Hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước - Pdf 10

LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của Nhà nước thì các doanh nghiệp Nhà nước nổi lên là
một bộ phận quan trọng, là chỗ dựa để kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo. Thông qua nó, Nhà nước thực hiện chức năng
điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
theo định hướng XHCN. Trong khi đó một số doanh nghiệp
Nhà nước còn có nhiều tiêu cực, làm ăn không có hiệu quả và
thua lỗ. Vì vậy một yêu cầu đặt ra là phải làm sao để các
doanh nghiệp Nhà nước - các doanh nghiệp nắm giữ các
ngành, các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế có thể phát triển
một cách vững mạnh và thực sự trở thành một lực lượng vật
chất hùng mạnh.
Để có thể đứng vững và phát huy vai trò to lớn của mình
trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp Nhà nước phải
làm ăn thật sự hiệu quả mà trước hết là phải quản lý, sử dụng
tốt các nguồn đầu vào. Do đó việc quản lý tốt tiền lương, thu
nhập - một trong những chi phí đầu vào là hết sức cần thiết,
làm sao để sử dụng hiệu quả nhất chi phí tiền lương, phát huy
được vai trò đòn bẩy kinh tế của tiền lương.
Trong thời gian vừa qua vấn đề quản lý tiền lương, thu
nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước mặc dù đã được nhiều
nhà quản lý, nghiên cứu đề cập đến nhưng do tiền lương một
mặt là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, mặt khác tiền
lương trong cơ chế thị trường vẫn là một vấn đề mới nên việc
đưa ra các chính sách, giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản
lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước là
vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện
nay. Nó có liên quan chặt chẽ đến động lực phát triển và tăng
trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, khai thác

1. Lý luận chung về tiền lương, thu nhập
1.1. Khái niệm, bản chất của tiền lương, thu nhập
Từ khi sức lao động trở thành hàng hoá, xuất hiện thị
trường sức lao động (hay còn gọi là thị trường lao động) thì
khái niệm tiền lương xuất hiện. Tiền lương là một phạm trù
kinh tế - xã hội, thể hiện kết quả của sự trao đổi trên thị
trường lao động.
Để có thể tiền hành sản xuất, cần có sự kết hợp của hai
yếu tố cơ bản là lao động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của
một bộ phận dân cư trong xã hội, còn một bộ phận dân cư
khác, do không có vốn, chỉ có sức lao động họ phải đi làm
thuê cho những người có vốn, đổi lại họ được nhận một khoản
tiền, gọi là tiền lương( hay tiền công). Như vậy khái niệm
"tiền lương" xuất hiện khi có sự sử dụng sức lao động của
một bộ phận dân cư trong xã hội một cách có tổ chức và đều
đặn bởi một bộ phận dân cư khác. Tiền lương, tiền công được
hiểu là giá cả sức lao động, nó là biểu hiện bằng tiền của giá
trị sức lao động.
Xét trong mối quan hệ lao động thì tiền lương là giá cả
sức lao động, được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa
người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với
quan hệ cung cầu lao động trên thị trường. Vậy giá cả sức lao
động do cái gì quyết định, do lượng hao phí lao động xã hội
cần thiết hay do cung cầu trên thị trường quyết định? Chúng
ta phải hiểu là cơ sở của giá cả sức lao động là do lượng hao
phí lao động xã hội cần thiết quyết định (còn gọi là giá trị sức
lao động), còn sự biến động trên thị trường của giá cả sức lao
động xoay quanh giá trị sức lao động là do quan hệ cung cầu
quyết định.
Ta có thể đi đến một khái niệm đầy đủ về tiền lương,

