lao động mà còn bị chi phối bởi các qui luật kinh tế khác, trong đó có qui
luật về mức sống tối thiểu.
- Cách biệt về tiền lương giữa những người thấp nhất và cao nhất không
như tiền lương trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
- Tiền lương có tính bảo đảm cao, không những bảo đảm mức sống cho
người lao động trong quá trình làm việc mà còn bảo đảm cho họ có mức sống
khi suy giảm sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn.
- Tiền lương dựa trên điều kiện lao động tốt, các tiêu chuẩn lao động và
chế độ làm việc ngày càng được hoàn thiện.
- Tiền lương linh hoạt tương đối, không những thể hiện giá trị lao động
mà cả hiệu suất lao động do sự tham gia của người lao động vào quá trình phân
phối lần đầu và lần 2 trong nội bộ doanh nghiệp.
- Mức tiền lương tăng dựa trên sự khai thác các yếu tố tiềm năng trong
sản xuất. Tiền lương là kết quả của mối liên kết quản lý lao động, không dựa
vào sự chiếm đoạt của người sử dụng lao động đối với người lao động.
Tuy nhiên Việt Nam hiện tại trong thời kỳ quá độ, từ nền sản xuất nông
nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, không thể tránh khỏi những yếu
tố của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như: sự cạnh tranh (kể cả cạnh
9
tranh không lành mạnh), phá sản, tình trạng thất nghiệp, sự phân hoá mạnh của
các mức lương, sự phân hoá về thu nhập, mức sống của xã hội và các tầng lớp
và khu vực sản phẩm tiêu dùng. Mức tăng của tổng sản phẩm xã hội (tư liệu
tiêu dùng + tư liệu sản xuất) lớn hơn mức tăng tiêu dùng làm cho sản phẩm xã
hôi tính bình quân theo đầu người tăng lên, năng suất lao động tăng nhanh hơn
tiền lương. Nguyên tắc này mang tính kinh tế nên cần được duy trì tuyệt đối,
nhằm đảm bảo sư tồn tại và phát triển của các donah nghiệp và của cả xã hội.
- Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động
làm trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân
Cơ sở của nguyên tắc này là đảm bảo kết hợp hài hoà giữa quá trình phân
công lao động và phát triển xã hội. Tính phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành
trong nền kinh tế quốc dân đòi hỏi trình độ lành nghề của người lao động là
khác nhau dẫn đến tiền lương bình quân của các ngành là khác nhau. Nguyên
tắc này khẳng định một sự phân biệt cần thiết các điều kiện lao động nhằm phục
vụ chính sách kinh tế xã hội. Mức lương cao hơn với một yêu cầu về kỹ năng,
trình độ, kinh nghiệm sẽ thúc đẩy người lao động tự học hỏi, tích luỹ kinh
nghiệm và nâng cao năng suất lao động.Nguyên tắc này thể hiện tính xã hội của
tiền lương, do đó không thể coi nhẹ. Nó bao hàm ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành
trong nền kinh tế quốc dân. Xét trong tòan bộ nền kinh tế, mỗi ngành có một vai
trò khác nhau trong các giai đoạn, thời kỳ phát triển khác nhau. Những ngành
có vai trò quan trọng, mang tính mũi nhọn được chú trọng cần được tập trung
tài nguyên, nhân lực để thúc đẩy phát triển kéo theo sự phát triển của các ngành
khác và các ngành mũi nhọn đó được áp dụng hưởng mức lương cao hơn so với
các ngành khác. Sự khác nhau về môi trường, khí hậu, dân cư, giá cả sinh hoạt
sẽ tạo ra sự chênh lệch nội dung. Sự khác nhau đó được bù lại bằng chế độ
chính sách mà tiền lương là một phần trong đó. Nguyên tắc này đã được cụ thể
hoá trong Bộ Luật Lao động nước ta.
11
Mỗi nguyên tắc trên đây phản ánh một khía cạnh khác nhau của tiền
lương, chúng kết hợp hài hoà và bổ sung cho nhau một cách thống nhất và tạo
ra vai trò quan trọng của tiền lương.
r Yêu cầu của tổ chức tiền lương
- Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cá nhân trong từng thời
kỳ
- Mô hình phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp
- Thâm niên làm việc trong doanh nghiệp
- Các khoản chi phí khác về tiền lương (nếu có).
Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương:
2. Quản lý Nhà nước về tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà
nước
13
Công việc
Kỹ năng
Nỗ lực
Trách nhiệm
Điều kiện làm việc
Tiền lương,
thu nhập
Xã hội
-Cung cầu lao
động
-Điều kiện KT
quốc gia
-Giá cả sinh
hoạt
-Luật pháp
-Quan niệm
thành kiến
Công ty
-Định mức
LĐKT
-Khả năng chi
- Các Bộ quản lý ngành, các đại phương (cấp tỉnh, thành phố) có trách
nhiệm và quyền hạn quản lý công tác tiền lương của các doanh nghiệp,
cơ quan trong phạm vi của mình trên cơ sở chỉ đạo của Bộ LĐ -
TB&XH. Trong đó, phải báo cáo thường xuyên lên Bộ LĐ - TB&XH
về công átc quản lý tiền lương tại Bộ, ngành mình.
- Các doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện công tác lao động, tiền
lương theo quy định, trong đó công tác tổ chức, xây dựng đơn giá và
thực hiện các thủ tục hành chính cần thiết trong hoạt động tiền lương;
14
và báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên về tiền lương và thu nhập của
doanh nghiệp mình.
* Quản lý tiền lương, thu nhập của Nhà nước có những nội dung cụ thể
sau :
- Nghiên cứu ban hành hệ thống văn bản pháp lý về tiền lương, thu nhập
như :
+ Từng thời kỳ ban hành mức tiền lương tối thiểu chung, mức tiền lương
tối thiểu theo khu vực, mức tiền lương tối thiểu theo vùng;
+ Xác định hệ thống thước đo giá trị thông qua hệ thống thang lương, bảng
lương, chế độ phụ cấp lương;
+ Quy định các chế độ trả lương và cơ chế quản lý tiền lương của từng khu
vực;
+ Ban hành các tiêu chuẩn nghề, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật công nhân,
tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và các phương pháp xây dựng định mức lao
động tổng hợp cho các thành phần kinh tế.
- Xây dựng chương trình mục tiêu, chủ trương, phương hướng, kế hoạch
về tiền lương, tiền công chung và của từng thành phần kinh tế cho từng
thời kỳ.
- Tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chính sách tiền lương, thu
nhập, các tiêu chuẩn, định mức trong các thành phần kinh tế nói chung
cũng như các doanh nghiệp nói riêng.
Nhận thấy những tồn tại trên, từ những năm đầu của thập kỷ 80 chúng ta
đã bắt đầu đổi mới tổ chức, quản lý doanh nghiệp, bước đầu tách hai chức năng
sở hữu và kinh doanh. Song xác định ai là người cụ thể đại diện chủ sở hữu
trong doanh nghiệp qua thực tiễn đổi mới vừa qua cho thấy không phải là việc
dễ dàng, nhiều công trình khoa học còn đang tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ
vấn đề này. Ở đây cần lưu ý một điều là không được hiểu lẫn lộn giữa Nhà nước
sở hữu và Nhà nước kinh doanh trực tiếp. Nếu hiểu Nhà nước nói chung thì
16
không những không tạo điều kiện tách hai chức năng sở hữu và kinh doanh mà
sẽ dẫn đến tình trạng Nhà nước bao biện, làm thay cho doanh nghiệp, còn doanh
nghiệp thì thiếu chủ động như trước đây. Nếu coi nhẹ mặt sở hữu sẽ dẫn đến
thất thoát, lãng phí và đồng vốn thuộc sở hữu Nhà nước đạt hiệu quả thấp.
Từ thời kỳ kế hoạch hoá tập trung đến nay trong phạm vi một ngành, một
vùng chúng ta vẫn xác định chủ sở hữu là các Bộ, ngành đối với doanh nghiệp ở
Trung ương và địa phương đối với những doanh nghiệp ở địa phương. Nhưng
khi thực hiện đang có sự xâm lấn nhau trong chức năng giữa cơ quan quản lý
Nhà nước và doanh nghiệp. Một mặt các cơ quan quản lý Nhà nước quản lý
không chặt những vấn đề cần quản lý đối với các doanh nghiệp Nhà nước mà
thường hay can thiệp sâu vào công việc quản lý tác nghiệp của doanh nghiệp.
