THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG, THU NHẬP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC - Pdf 63

Thực trạng cơ chế quản lý tiền lơng, thu nhập
trong các doanh nghiệp Nhà nớc
I. Những đặc điểm có liên quan đến việc quản lý tiền l-
ơng, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nớc.
1. Đặc điểm của các doanh nghiệp Nhà nớc
Sự phân biệt giữa hai chế độ T bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa đợc
nhìn nhận thông qua tiềm lực kinh tế do ai nắm giữ. Trong xã hội t bản thì
những tập đoàn kinh tế thì những tập đoàn t bản mạnh nắm giữ phần lớn của
cải trong nền kinh tế quốc dân và đóng vai trò là kẻ thống trị chi phối Nhà n-
ớc do nó tạo ra.
Trong xã hội chủ nghĩa, Nhà nớc là Nhà nớc của dân, do dân và vì dân
chứ không phải là Nhà nớc chịu sự chi phối của riêng tập đoàn kinh tế t bản
nào. Để đóng vai trò là Nhà nớc của dân thì ngoài chức năng quản lý xã hội
nói chung, cần và nhất định phải nắm giữ phần lớn tiềm lực kinh tế đủ mạnh
để chi phối nền kinh tế quốc dân, vì lợi ích của toàn dân tộc. Mà trong đó các
xí nghiệp quốc doanh do Nhà nớc nắm giữ chiếm vị trí quan trọng.
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, không chỉ có các xí nghiệp quốc doanh
mà còn có các xí nghiệp của các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại. Nếu
các doanh nghiệp Nhà nớc bị yếu thế so với các thành phần kinh tế khác thì
Nhà nớc khó có thể hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình và ý nghĩa
một Nhà nớc do dân, vì dân khó mà thực hiện đợc.
Để các doanh nghiệp Nhà nớc giữ đợc vai trò chủ đạo thì nó phải đảm
bảo những yêu cầu sau:
- Doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động thực sự có hiệu quả, góp phần tăng
ngân sách Nhà nớc hoặc giảm tối đa phần bù lỗ (đối với các doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực an ninh quốc phòng và các doanh nghiệp Nhà nớc đảm bảo
trong các lĩnh vực công cộng).
- Doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động có hiệu quả trong các lĩnh vực then
chốt chi phối nền kinh tế quốc dân (tài chính, tín dụng, ngân hàng, bu chính
viễn thông, điện, xăng, dầu...)
- Doanh nghiệp Nhà nớc nắm vai trò then chốt, đi đầu trong các lĩnh vực

Theo đánh giá của Bộ Khoa học công nghệ và Môi trờng thì máy móc thiết
bị của chúng ta đã lạc hậu so với thế giới khoảng 20-30 năm.
Trong các doanh nghiệp Nhà nớc, năng suất lao động thấp và mức tiêu
hao nguyên vật liệu gấp từ 2 đến 3 lần so với doanh nghiệp nớc ngoài có máy
móc thiết bị hiện đại. Có thể so sánh qua tỷ lệ vốn đầu t cho một lao động của
doanh nghiệp Nhà nớc 20-25 triệu đồng. Trong tỷ lệ này của khu vực có vốn
đầu t trực tiếp nớc ngoài là 45.000-102.000 USD/ một chỗ làm việc, cao hơn
nhiều so với khu vực Nhà nớc. Nếu doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động với năng
suất chất lợng sản phẩm thấp, không có sức cạnh tranh trên thị trờng. Làm ăn
thua lỗ cầm chừng là khó tránh khỏi, ảnh hởng đến việc thực hiện các chức
năng nhiệm vụ đợc Nhà nớc giao, đồng thời cũng ảnh hởng đến thu nhập của
ngời lao động. Tiền lơng thì bị cắt xén chứ cha nói đến tiền thởng. Tiền lơng
chỉ ở mức tối thiểu.
Tuy nhiên hiện nay, một số các doanh nghiệp, các tổng công ty đợc
trang bị những thiết những máy móc thiết bị hiện đại. Nhng phần lớn chủ yếu
phần lớn chủ yếu vẫn là do độc quyền nên kết quả sản xuất kinh doanh tốt,
doanh thu cao, lợi nhuận lớn nh xăng dầu, hàng không, điện... Thì khi đó các
doanh nghiệp lại tìm cách bớt xén, hợp lý hoá các khoản chi để phân chia cho
các cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp, thu nhập có doanh nghiệp lên tới 4
- 5 triệu đồng, gấp hàng chục lần thu nhập của doanh nghiệp có mức lơng
thấp.
3. Đặc điểm về lao động và bộ máy quản lý
Mặc dù không còn là hệ thống doanh nghiệp duy nhất trong nền kinh tế
thị trờng nh trớc kia nhng hiện nay nhìn chung các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn
còn nắm giữ đợc phần lớn lao động kỹ thuật có trình độ bậc cao, nhiều năm
trong nghề đợc đào tạo có hệ thống có khả năng đảm nhận những công việc
đòi hỏi kỹ thuật cao, nếu biết khai thác và sử dụng có hiệu quả thì đó cũng là
một lợi thế của các doanh nghiệp Nhà nớc so với các loại hình doanh nghiệp
khác. Nhng với việc buộc các doanh nghiệp phải tự hoạch toán kinh doanh,
lời ăn lỗ chịu. Quỹ tiền lơng không đợc cấp phát từ nhân sách bằng số lao