lao động.
Nhưng giữa tiền lương và tiền công có sự phân biệt nhất
định. Trước đây hai khái niệm này khác nhau về cả nội dung
và đối tượng chi trả. Khái niệm tiền lương được sử dụng trong
khu vực quốc doanh, nó là phần trả trực tiếp cho người lao
động, ngoài tiền lương được trả bằng tiền người lao động còn
nhận được phần phân phối gián tiếp bằng hiện vật thông qua
tem, phiếu và một số chính sách phúc lợi như chính sách nhà
ở, bảo hiểm xã hôi, khám chữa bệnh... Tiền công được dùng
cho các đối tượng còn lại ngoài Kinh tế quốc doanh, nó bao
gồm cả phần trả trực tiếp và gián tiếp cho người lao động. Nói
khác đi tiền công chính là tiền lương đã được tiền tệ hóa.
Hiện nay tiền lương và tiền công dường như không còn
sự tách biệt, đều là giá cả sức lao động nhưng vẫn còn thói
quen quan niệm tiền lương gắn với khu vực kinh tế quốc
doanh và tiền công gắn với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Nhưng dù tiền lương hay tiền công cũng đều phải đảm
bảo các yêu cầu sau :
+ Tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất sức lao động mở rộng
+ Thúc đẩy tăng năng suất lao động
+ Phù hợp với cung cầu lao động
Trong khái niệm tiền lương cần phân biệt giữa tiền lương
danh nghĩa và tiền lương thực tế. Tiền lương danh nghĩa là số
tiền người lao động trực tiếp nhận được từ phía người sử dụng
lao động trả cho công việc họ làm, còn tiền lương thực tế
được hiểu là lượng hàng hóa, dịch vụ cần thiết mà người lao
động hưởng lương mua được bằng lượng tiền lương danh
nghĩa của họ.
Như vậy tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào tiền
lương danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả hàng hoá, dịch

Do lao động là hoạt động chính của con người và là đầu
vào của mọi qúa trình sản xuất trong xã hội, tiền lương là hình
thái cơ bản của thù lao lao động thể hiện giá trị của khối
lượng sản phẩm và dịch vụ mà người lao động nhận được trên
cơ sở trao đổi sức lao động. Hiểu theo cách này, tiền lương bị
chi phối bởi quy luật giá trị và phân phối theo lao động.
1.2.2. Duy trì và phát triển sức lao động
Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao động
nhằm thoả mãn phần lớn các nhu cầu về văn hoá và vật chất
của người lao động. Mức độ thoả mãn các nhu cầu của người
lao động phần lớn được căn cứ vào độ lớn của các mức tiền
lương. Độ lớn của tiền lương phải tạo ra các điều kiện cần
thiết để bảo đảm tái sản xuất sức lao động giản đơn và mở
rộng sức lao động cho người lao động và gia đình họ. Hiểu
theo cách này tiền lương bị chi phối bởi quy luật tái sản xuất
sức lao động. Có nghĩa là trong một chừng mực nhất định, cần
thiết phải bảo đảm mức lương tối thiểu cho người lao động
không phụ thuộc vào hiệu quả lao động của họ. Bên cạnh đó,
các mức tiền lương tăng không ngừng sẽ có tác động nâng cao
khả năng tái sản xuất sức lao động, tạo điều kiện nâng cao
chất lượng lao động và các giá trị khác của người lao động.
1.2.3. Kích thích lao động.
Các mức tiền lương và cơ cấu tiền lương là các đòn bẩy
kinh tế rất quan trọng để định hướng quan tâm và động cơ
trong lao động của người lao động. Khi độ lớn của tiền lương
phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh, khi khối lượng
các tư liệu sinh hoạt của người lao động phụ thuộc trực tiếp
vào độ lớn của các mức tiền lương thì người lao động sẽ quan
tâm trực tiếp đến kết quả hoạt động của họ. Nâng cao hiệu quả
lao động là nguồn gốc để tăng thu nhập, tăng khả năng thoả

1.3. Tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN
Các đặc điểm cơ bản của tiền lương:
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc
đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động và gia đình
họ là một mục tiêu quan trọng. Do vậy tiền lương không bị hạ
thấp một cách quá đáng hoặc quá linh hoạt, trái lại, nó dừng ở
một mức vừa phải và có tính ổn định. Tuy nhiên, thất nghiệp
vì thế cũng có nguy cơ gia tăng nếu không có biện pháp can
thiệp kịp thời của Chính phủ thông qua các giải pháp kích
cầu.
- Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tiền
lương có mối quan hệ tỷ lệ thuận với mức tăng lợi nhuận và
tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là tiền đề để tăng tiền
lương, thu nhập, nâng cao mức sống của người làm công ăn
lương và do vậy lợi nhuận phải được thực hiện trên cơ sở tăng
năng suất lao động, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động,
không dựa trên việc khai thác, bóc lột sức lao động.
- Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc
tăng tiền lương cần thiết phải đạt được trên cơ sở tăng cường
mối liên kết giữa lao động và quản lý, tiến tới sự kết hợp hài
hoà của các lợi ích, trên cơ sở các bên cùng có lợi, cùng chia
sẻ lợi ích.
- Phân phối tiền lương và thu nhập trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN phản ánh sự chênh lệch về số
lượng và chất lượng lao động thực hiện. Tiền lương không
đơn thuần thể hiện chi phí đầu vào, mà còn thể hiện cả kết quả
của "đầu ra". Bài toán phân chia tiền lương trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN là bài toán phân chia lợi ích
được thực hiện thông qua việc phát huy vai trò của thoả ước