Mặt khác các doanh nghiệp ngoài chức năng kinh doanh lại còn được giao thực
hiện một số công việc thuộc chức năng của các cơ quan quản lý Nhà nước. Việc
can thiệp sâu vào công việc quản trị kinh doanh đã làm cho các doanh nghiệp
tiếp tục ỷ lại Nhà nước, không phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách
nhiệm, không có khả năng đưa ra những giải pháp kịp thời cho những cơ hội
làm ăn của mình, đồng thời đã làm cho các cơ quan chủ quản không tập trung
được sức lực thời gian để thực hiện chức năng của chính mình là quản lý các
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh theo đúng hướng
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, tuân thủ đúng pháp luật.
Những vấn đề nêu trên cho thấy vấn đề chủ sở hữu trong doanh nghiệp
vẫn chưa có giải pháp rõ ràng, giữa Nhà nước, Giám đốc và tập thể người lao
18
Chính phủ
Địa phương Các Bộ, ngành
Tổng Công ty hạng
đặc biệt
Doanh nghiệp địa
phương
Bộ Lao động -
Thương binh và xã
hội
Doanh nghiệp thuộc
các Bộ, ngành
2.3. Cơ chế quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước:
Để đáp ứng đòi hỏi của cơ chế quản lý kinh tế mới, Chính phủ đã ban
hành Nghị định 26/CP ngày 25/03/1993 và Nghị định 28/CP ngày 28/3/1997 về
đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước. Trong
đó Nhà nước không trực tiếp quản lý quỹ tiền lương của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp có quyền tự xây dựng quỹ tiền lương thông qua đơn giá tiền lương được
Nhà nước giao (trên cơ sở doanh nghiệp đã xác định đơn giá và có sự điều
chỉnh của Nhà nước sao cho phù hợp với điều kiện của từng ngành, lĩnh vực,
điều kiện thực tế và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính đến
giá cả sức lao động trên thị trường).
Việc quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước được
quy định như sau :
2.3.1. Nguyên tắc chung:
- Các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp nhà nước đều phải có định mức
lao động và đơn giá tiền lương. Đơn giá tiền lương phải được xây dựng trên cơ
sở định mức lao động trung bình tiên tiến của doanh nghiệp và các thông số tiền
19
tại khoản 2, điều 5 Nghị định số 28/CP ngày 28/3/1997 của Chính phủ.
- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện, xây dựng đơn giá tiền lương và quản lý
tiền lương, thu nhập của các doanh nghiệp thuộc Bộ quản lý ngành, lĩnh vực,
các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
* Đối với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực:
- Trước tháng 4 hằng năm, thẩm định và giao đơn giá tiền lương cho các
doanh nghiệp thuộc quyền quản lý
- Phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, thẩm định đơn giá
tiền lương cho các Tổng công ty thành lập theo quyết định số 90/TTg ngày
7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ được xếp doanh nghiệp hạng đặc biệt
- Kiểm tra việc xây dựng, thực hiện đơn giá tiền lương và quản lý lao
động, tiền lương, thu nhập của các doanh nghiệp thuộc quyền
* Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo để Sở
Lao động- Thương binh và Xã hội phối hợp với các Sở quản lý ngành, lĩnh
vực:
- Hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của địa phương để
xây dựng đơn giá tiền lương theo quy định tại Thông tư 13/LĐTB&XH-TT
ngày 10/4/4997
- Trước tháng 4 hàng năm, thẩm định và giao đơn giá tiền lương cho
các doanh nghiệp nhà nước và các Công ty cổ phần có trên 50% vốn do
doanh nghiệp nhà nước góp thuộc quyền quản sau khi trao đổi quản lý vốn
và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp ở địa phương.
- Thanh tra kiểm tra việc xây dựng, thực hiện đơn giá tiền lương và
quản lý lao động, tiền lương, thu nhập của các doanh nghiệp trực thuộc địa
phương.
* Cán bộ quản lý ngành, lĩnh vực và các Sở Lao động -Thương binh
và Xã hội Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
21
- Chậm nhất vào tháng 5 hàng năm, báo cáo về Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội tình hình đơn giá tiền lương hàng năm kế hoạch
lương.