gồm các yếu tố sau:
+ Phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và nằm trong khuôn
khổ luật pháp quy định.
+ Có tính nhạy cảm để tạo ra công bằng và sự phát triển.
+ Dễ hiểu và không quá phức tạp.
+ Phải đợc xây dựng trên cơ sở bàn bạc công khai và dựa vào kết quả
đàm phán, thơng lợng.
Cùng với hệ thống các quy định về tiền lơng, doanh nghiệp phải chú ý
tới mối quan hệ giữa chi phí tiền lơng với khả năng cạnh tranh, hiệu quả mà
trong đó lợi nhuận và năng xuất lao động là sự biểu hiện tổng hợp nhất.
Do tiền lơng là yếu tố chi phí sản xuất nên trong điều kiện chi phí vật
chất (C) và giá sản phẩm, dịch vụ không đổi thì sự thay đổi chi phí tiền l ơng
(V) sẽ tác động tới khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp. Muốn
tăng khả năng cạnh tranh với lợi nhuận thì bắt buộc doanh nghiệp phải giảm
chi phí lao động bằng hai cách hoặc giảm tiền lơng hoặc tăng năng suất lao
động. Trong hai biện pháp này thì giảm tiền lơng tuyệt đối thờng không nhận
đợc sự đồng tình của ngời lao động nên chỉ đợc áp dụng trong một số trờng
hợp nhất định, còn giảm lơng tơng đối thông qua tăng năng suất lao động thì
ít gặp sự phản đối của ngời lao động và là biện pháp đợc áp dụng phổ biến. Vì
vậy cần phải quan tâm tới năng suất lao động và các biện pháp tăng năng suất
lao động. Thực chất năng suất lao động cũng là yếu tố quan trọng tác động
đến lợi nhuận và tính cạnh tranh vủa doanh nghiệp.
Luật doanh nghiệp Nhà nớc, Luật doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
tại Việt Nam, Luật doanh nghiệp và Bộ luật lao động đã quy định quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp về tiền lơng nh sau:
- Xây dựng, áp dụng các định mức lao động, đơn giá tiền lơng trên đơn
vị sản phẩm, riêng đối với doanh nghiệp Nhà nớc thì phải trong khuôn khổ
các định mức, đơn giá của Nhà nớc.
- Đợc tuyển chọn, thuê mớn, bố trí, sử dụng, đào tạo lao động, lựa chọn
các hình thức xác địmh chi phí tiền lơng cho phù hợp, lựa chọn các hình thức

tố mở đờng cho sự phát triển kinh tế, là lực lợng vật chất quan trong và là một
công cụ để Nhà nớc định hớng và điều tiết nền kinh tế.
Đó là quan điểm, phơng hớng, nhng thực trạng doanh nghiệp Nhà nớc hiện
tại ra sao? Trớc hết về số lợng, tính đến nay tổng số doanh nghiệp Nhà nớc là
5280. Trong tổng số: doanh nghiệp Nhà nớc do Trung ơng quản lý là 1.908, doanh
nghiệp Nhà nớc do địa phơng quản lý là 3.372.
Tình hình tài chính, lao động của các doanh nghiệp Nhà nớc
Biểu số 1
Năm
Chỉ tiêu
1996 1997 1998 1999 2000
Tổng số DNNN 6052 5740 5789 5571 5280
Tổng số laođộng(ng) 1.124.118 1.543.083 1.642.370 1.740.039 1.702.318
Doanh thu (tr.đ) 20.684.757 25.144.082 27.818.045 33.780.427 29.741.144
Lợi nhuận (tr.đ) 179.362.514 236.998.165 269.928.056 264.967.799 259.810.429
Nộp ng.sách (tr.đ) 10.455.111 11.250.053 12.169.787 14.562.270 13.111.126
(Trích Báo cáo tổng kết tình hình tài chính, lao động, tiền lơng chung cả nớc
1996 - 2000)
So với năm 1990 thì số doanh nghiệp Nhà nớc giảm trên 50%, do đợc sắp
xếp lại bằng sát nhập, giải thể, cố phần hoá, đa dạng hoá hình thức sở hữu. Tính
đến 1/1/2000 số doanh nghiệp đã thực hiện cổ phần hoá là 366, cổ phần hoá một
bộ phận doanh nghiệp là 85, đa dạng hoá là 4, bán hoặc khoán cho thuê là 19.
Tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Nhà nớc đạt trên 530.000 tỷ đồng, bình
quân một doanh nghiệp khoảng 100 tỷ. Trong đó doanh nghiệp Trung ơng đạt trên
440.000tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp là 220tỷ đồng; doanh nghiệp địa
phơng đạt trên 90.000 tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp là 27 tỷ đồng. Tuy
tổng số và bình quân 1 doanh nghiệp đã gấp nhiều lần năm 1990, nhng quy mô
nh vậy vẫn còn nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp địa phơng, nếu tính bằng USD
còn thấp hơn nhiều. Trong tổng số giá trị tài sản của các doanh nghiệp Nhà nớc,
ngành công nghịp chiếm tỷ trọng lớn nhất (31,9%), tiếp đến là ngành tài chính

