đề xuất nghiên cứu về đánh giá tác động của thực hiện cam kết wto đối với nông nghiệp, nông thôn - Pdf 25


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
DỰ ÁN HỖ TRỢ KỸ THUẬT XÂY DỤNG ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT DỰ ÁN “PHÂN
TÍCH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VIỆC THỰC HIỆN CAM KẾT WTO VÀ CÁC CAM
KẾT KHU VỰC” TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP
*****
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU VỀ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THỰC HIỆN CAM KẾT WTO ĐỐI
VỚI NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Hà Nội, tháng 8 năm 2010

MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT 4
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 6
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 6
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 8
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
NGÀNH HÀNG NÔNG SẢN CHÍNH 9

2. Nông nghiệp vẫn là ngành nghề chính của lao động nông thôn 38
3. Thị trường lao động nông thôn đang dần phát triển 38
CHƯƠNG V: CAM KẾT HỘI NHẬP LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP VÀ TÌNH HÌNH THỰC
HIỆN 40
I. CAM KẾT WTO VÀ CÁC CAM KẾT KHU VỰC LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 40
1. Cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ WTO 40
2. Cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định ASEAN FTA 43
3. Cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định ASEAN Trung Quốc 43
II. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT 45
1. Thực hiện cam kết WTO 45
2. Thực hiện cam kết AFTA 46
3. Thực hiện cam kết AC-FTA 46
III. KẾT LUẬN 48
CHƯƠNG VI – ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA WTO 50

2

I. LỰA CHỌN NGÀNH HÀNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG WTO 50
II. ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG 51
1. Mô hình cân bằng tổng thể CGE 51
2. Phân tích đánh giá tác động sử dụng mô hình kinh tế lượng (Impact evaluation) 56
3. Phân tích chuỗi giá trị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
3

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT


EPC
Hệ số bảo hộ hiệu quả sản xuất
FTA
Khu dịch mậu dịch tự do
GSO
Tổng cục Thống kê
MARD
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NPC
Hệ số bảo hộ danh nghĩa
NTBs
Hàng rào phi thuế quan

4

Vinafood 1
Tổng công ty lương thực miền Bắc
Vinafood 2
Tổng công ty lương thực miền Nam
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
5

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU

quốc tế, bao gồm nền sản xuất nhỏ, phân tán, công nghệ lạc hậu, năng suất kém, chất lượng sản
phẩm không cao, bình quân đất nông nghiệp trên một lao động thấp, những doanh nghiệp nông
nghiệp vốn lâu nay quen dựa vào sự bao cấp của nhà nước, không có khả năng tự vươn lên trong
cạnh tranh; lực lượng lao động trong các doanh nghiệp này có thể mất việc làm dân cư trong

6

nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là những vùng khó khăn có thể bị những tác động tiêu cực do
phải mở cửa thị trường, khoảng cách giàu nghèo sẽ bị doãng ra, ảnh hưởng tiêu cực đến định
hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Những vấn đề nêu trên cần được nhìn nhận, phân tích và đánh giá một cách kỹ lưỡng
những biến đổi cả bên trong và bên ngoài của các khu vực nông nghiệp và nông thôn trong quá
trình hội nhập của đất nước và đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho việc hoạch định các chính sách
liên quan đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong bối cảnh mới và phù hợp với những cam
kết hội nhập.
Thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/2/2007 của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp
và PTNT đã ban hành Chương trình hành động của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tại
Quyết định số 3165/QĐ-BNN-HTQT ngày 16/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn để thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ sau khi Việt Nam đã trở
thành thành viên của WTO. Trong đó, nội dung quan trọng nhất bao trùm là đánh giá tác động
của quá trình hội nhập đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Do đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT triển khai dự án hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng đề cương
chi tiết cho việc đánh giá tác động hội nhập đến toàn ngành. Đề án này sẽ tiến hành phân tích và
đánh giá tổng thể tác động của việc gia nhập WTO đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân trên
phạm vi cả nước. Tác động của các chính sách trong nước và quốc tế có ảnh hưởng lớn nhất tới
khu vực nông nghiệp Việt Nam – sinh kế của 2/3 dân số của đất nước. Từ đó, đề xuất các khuyến
nghị chính sách giúp Chính phủ có những chính sách phù hợp hơn để thực thi các cam kết phù
hợp và giải quyết các vấn đề nội tại trong bối cảnh mới. Đồng thời, từ đó đề ra các kịch bản chính
sách cho ngành nông nghiệp phục vụ cho quá trình đàm phán vòng DOHA đang triển khai cũng
như các giai đoạn tiếp theo.

