LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, hiện đại hoá nền kinh tế. Một nền kinh tế vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Trong những năm qua chung
ta giành được nhiều thắng lợi, biểu hiện của nó rõ nhất là chúng ta dần dần
xoá đói, giảm nghèo, đời sống văn hoá xã hội của nhân dân được nâng lên
từng bước. Một nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, mức độ
tăng trưởng trung bình 8%GDP luôn duy trì sau những năm đổi mới, tỷ lệ
lạm phát dưới một con số và có thể khống chế được. Đảng và Nhà nước ta
nêu rõ, là phải đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực văn hoá, chính trị-
xã hội, kinh tế của đất nước. Một trong những đổi mới đó là Nhà nước đã
quyết định các nghành, các doanh nghiệp phải tự tiến hành hạch toán kinh
doanh. Để tiến hành hạch toán kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải
hạch toán lao động tiền lương. Tổ chức hạch toán tiền lương có một ý nghĩa
rất quan trong, nó tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển như nâng cao
năng suất lao động của người lao động, khuyến khích lao động sáng tạo, là
cơ sở cho việc tính lương theo đúng nguyên tắc phân phối lao động. Đồng
thời giúp cho doanh nghiệp có thể phân bổ chi phí nhân công vào giá thành
sản phẩm một cách chính xác và hợp lý. Hạch toán tiền lương tốt còn giúp
cho Nhà nước quản lý chặt chẽ phần thu ngân sách.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tổ chức hạch toán hợp lý
tiền lương, cùng với việc nghiên cứu lý luận về kế toán tiền lương và tìm
hiểu thực trạng cơ chế quản lý tiền lương ở Việt Nam để đánh giá những mặt
được của nó và những tồn tại em đã lựa chon đề tài này để nghiên cứu với
mong muốn góp phần nhỏ bé nhằm hoàn thiện hệ thống tiền lương ở nước ta.
Song vì em mới chỉ là một sinh viên với một lượng kiến thức thu lượm được
ở các thầy cô và qua sách vở, báo trí...còn thiếu nhiều kinh nghiệm về thực
tế nên trong quá trình nghiên cứu, trình bầy sẽ khó tránh khỏi những thiếu
sót và hạn chế. Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn đọc
để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
càng không đáp ứng được các nhu cầu thường nhật của đờì sống nhân dân.
Người lao động mặc dù được coi là chủ nhân nhưng không gắn bó với cơ sở
sản xuất, phổ biến tình trạng “cha chung không ai khóc” lãng phí ngày công,
giờ công, Nhà nước mất dần đội ngũ lao động có tay nghè cao. Do đó, đã
2
đẩy nền kinh tế nước ta ngày càng lấn sâu vào cuộc khủng hoảng, mức tăng
trưởng kinh tế thấp và kéo dài.
Thực hiện đổi mới nền kinh tế, đưa nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ
chế thị trường buộc chung ta phải có phải những thay đổi lớn trong nhận
thức. Vì vậy, quan niệm về tiền lương cũng cần phải có sự đổi mới dựa trên
cơ sở, yêu cầu:
+ Coi sức lao động là hàng hoá của thị trường yếu tố sản xuất.
+ Tiền lương phải là tiền trả cho sức lao động và tuân thủ theo các quy
luật của thị trường.
+ Tiền lương là bộ phận cơ bản (hoặc duy nhất) trong thu nhập của
người lao động, đồng thời phải được hiểu nó là một trong những yếu tố đầu
vào của chi phí sản xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp.
Với ý nghĩa đó, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động
sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối
lượng sản phẩm hay công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh
nghiệp. Tiền lương chính là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. Các
doanh nghiệp sử dụng công cụ tiền lương làm đòn bẩy kinh tế để khuyến
khích tinh thần trong lao động sản xuất, là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất
lao động. Đối với các doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho người lao động
là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá trị sản phẩm hàng hoá. Do vậy, các
doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động một cách có hiệu quả để tiết kiệm
chi phí đầu vào, tiền đề để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh
hàng hoá của mình trên thị trường.
Cùng với khái niệm trên, tiền công chỉ là một biểu hiện hay là một tên gọi
khác của tiền lương. Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hệ cung cầu
phán, xây dựng nên hệ thống tiền lương của các nghành, các lĩnh vực hay hệ
thống tiền lương chung thống nhất cho một quốc gia. Nó là căn cứ để định ra
và hoàn thiện hoá chính sách tiền lương.
Chúng ta không chỉ hiểu rằng, tiền lư mức lương tối thiểu là sự cần thiết
tất yếu. Có như vậy lợi ích cục bộ mới thống nhất với lợi ích cộng đồng và
phát triển kinh tế luôn gắn liền với vấn đề dân sinh.
1.2 - Vai trò của chính sách tiền lương trong sản xuất kinh doanh.
Trong sản xuất kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp, tiền l còn chứa
đựng một yếu tố quan trọng đó là vấn đề xã hội, liên quan trực tiương là một
yếu tố của sản xuất. Còn đối với người cung ơng không chỉ đơn thuần là một
vấn đề kinh tế, một vấn đề lợi ích mà còn phải hiểu rộng hơn là nó ếp đến
các chính sách vĩ mô của Nhà nước. Vì vậy, trong cơ chế điều tiết của thị
trường lao động phải được định hướng bằng các chính sách của Chính phủ
phải chú ý đến các quy định kiểm soát cấp sức lao động, tiền lương là thu
nhập chủ yếu của họ.hay nói khác đi, mục tiêu cuối cùng của nhà sản xuất là
4
lợi nhận và của người cung cấp sức lao động là tiền lương Với ý nghĩa đó,
tiền lương không chỉ mang bản chất của chi phí mà nó đã trở thành phương
tiện tạo ra giá trị mới, hay nói đúng hơn là nguồn cung ứng sự sáng tạo sức
sản xuất, năng lực lao động trong quá trình sản xuất tạo ra giá trị gia tăng.