1.1. Tình hình quản lý tiền lơng , thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nớc tr-
ớc khi có Nghị định 28/CP
1.1.1.Thực trạng cơ chế quản lý tiền lơng, thu nhập trớc khi có Nghị định 28/CP
Để có cơ sở cho việc ban hành Nghị định 28/CP về đổi mới cơ chế quản lý
tiền lơng, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nớc ngày 28/3/1997, năm 1996
Liên Bộ LĐTB&XH - Tài chính - Kế hoạch và đầu t - Thanh tra Nhà nớc, Kiểm
toán Nhà nớc, Ban vật giá Chính phủ và Tổng Liên đoàn Lao động Việt nam đã tổ
chức kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động tài chính, tiền lơng và thu nhập của
trên 340 doanh nghiệp Nhà nớc từ Trung ơng đến địa phơng thuộc tất cả các
ngành kinh tế ở 61 tỉnh, thành phố từ các doanh nghiệp lớn, lợi nhuận và thu nhập
cao đến các doanh nghiệp nhỏ làm ăn thua lỗ, tiền lơng và thu nhập thấp. Tình
hình nổi bật nh sau:
a) Mặt tích cực
- Tất cả các doanh nghiệp đã thực hiện việc chuyển xếp lơng mới theo đúng quy
định tại Nghị định 26/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ. Hệ thống thang lơng,
bảng lơng mới có tác dụng trong việc phân phối thu nhập của ngời lao động và
việc xếp lơng mơí đã tạo điều kiện đánh giá lại trình độ, chất lợng đội ngũ lao
động, tạo điều kiện tính đủ hơn chi phí tiền lơng trong giá thành hoặc phí lu
thông, bảo đảm việc thu nộp bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế thực hiện thống
nhất và thuận lợi hơn.
- Tiền lơng và thu nhập đã thật sự trở thành động lực để các doanh nghiệp sắp xếp
lại tổ chức, phát triển ngành, nghề, tăng trởng sản xuất, giảm chi phí, tăng hiệu
quả sản xuất, kinh doanh và góp phần quản lý tốt hoạt động sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp không còn ăn vào vốn, khai thác với
hiệu suất cao công suất máy móc thiết bị, sử dụng đồng vốn ngày càng có hiệu
quả để tăng lợi nhuận, tăng nộp ngân sách Nhà nớc, đồng thời tăng tiền lơng và
thu nhập (năm 1995: bình quân một đồng tiền lơng làm ra 16,3 đồng doanh thu,
2,7 đồng nộp Ngân sách và 1,3 đồng lợi nhuận).Doanh nghiệp chủ động hơn trong
việc ký hợp đồng lao động và phân phối tiền lơng, tiền thởng.
- Việc giao đơn giá tiền lơng theo phân cấp quản lý là một chủ trơng đúng và cần