- Tiền lương linh hoạt tương đối, không những thể hiện
giá trị lao động mà cả hiệu suất lao động do sự tham gia của
người lao động vào quá trình phân phối lần đầu và lần 2 trong
nội bộ doanh nghiệp.
- Mức tiền lương tăng dựa trên sự khai thác các yếu tố
tiềm năng trong sản xuất. Tiền lương là kết quả của mối liên
kết quản lý lao động, không dựa vào sự chiếm đoạt của người
sử dụng lao động đối với người lao động.
Tuy nhiên Việt Nam hiện tại trong thời kỳ quá độ, từ nền
sản xuất nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy,
không thể tránh khỏi những yếu tố của nền kinh tế thị trường
tư bản chủ nghĩa như: sự cạnh tranh (kể cả cạnh tranh không
lành mạnh), phá sản, tình trạng thất nghiệp, sự phân hoá mạnh
của các mức lương, sự phân hoá về thu nhập, mức sống của
xã hội và các tầng lớp dân cư. Vì vậy cần thiết phải chấp nhận
một sự phân biệt về tiền lương theo vùng, ngành, theo kết quả
sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
1.4. Yêu cầu và các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền
lương
Tổ chức tiền lương là quá trình thực hiện chi trả cho
người lao động theo các yêu cầu và nguyên tắc của pháp luật
hiện hành.
Tổ chức tiền lương bao gồm toàn bộ quá trình từ việc
xây dựng quỹ tiền lương đến việc áp dụng các chế độ hình
thức trả lương để phân phối đến tay người lao động. Tổ chức
tiền lương là một mảng quản lý rất phức tạp, đòi hỏi kiến
thức, kinh nghiệm và bảo đảm các nguyên tắc.
t Nguyên tắc của tổ chức tiền lương
- Trả lương như nhau cho những lao động
như nhau

hội.
- Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những
người lao động làm trong các lĩnh vực, ngành nghề khác
nhau trong nền kinh tế quốc dân
Cơ sở của nguyên tắc này là đảm bảo kết hợp hài hoà
giữa quá trình phân công lao động và phát triển xã hội. Tính
phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành trong nền kinh tế quốc
dân đòi hỏi trình độ lành nghề của người lao động là khác
nhau dẫn đến tiền lương bình quân của các ngành là khác
nhau. Nguyên tắc này khẳng định một sự phân biệt cần thiết
các điều kiện lao động nhằm phục vụ chính sách kinh tế xã
hội. Mức lương cao hơn với một yêu cầu về kỹ năng, trình độ,
kinh nghiệm sẽ thúc đẩy người lao động tự học hỏi, tích luỹ
kinh nghiệm và nâng cao năng suất lao động.Nguyên tắc này
thể hiện tính xã hội của tiền lương, do đó không thể coi nhẹ.
Nó bao hàm ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế
quốc dân. Xét trong tòan bộ nền kinh tế, mỗi ngành có một
vai trò khác nhau trong các giai đoạn, thời kỳ phát triển khác
nhau. Những ngành có vai trò quan trọng, mang tính mũi
nhọn được chú trọng cần được tập trung tài nguyên, nhân lực
để thúc đẩy phát triển kéo theo sự phát triển của các ngành
khác và các ngành mũi nhọn đó được áp dụng hưởng mức
lương cao hơn so với các ngành khác. Sự khác nhau về môi
trường, khí hậu, dân cư, giá cả sinh hoạt sẽ tạo ra sự chênh
lệch nội dung. Sự khác nhau đó được bù lại bằng chế độ chính
sách mà tiền lương là một phần trong đó. Nguyên tắc này đã
được cụ thể hoá trong Bộ Luật Lao động nước ta.
Mỗi nguyên tắc trên đây phản ánh một khía cạnh khác
nhau của tiền lương, chúng kết hợp hài hoà và bổ sung cho
nhau một cách thống nhất và tạo ra vai trò quan trọng của tiền