Các doanh nghiệp phải tiến hành xây dựng đơn giá tiền lương từ quý
IV năm báo cáo để gửi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền kịp thẩm
định và giao đơn giá tiền lương vào quý I năm kế hoạch.
* Thủ tục hành chính đề nghị duyệt đơn giá tiền lương:
Theo phân cấp và tổ chức quản lý, sau khi xây dựng đơn giá tiền
lương, doanh nghiệp có công văn gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm định và
giao đơn giá tiền lương theo quy định tại điểm 2 nói trên;
Công văn gửi kèm các biểu sau:
- Biểu trình xây dựng đơn giá tiền lương theo mẫu số 3a và số 3b.
- Đối với doanh nghiệp có nhiều đơn vị thành viên và có nhiều đơn giá tiền
lương thì lập biểu tổng hợp đơn giá tiền lương theo mẫu số 4.
* Báo cáo tình hình thực hiện lao động, tiền lương và thu nhập.
Vào quý I chậm nhất là tháng 4 năm kế hoạch, doanh nghiệp phải báo
cáo cho cơ quan có thẩm quyền giao đơn giá tình hình thực hiện lao động,
tiền lương và thu nhập của năm trước liền kề theo mẫu số 5 kèm theo Thông
tư 13/ LĐTBXH-TT ngày 10/4/1997.
2.3.4. Xá c định quỹ tiền lương thực hiện theo kết quả sản xuất kinh
doanh.
* Điều kiện xác định quỹ tiền lương thực hiện:
- Các chỉ tiêu tổng sản phẩm hàng hoá (kể cả sản phẩm quy đổi), tổng
doanh thu, chi phí, lợi nhuận thực hiện được xác định theo quy chế quản lý
tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước ban hành
kèm theo nghị định số 59/ CP ngày3/10/1996 của Chính phủ. Trong các chỉ
tiêu nêu trên, nếu có yếu tố tăng hoặc giảm do nguyên nhân khách quan,
không tính đến khi xây dựng đơn giá tiền lương thì phải loại trừ khi xác
định quỹ tiền lương thực hiện.
23
- Trước khi xác định quỹ tiền lương thực hiện, doanh nghiệp phải đánh
giá và xác định các khoản nộp ngân sách Nhà nước, lợi nhuận thực hiện và
- Khi quyết toán quỹ tiền lương thực hiện theo đơn giá được giao, nếu
tiền lương thực hiện bình quân của người lao động (tính theo số lao động
định mức) trong doanh nghiệp cao hơn 2 lần mức lương bình quân chung do
Bộ LĐTBXH thông báo thì doanh nghiệp chỉ được quyết toán tổng quỹ tiền
lương thực hiện ững với mức tiền lương bình quân của lao động (tính theo
số lao động định mức) trong doanh nghiệp bằng hai lần mức lương bình
quân được thông báo.
- Các doanh nghiệp chưa xây dựng định mức lao động và chưa có đơn
giá tiền lương được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì quỹ tiền
lương thực hiện được xác định theo số lao động thực tế bình quân sử dụng
nhân với hệ số mức lương bình quân của doanh nghiệp do cơ quan có thẩm
quyền giao đơn giá quyết định với mức lương tối thiểu chung do Chính phủ
quy định (tại thời điểm thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 là
210.000đ/tháng).
Tổng quỹ tiền lương thực hiện được xác định nói trên là chi phí hợp lệ
trong giá thành hoặc phí lưu thông, đồng thời làm căn cứ để xác định lợi tức
chịu thuế của doanh nghiệp.
2.3.5. Giao đơn giá tiền lương và quy chế phân phối, trả lương trong
doanh nghiệp.
* Giao đơn giá tiền lương trong doanh nghiệp.
Căn cứ vào đơn giá tiền lương do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, trên cơ
sở cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, sau khi trao đổi ý kiến với ban chấp hành Công Đoàn cùng
cấp, Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc các doanh nghiệp (đối với
doanh nghiệp không có Hội đồng quản trị), xem xét và giao đơn giá tiền
lương cho các đơn vị thành viên (hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc).
Việc giao đơn giá tiền lương cần chú ý một số nội dung sau:
25