Đối với người lao động, tiền lương nhận được thoả đáng sẽ là động lực kích
thích tính sáng tạo, tinh thần lao động để từ đó làm tăng năng suất lao động.
Mặt khác, khi năng suất lao động tăng thì lợi nhận của doanh nghiệp tăng, do
đó nguồn phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động được hưởng cũng
tăng lên. Từ đó nó sẽ tăng lên, phân bổ thêm cho tiền lương làm tăng thu
nhập và tăng lợi ích cho người lao động. Hơn nữa, khi lợi ích của ngườild
được đảm bảo bằng các mức lương thoả đáng, nó sẽ tạo ra sự gắn kết cộng
đồng giữa những người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp,
xoá bỏ sử ngăn cách giữa người chủ doanh nghiệp và công nhân, làm cho
người lao động có trách nhiệm hơn, tự giác hơn với các hoạt động của mình
sẽ làm cho tăng năng suất lao động, do đó tiết kiệm chi phí tiền lương cho
doanh nghiệp. Trong trường hợp này, lợi ích kinh tế của người hưởng lương
đã nhất trí với lợi ích của doanh nghiệp, đó chính là động lực, nhân tố lớn
nhất của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như
trong hoạt động của nền kinh tế nói chung.
Thực hiện tốt quá trình tỏ chức công tác hạch toán lao động và tiền lương
còn giúp cho doanh nghiệp quản lý tốt quỹ lương, đảm bảo việc trả lương và
trợ cấp bảo hiểm xã hội đúng nguyên tắc, chế độ và kích thích người lao
động hoàn thành nhiệm vụ được giao. Mặt khác còn tạo ra cơ sở cho việc
phân bổ chi phí nhân công vào giá thành sản phẩm một cách chính xác và
hợp lý.
1.4 - Nhiệm vụ của hạch toán tiền lương.
Để làm tốt công tác quản lý kinh doanh của doanh nghiệp thì nhiệm vụ
của công tác kế toán tiền lương phải tổ chức tốt các nhiệm vụ sau:
+Thực hiện tốt quá trình ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu để tính
lương và các khoản phải trích theo lương, phân bổ chi phí nhân công đúng
đối tượng sử dụng lao động.
+ Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các cơ sở, bộ phận sản
xuất kinh doanh, các phòng ban thực hiện đầy đủ các chứng từ hoá đơn ghi
chép ban đầu về lao động, về tiền lương, mở sổ cần thiết và hạch toán nghiệp
vụ lao động, đúng phương pháp và tiền lương đúng chế độ.
+ Lập các báo cáo về tiền lương thuộc phần việc do mình phụ trách.
+ Phân tích tình hình sử dụng và quản lý chi phí nhân công, đề xuất các
biện pháp nhằm khai thác, sử dụng triệt để vàcó hiệu quả mọi tiềm năng về
nguồn nhân lực sẳn có của doanh nghiệp.
1.5 - Các hình thức tiền lương.
Quá trình tổ chức công tác quản lý hạch toán và chi trả tiền lương trong
các doanh nghiệp có một ý nghĩa, vai trò hết sức quan trọng nhằm quán triệt
nguyên tắc, chế độ phân phối theo lao động, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích
6
7
x
=
Mức lương tháng theo Hệ số các loại phụ cấp
cấp bậc (hay chức vụ) (nếu có)
Số ngày làm việc trong tháng theo chế độ (26 ngày)
8
Mức lương ngày =
Mức lương ngày
Số giờ làm việc theo chế độ (8 giờ)
Lương được tính theo giờ thường được áp dụng để trả lương cho lao động
trực tiếp trong thời gian làm việc không hưởng theo sản phẩm (nó thường áp
dụng đối với các ngành nặng nhọc, nguy hiểm).
Tiền lương tính theo thời gian được chia thành: tiền lương tính theo thời
gian giản đơn và tiền lương tính theo thời gian có thưởng.
+ Tiền lương tính theo thời gian giản đơn căn cứ vào số giờ làm việc
thực tế nhân với mức tiền lương của một đơn vị thời gian. Tiền lương tính
theo thời gian giản đơn không phát huy được đầy đủ nguyên tắc phân phối
theo lao động, vì nó chưa chú ý đến kết quả và chất lượng lao động thực tế
của người lao động.
+ Tiền lương tính theo thời gian có thưởng là tiền lương tính theo thời
gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất. Tiền lương tính
theo thời gian có thưởng có tác dụng thúc đẩy người lao động tăng năng suất
lao động, tiết kiệm vật tư, tính năng động sáng tạo,... trong sản xuất và bảo
đảm chất lượng sản phẩm, hàng hoá.
Nhìn chung hình thức trả lương theo thời gian có những mặt hạn chế của
nó như tiền lương mang tính chất bình quân nhiều khi không phù hợp với kết
quả lao động thực tế của người lao động. Do vậy, chỉ những trường hợp chưa
đủ điều kiện trả lương theo sản phẩm mới áp dụng chế độ trả lương theo
thời gian.
họ bằng tiền lương theo sản phẩm trực tiếp cộng với các khoản được thưởng
và trừ đi các khoản tiền bị phạt.
+ Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến. Theo hình thức này, ngoài tiền lương
theo sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào mức độ hoàn thành vượt định mức
10