8

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
NGÀNH HÀNG NÔNG SẢN CHÍNH

I. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ NÔNG SẢN CHÍNH
1. Lúa gạo
1.1 Tình hình sản xuất và chế biến
Cây lúa giữ vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp và an ninh lương thực của Việt Nam. Diện
tích trồng lúa cả nước năm 2009 là 7,44 triệu ha, tổng sản lượng đạt 38,89 triệu tấn; so sánh với
thời điểm gia nhập WTO (năm 2007), diện tích trồng lúa đã tăng 229 nghìn ha, sản lượng tăng
xấp xỉ 3 triệu tấn.
Bảng 1: Diện tích và sản lượng lúa qua các năm
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Diện tích (1000 ha) 7.324 7.207 7.414 7.440
Sản lượng (1000 tấn) 35.849 35.942 38.725 38.895
Nguồn: Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT (MARD)
Trong 3 năm trở lại đây, công nghệ xay xát đã được cải thiện đáng kể, nhất là những cơ sở xay
xát quy mô lớn phục vụ xuất khẩu ở phía Nam. Song các tỉnh phía Bắc và Trung Bộ hầu hết vẫn
quy mô nhỏ, thiết bị lạc hậu. Do khâu làm khô và bảo quản chưa tốt nên hao hụt trong quá trình
xay xát chiếm tỷ lệ không nhỏ, tỷ lệ thu hồi và phẩm cấp thấp, giá thành chế biến cao. Về năng
lực bảo quản, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, công suất toàn bộ các kho chứa gạo
của Việt Nam hiện nay đạt khoảng 2 triệu tấn, chủ yếu tập trung ở hai doanh nghiệp lớn của nhà
nước (Tổng Công ty lương thực miền Bắc và Tổng Công ty lương thực miền Nam). Khu vực tư
nhân có rất ít cơ sở kinh doanh lúa gạo tư nhân đầu tư kho chứa lúa và nếu có thì thường là quy
mô nhỏ, sức chứa tối đa không vượt quá 10.000 tấn gạo/kho. Bình quân hàng năm, Việt Nam
xuất khẩu khoảng 4-5 triệu tấn gạo nhưng hệ thống kho chứa gạo mới chỉ đạt gần 2 triệu tấn, khả
năng trữ gạo của các kho này cũng chỉ kéo dài được từ 3-6 tháng. Như vậy, năng lực bảo quản
lúa của Việt Nam còn yếu và chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
1.2 Kinh doanh - xuất khẩu gạo

bán phá giá.
Ngoài các hoạt động điều phối trực tiếp về xuất khẩu gạo còn có một hệ thống các chính sách như
giao các tổng công ty lương thực thu mua thóc gạo trong dân để đảm bảo ổn định giá lúa gạo, hỗ
trợ cho vay và hỗ trợ lãi suất với hoạt động thu mua tạm trữ lúa gạo….
Chi phí sản xuất lúa
Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn và cộng sự (2005) về chi phí sản xuất lúa đã chỉ ra rằng, giá
thành sản xuất lúa ở ĐBSCL bình quân từ 63,5 đến 90 USD/tấn. Giá thành sản xuất lúa của Thái
Lan khoảng 73 - 93 USD/tấn, cao hơn giá thành lúa của Việt Nam từ 12-15%. Các yếu tố làm cho
giá thành sản xuất lúa của Việt nam thấp hơn của Thái lan gồm: Chi phí lao động của Việt Nam
chỉ bằng 1/3 so với Thái lan; Năng suất lúa Việt nam cao hơn 1,5 lần so với Thái lan.
Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam đang có dấu hiệu giảm đi do giá thành sản
xuất lúa ngày càng tăng lên. Niên vụ 2008/09, giá thành sản xuất lúa trung bình đã tăng 30% so