Khi tổ chức tiền lương cần phải nghiên cứu kỹ các yếu tố
xác định và ảnh hưởng đến tiền lương nếu không tiền lương
sẽ mang tính chủ quan và thiên lệch. Các yếu tố chi phối tiền
lương , đó là:
- Giá trị công việc
- Trình độ phát triển kinh tế chung của đất nước và của
từng vùng
- Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cá
nhân trong từng thời kỳ
- Mô hình phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp
- Thâm niên làm việc trong doanh nghiệp
- Các khoản chi phí khác về tiền lương (nếu có).
Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương:
Công việc
Kỹ năng
Nỗ lực
Trách nhiệm
Điều kiện l m vià ệc
Tiền lương,
thu nhập
Xã hội
-Cung cầu lao
động
-Điều kiện KT
quốc gia
-Giá cả sinh
hoạt
-Luật pháp
-Quan niệm
th nh kià ến

lương.
* Việc quản lý Nhà nước về tiền lương được phân cấp
thực hiện như sau :
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan quản
lý Nhà nước về tiền lương ở cấp cao nhất. Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội ban hành các văn bản pháp
luật để hướng dẫn các doanh nghiệp phương pháp xây
dựng đơn giá tiền lương, các thông số tiền lương và các
hệ số điều chỉnh cần thiết và thông báo các thông tin
cần thiết về tiền lương trong phạm vi toàn bộ nền kinh
tế. Qua đó chỉ đạo việc quản lý tiền lương của các Bộ,
ngành và địa phương trong toàn quốc.
- Các Bộ quản lý ngành, các đại phương (cấp tỉnh, thành
phố) có trách nhiệm và quyền hạn quản lý công tác tiền
lương của các doanh nghiệp, cơ quan trong phạm vi của
mình trên cơ sở chỉ đạo của Bộ LĐ - TB&XH. Trong
đó, phải báo cáo thường xuyên lên Bộ LĐ - TB&XH về
công átc quản lý tiền lương tại Bộ, ngành mình.
- Các doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện công tác
lao động, tiền lương theo quy định, trong đó công tác tổ
chức, xây dựng đơn giá và thực hiện các thủ tục hành
chính cần thiết trong hoạt động tiền lương; và báo cáo
lên cơ quan quản lý cấp trên về tiền lương và thu nhập
của doanh nghiệp mình.
* Quản lý tiền lương, thu nhập của Nhà nước có những
nội dung cụ thể sau :
- Nghiên cứu ban hành hệ thống văn bản pháp lý về tiền
lương, thu nhập như :
+ Từng thời kỳ ban hành mức tiền lương tối thiểu chung,
mức tiền lương tối thiểu theo khu vực, mức tiền lương tối

quyết địnhcủa chủ sở hữu, đến mối quan hệ giữa quyền sở
hữu và quyền sử dụng. Sở hữu là vấn đề cốt lõi trong quan hệ
sản xuất, vì người nào nắm quyền sở hữu thì người đó sẽ có
quyền chiếm dụng, quyền định đoạt và quyền hưởng thụ.
Cũng vì lẽ đó, sở hữu là xuất phát điểm, làm cơ sở cho chủ sở
hữu quyết định sẽ quản lý tài sản của mình ra sao, sẽ phân
phối kết quả sản xuất kinh doanh mà tài sản đó mang lại như
thế nào.
Trong kinh tế quốc doanh, tính chất sở hữu ở đây chính
là sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu
do vậy đương nhiên Nhà nước đóng vai trò quyết định chính
sách phân phối. Nhưng vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới
doanh nghiệp Nhà nước thì Nhà nước quản lý như thế nào,
quản lý đến đâu và cụ thể là ai?
Trong thời kỳ quản lý tập trung chúng ta đã tuyệt đối hoá
vai trò của Nhà nước. Trung ương quyết định tất cả, quản lý
tất cả, trong lĩnh vực lao động, tiền lương quyết định từ tuyển
dụng, đào tạo đến mức lương, tổng quỹ lương... của doanh
nghiệp. Sự tuyệt đối hoá có tính quan liêu này đã phải trả giá
không nhỏ là triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách
nhiệm của doanh nghiệp. Nhà nước trở thành chỗ dựa vững
chắc cho các doanh nghiệp tồn tại, tiền lương do Ngân sách
chi trả mang nặng tính bình quân, không gắn với năng suất,
hiệu quả của từng người, của từng doanh nghiệp.
Nhận thấy những tồn tại trên, từ những năm đầu của thập
kỷ 80 chúng ta đã bắt đầu đổi mới tổ chức, quản lý doanh
nghiệp, bước đầu tách hai chức năng sở hữu và kinh doanh.
Song xác định ai là người cụ thể đại diện chủ sở hữu trong

Trích đoạn Đặc điểm của các doanh nghiệp Nhà nước Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp Nhà nước Đặc điểm về laođộng và bộ máy quảnlý Doanh nghiệp với vấn đề tiền lương: Thực trạng các doanh nghiệp Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status