quả sản xuất, kinh doanh, không đảm bảo công bằng, xã hội khó chấp nhận.
- Nhà nớc (Liên Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội Tài chính) chỉ quản lý
đơn giá tiền lơng của 8 sản phẩm trọng yếu, còn lại phân cấp việc giao đơn giá
tiền lơng cho các Bộ, ngành, đại phơng thực hiện. Thực tế các Bộ, ngành, địa ph-
ơng đang buông lỏng quản lý để các doanh nghiệp tự xây dựng và xác định đơn
giá tiền lơng không theo các quy định của Nhà nớc, việc kiểm soát và duyệt cũng
thiếu chặt chẽ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp có tiền lơng và thu nhập cao cha
hợp lý. Nhiều doanh nghiệp không đăng ký đơn giá tiền lơng nhng cũng đợc cơ
quan có thẩm quyền duyệt quyết toán.
c) Nguyên nhân của các tồn tại
- Do hệ thống tiền lơng trong khu vực sản xuất, kinh doanh áp dụng cứng nh hệ
thống tiền lơng của khu vực hành chính sự nghiệp cho nên khi giá cả sinh hoạt
biến động, tiền lơng tối thiểu của khu vực sản xuất, kinh doanh không đợc điều
chỉnh tơng ứng, làm cho chi phí tiền lơng hạch toán trong fía thành hoặc phí lu
thông không phản ánh đúng giá trị sức lao động, trong khi các chi phí khác nh vật
t, nguyên vật liệu... lại là yếu tố động thờng xuyên đợc điều chỉnh theo giá cả
thị trờng.
- Tơng quan giữa thông số tiền lơng ( mc lơng) với năng suất lao động thông qua
định mức lao đôngj trong hệ thống chế độ tìn lơng ngay từ đầu quy định đã không
hợp lý. Tiền lơng không tơng ứng với giá trị sức lao động. để có đơn giá tiền lơng
và thu nhập bảo đảm tơng quan với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bảo đảm
tái sản xuất sức lao động nhằm ổn định, phát triển sản xuất, kinh doanh, các
doanh nghiệp phải tìm mọi cách hạ định mức, khai tăng lao động kế hoạch, tăng
cấp bậc công việc và tính thêm, tính trùng nhiều yếu tố ngoài quy định của Nhà n-
ớc. Rõ ràng cơ chế tiền lơng, đặc biệt là mức lơng tối thiểu để tính đơn giá tiền l-
ơng là quá thấp, không phù hợp, buộc các doanh nghiệp, nhất là các doanh ngiệp
làm ăn có lãi phải nói dối các cơ quan quản lý Nhà nớc.
- Cơ chế quản lý tiền lơng thông qua việc xác định và giao đơn giá tiền lơng tuy đã
đợc thực hiện nhng phơng pháp tính toán còn sơ hở, thiếu chặt chẽ và giao trên
các chỉ tiêu không quản lý đợc (tổng thu trừ tổng chi cha có tiền lơng, lợi nhuận),

mở rộng gấp 2,5 lần), phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trờng, đồng thời
khuyến khích ngời lao động nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật. Bội số và
quan hệ giữa các thang lơng, bảng lơng thể hiện ở các biểu:........(phụ lục 1..4-
Đ.án tiền lơng trong KVSXKD).
Cơ chế quản lý tiền lơng của Nhà nớc đã tạo hành lang pháp lý để doanh
nghiệp đợc quyền chủ động trong việc tính toán và trả lơng cho ngời lao động.
Một số đổi mới trong cơ chế quản lý tiền lơng, thu nhập:
a) Tách chế độ tiền lơng trong khu vực sản xuất, kinh doanh ra khỏi khu vực
hành chính sự, nghiệp, cho phép xem xét, cân đối thu nhập giữa các ngành, hiệu
quả sản xuất, kinh doanh và khả năng tự trang trải của doanh nghiệp để tính đúng
tiền lơng ở đầu vào theo chỉ số trợt giá, quan hệ tiền công trên thị trờng lao
động với tốc độ tăng trởng kinh tế, bảo đảm mối tơng quan hợp lý giữa tiền lơng
với năng suất lao động, lợi nhuận và nộp Ngân sách. Thực hiện đúng nguyên tắc
phân phối theo lao động và bảo đảm công bằng xã hội. Để thực hiện cần giải
quyết theo những giải pháp sau đây:

Nhà nớc thực hiện quản lý tiền lơng thông qua báo cáo, tính toán, xét duyệt đơn
giá tiền lơng và tiền lơng thực tế thực hiện của từng ngành, từng doanh nghiệp.
Mức tiền lơng thực hiện của doanh nghiệp cao nhất không vợt quá 2 lần mức tiền
lơng bình quân chung của tất cả các doanh nghiệp khi giao đơn giá tiền lơng và
phải đảm bảo nguyên tắc tốc độ tăng tiền lơng phải thấp hơn tốc độ tăng năng suất
lao động.

Xây dựng định mức lao động
- Tất cả các doanh nghiệp Nhà nớc phải xây dựng định mức lao động theo hớng dẫn
của Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội làm cơ sở tuyển dụng và sử dụng lao
động, xác định đơn giá tiền lơng và trả lơng gắn với năng suất, chất lợng lao động.
- Các doanh nghiệp phải đăng ký định mức lao động với Bộ, ngành (đối với các
doanh nghiệp do Trung ơng quản lý) hoặc Sở Lao động - Thơng binh và Xã hội
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng (nếu các doanh nghiệp do địa phơng quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status