10

với niên vụ 2007/08, trong đó chi phí lao động tăng cao nhất và chiếm 53,8%, chi phí vật tư phân
bón 33,6%, các chi phí khác như thuốc bảo vệ thực vật, giống lúa dưới 10% trong tổng chi phí
sản xuất lúa (Agroinfo, 2010).
2. Nhóm cây công nghiệp xuất khẩu
Trong các ngành hàng nông sản Việt Nam, nhóm cây công nghiệp bao gồm: cao su, hồ tiêu, điều,
cà phê, chè; là những ngành hàng sản xuất chủ yếu dành cho xuất khẩu và có khả năng cạnh tranh
trên thị trường thế giới. Về phân bố sản xuất, ngoại trừ cây chè trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi
phía Bắc, các cây trồng còn lại đều phân bố ở khu vực Duyên Hải Bắc Trung Bộ, Duyên Hải
Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
2.1 Tình hình sản xuất và chế biến
Tính đến năm 2009, tổng diện tích cây công nghiệp xuất khẩu đạt 1,7 triệu ha. Trong giai đoạn
2007-2009, cây cao su có tốc độ tăng diện tích và sản lượng đạt cao nhất. Diện tích cao su cả
nước năm 2009 là 674 nghìn ha, sản lượng đạt 723 nghìn tấn, tăng lần lượt so với năm 2007 là
117,7 nghìn ha và 113,2 nghìn tấn. Cây hồ tiêu có tốc độ tăng diện tích và sản lượng đạt thấp
nhất. Diện tích hồ tiêu cả nước năm 2009 là 94 nghìn ha, sản lượng đạt 105 ngàn tấn, tăng lần

ngành hàng khác chủ yếu sơ chế để xuất khẩu.
Đối với ngành hàng điều, công nghệ chế biến điều đã được khu vực tư nhân đầu tư khá mạnh,
đến nay, Việt Nam đã dẫn đầu thế giới về công nghệ bóc vỏ lụa, tỷ lệ hạt sạch lên đến 87% và chỉ
6 - 7% hạt bể vỡ, tốc độ bóc vỏ đạt 10 tấn hạt/ngày, với 20 công nhân đứng máy thay cho 300 lao
động phổ thông như trước đây. Năm 2009, cả nước hiện có 205 nhà máy chế biến điều với quy
mô và công nghệ khác nhau, tổng công suất chế biến đạt khoảng 700.000 tấn điều nguyên liệu
năm. Như vậy, năng lực chế biến điều là rất lớn trong khi sản lượng điều thu hoạch năm 2009 chỉ
đạt 303.000 tấn, các nhà máy chế biến đều phải nhập khẩu một khối lượng nguyên liệu khá lớn để
chế biến nhưng vẫn chưa vận hành hết tối đa công suất chế biến. Trong số các doanh nghiệp chế
biến điều có 20 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế và 72 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc gia
về vệ sinh an toàn thực phẩm. Năng lực bảo quản điều nhân nhìn chung đáp ứng được nhu cầu
thực tế, công nghệ và kỹ thuật bảo quản bán thủ công, thời gian cất trữ sản phẩm trung bình.
Đối với ngành cao su, sản phẩm cao su chế biến của Việt Nam gồm nhóm các sản phẩm nguyên
liệu thô và nhóm sản phẩm tiêu dùng cuối cùng. Năm 2009, nhóm sản phẩm cuối cùng chiếm một
phần rất nhỏ (19.4%); còn lại chủ yếu sản xuất các sản phẩm nguyên liệu thô để xuất khẩu
(Agroinfo, 2010). Trong đó, cơ cấu sản phẩm cao su nguyên liệu gồm: cao su khối chuẩn kỹ thuật
(SVR) chiếm 70%; mủ cao su cô đặc chiếm 9-10%; cao su tờ (RSS) chiếm 5-6%; các loại khác
như cao su crepe, cao su hỗn hợp chiếm 14-15%. Theo số liệu từ Hiệp hội cao su Việt Nam,
tính đến năm 2009, tổng công suất thiết kế của các nhà máy chế biến cao su của nước ta là 702.2
nghìn tấn sản phẩm/năm. Trong đó, vùng Đông Nam Bộ chiếm 80.5 %, còn lại là Tây Nguyên
(15.7%) và Duyên Hải (3.8%).
Công nghiệp chế biến cà phê còn khá thủ công và chủ yếu áp dụng phương pháp chế biến khô từ
khâu phơi quả khô, tách vỏ, phân loại, đánh bóng. Phương pháp chế biến ướt chưa được áp dụng
phổ biến do chi phí đầu tư cao. Hiện nay, chỉ có khoảng 2% sản lượng cà phê chế biến đạt yêu
cầu loại 1, năng lực chế biến ở khâu sơ chế chỉ đạt 20%, khâu tái (tinh) chế đạt 40%. Nhìn chung,
chi phí chế biến cà phê của Việt Nam thấp hơn so với các nước khác trên thế giới do lợi thế về
giá lao động, nguyên liệu và sử dụng máy móc tự sản xuất trong nước. Trên phạm vi cả nước
cũng đã có một số nhà máy chế biến ra sản phẩm cà phê thành phẩm, nhưng khối lượng chế biến
chưa nhiều, chủ yếu đáp ứng nhu cầu nội địa. Hệ thống kho chứa sản phẩm cà phê đơn giản, trữ
cà phê quả khô và cà phê nhân xô hoặc đã phân loại, thời gian bảo quản ngắn từ 3 – 6 tháng.

Ngoại trừ cây hồ tiêu, các cây trồng khác trong nhóm cây công nghiệp xuất khẩu đều đã có chiến
lược phát triển ngành. Trong 3 năm trở lại đây, chính sách phát triển sản xuất tập trung vào việc
cải thiện chất lượng giống, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng sản phẩm, trong đó mức
độ tập trung chủ yếu vào cây điều, cà phê, hồ tiêu. Bên cạnh đó, vấn đề tiêu chuẩn kỹ thuật ngành
hàng cũng được chú trọng quan tâm do sản phẩm của các ngành hàng này chủ yếu xuất khẩu dưới
dạng thô, phẩm cấp thấp, khả năng cạnh tranh yếu và chưa tạo được uy tín đối với nhà nhập khẩu;
một loạt các tiêu chuẩn ngành hàng (TCVN) đã được ban hành, gần đây nhất (tháng 12/2009) Bộ
Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về điều kiện VSATTP áp dụng
cho cà phê, chè, điều và rau quả. Những nỗ lực này nhằm quản lý chất lượng tốt hơn và đưa tiêu
chuẩn chất lượng ngành hàng Việt Nam ngang bằng với tiêu chuẩn thế giới.

13

3. Ngành thủy sản
3.1 Tình hình sản xuất và đánh bắt thủy sản
Giai đoạn 11 năm trở lại đây, từ 1999 - 2009, sản lượng thủy sản của Việt Nam đã tăng trưởng
liên tục với mức tăng trưởng trung bình năm là 9,54%. Năm 2009, tổng sản lượng thủy sản của
Việt Nam đạt 4,85 triệu tấn, tăng 5,87% so với năm 2008.
Cả sản lượng thủy sản đánh bắt và nuôi trồng trong thời gian 1998 – 2009 đều liên tục tăng
trưởng dương với mức tăng trưởng trung bình năm lần lượt là 4,86% và 17,9%. Năm 2009, sản
lượng thủy sản đánh bắt đạt 2,27 triệu tấn và sản lượng nuôi trồng đạt 2,57 triệu tấn, tăng lần lượt
6,7% và 4,9% so với năm 2008.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng của Việt Nam bắt đầu vượt sản lượng đánh bắt từ năm 2007. So
với năm 1999, sản lượng thủy sản nuôi trồng đã tăng 434,3%; trong khi đó, sản lượng đánh bắt
chỉ tăng 49,2%.
3.2 Thương mại thủy sản
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tăng vọt trong hai năm 2008-2009, kim ngạch mỗi năm đạt trên
4,1 tỷ USD, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2007 (đạt khoảng 1,6 tỷ USD) và tăng khoảng 11 lần so
với các năm 2005-2006. Có sự gia tăng đột biến này là do xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam
tăng mạnh; hiện nay cá da trơn xuất khẩu của Việt Nam chiếm trên 95% thị trường cá da trơn thế


15

4. Lâm nghiệp
4.1 Tình hình trồng, chăm sóc và khai thác rừng
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2009, diện tích trồng rừng cả nước đạt 208,6
nghìn ha, bằng 89% so với năm 2008 và đạt 91,8% kế hoạch năm 2009. Trong đó diện tích rừng
phòng hộ, đặc dụng khoảng 47,8 nghìn ha tăng 17,1% và diện tích trồng rừng sản xuất đạt 160,8
nghìn ha, bằng 83,1% so với cùng kỳ 2008.
Tổng diện tích rừng trồng được bảo vệ của Việt Nam ước tính khoảng 2,54 triệu ha, trong đó
Đông Bắc Bộ và Tây Nguyên là hai vùng rừng được bảo vệ lớn nhất với diện tích tương ứng là
653,33 nghìn và 470 nghìn ha, tỉ trọng tương ứng 25,4% và 22,2% tổng diện tích bảo vệ rừng cả
nước. Các Vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ cũng có diện trồng rừng được bảo vệ
khá lớn (trên 10% tổng diện tích cả nước), còn ở hai vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng
Sông Cửu Long diện tích rừng được bảo vệ chỉ chiếm chưa đầy 3% tổng diện tích được bảo vệ
trên toàn quốc.
Năm 2009, tổng mức khai thác đã đạt khoảng 3,76 triệu m3, đạt 86% so với kế hoạch và tăng
7,2% so với cùng kỳ 2008.
4.2 Thương mại gỗ và sản phẩm gỗ
Nhập khẩu
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong những năm gần đây, kim ngạch
nhập khẩu gỗ của Việt Nam ngày càng tăng, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu chế biến phục vụ xuất
khẩu. Tuy nhiên, năm 2009, kim ngạch nhập khẩu các loại gỗ và sản phẩm gỗ vào Việt Nam chỉ
đạt 894 triệu USD, giảm 18,6% so với năm 2008.
Xuất khẩu gỗ
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, từ năm 2005 tới nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ
luôn tăng nhanh và gỗ nhanh chóng trở thành một trong các ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ
lực Việt Nam. Năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt
khoảng 2,76 tỉ USD, tăng 14,8% so với năm 2007. So với năm 2005, kim ngạch xuất khẩu gỗ và
sản phẩm gỗ của Việt Nam đã tăng gần gấp đôi trong năm 2008.

các cơ sở nhỏ. Phần lớn các cơ sở chế biến nhỏ tập trung vào phơi sấy sản phẩm vì phương pháp

17

này cần ít vốn. Các cơ sở chế biến lớn thường sử dụng hệ thống đóng hộp, ngâm ủ, ướp đông
lạnh và cô đặc.
5.2 Thương mại
Bình quân giai đoạn 2000-2009, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng rau quả của
Việt Nam là 20%. Năm 2009, giá trị xuất khẩu rau quả Việt Nam ước đạt 1488 triệu USD, gấp
3,5 lần năm 2000.
Năm 2009, xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 1488 triệu USD, tăng 6,1% so với năm 2008.
Mặc dù hiện nay rau quả Việt Nam đã xuất khẩu tới 82 quốc gia trên thế giới nhưng Nga, Nhật
Bản, Mỹ và Đài Loan và EU vẫn là những thị trường xuất khẩu chủ lực, chiếm 67% tổng kim
ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam năm 2009. Rau quả Việt Nam xuất khẩu sang EU chủ yếu là
nước chanh leo cô đặc, thanh long tươi, nấm rơm, dứa các loại và dưa chuột dầm dấm. Ngoài ra,
thanh long tươi cũng là mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam được ưa chuộng tại nhiều thị trường tiêu
thụ lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, EU.
Tuy nhiên, Việt Nam hàng năm cũng nhập khẩu một khối lượng rau quả không nhỏ. Kim ngạch
nhập khẩu rau quả năm 2009 trị giá 485 triệu USD. Việt Nam nhập khẩu rau quả chủ yếu từ các
thị trường Úc, Trung Quốc, Thái Lan.
6. Muối
6.1 Sản xuất và chế biến
Diện tích sản xuất muối cả nước hiện nay vào khoảng 12.000 ha, với sản lượng hàng năm ước đạt
800.000 tấn. Trong đó, diện tích muối thủ công khoảng trên 1.200 ha, còn lại là muối công
nghiệp. Diện tích muối biến động thất thường không có quy luật thể hiện xu hướng phát triển
không ổn định. Sự tăng giảm thất thường về diện tích muối chủ yếu do tác động của giá muối
hàng năm, ngoài ra còn do sự cạnh tranh với diện tích nuôi trồng thủy sản. Năng suất muối trung
bình cũng biến động liên tục qua các năm, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết, hiện nay đạt
khoảng trên 60 tấn/ha.
Đồ thị 3: Năng suất và sản lượng muối

mía đã giảm tới 10,32%. Trái ngược với tình hình giảm diện tích, năng suất mía đang dần được
cải thiện, bình quân giai đoạn 2000-2008, năng suất mía tăng 2,27%/năm. Mặc dù vậy, năng suất
mía của Việt Nam hiện nay vẫn thấp hơn 17,7% so với năng suất mía trung bình trên thế giới.
Công nghiệp chế biến đường đã được cải thiện theo thời gian, tuy nhiên, có một nghịch lý đang
tồn tại là tổng sản lượng đường sản xuất không biến động cùng chiều với tổng công suất thiết kế
của các nhà máy đường. Giai đoạn 2004-2009, tổng công suất thiết kế các nhà máy đường không
ngừng tăng trong khi đó số liệu thống kê cho thấy sản lượng đường sản xuất công nghiệp lại
không ổn định. Trong năm 2009, tổng công suất thiết kế các nhà máy đạt mức cao nhất kể từ năm
2000 đến nay, nhưng sản lượng đường lại giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại
đây.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, niên vụ 2008/2009, tổng công suất thiết kế của 40 nhà máy
đường
(1)
vào khoảng 105.750 tấn mía cây/ngày. Công suất trung bình của mỗi nhà máy là
2.643,75 tấn mía cây/ngày, trong khi quy mô tối thiểu để đạt hiệu quả về kinh tế của một nhà máy
sản xuất mía đường trên thế giới vào khoảng 6.000-7.000 tấn mía cây/ngày.
(
1
)

Năm 1994, cả nước chỉ có 12 nhà máy đường hoạt động với tổng công suất 10.300 tấn mía cây/ngày. Sau khi
Chương trình mía đường được khởi động, một lượng vốn lớn trong và ngoài nước được đầu tư cho việc mở rộng và
xây dựng mới các nhà máy. Đến năm 2002, cả nước có 44 nhà máy với tổng công suất thiết kế 82.950 tấn mía
cây/năm, tăng hơn 8 lần so với năm 1994. Tuy nhiên, do hoạt động kém hiệu quả, nên trong quá trình chuyển đổi
một số doanh nghiệp đã được sắp xếp lại và đến năm 2009, số nhà máy đường trong nước chỉ còn 40 nhà máy.

20 Ngoại trừ một số nhà máy liên doanh và có vốn đầu tư nước ngoài được đầu tư gần đây, đa phần

Ngành chăn nuôi hiện nay chiếm tỷ trọng khoảng 20% trong giá trị toàn ngành nông nghiệp.
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đối mặt với nhiều khó khăn do dịch bệnh, thiên tai lũ
lụt và khủng hoảnh kinh tế, tuy nhiên, chăn nuôi tiếp tục phát triển, nhất là chăn nuôi tập trung,

21

quy mô lớn. Sản lượng thịt xuất chuồng tăng ổn định kể từ 2006 đến nay. Trong đó, sản lượng
thịt bò xuất chuồng có tốc độ tăng lớn nhất khoảng 18% mỗi năm; sản lượng thịt lợn cũng tăng
khá, đạt khoảng 14% mỗi năm; thịt trâu và thịt gia cầm tăng trung bình khoảng 7%/năm, bất chấp
các loại dịch bệnh liên tục xảy ra tại nhiều địa phương trong một vài năm gần đây như dịch tai
xanh và dịch cúm gia cầm.
Bảng 3: Số lượng và sản lượng gia súc, gia cầm qua các năm
Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Tổng đàn trâu
1000 con
2.921,1 2.996,4 2.897,7 2.886,6
SL thịt xuất chuồng Tấn 64.300 67.500 71.543 74.960
Tổng đàn bò
1000 con
6.510,8 6.724,7 6.337,7 6.103,3
SL thịt xuất chuồng Tấn 159.500 206.100 226.696 257.779
Bò sữa Con 107.983 115.518
Sản lượng sữa Tấn 262.160 274.190
Tổng đàn lợn
1000 con
26.855,3 26.560,7 26.701,6 27.627,7
SL thịt xuất chuồng 1000 tấn 2.505 2.662 2.806,5 2.931,4
Tổng đàn gia cầm Nghìn con
214.565 226.027
248.32 280.181

đủ đáp ứng nhu cầu, hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng thịt khá lớn để đáp ứng
nhu cầu trong nước. Kim ngạch nhập khẩu thịt và các chế phẩm từ thịt của Việt Nam kể từ 2007
tăng nhanh chóng từ mức 67 triệu USD lên tới trên 188 triệu USD năm 2008 và khoảng 100 triệu
USD năm 2009. Cơ cấu nhập khẩu thịt của Việt Nam chủ yếu là thịt gia cầm và các phụ phẩm
dạng thịt gia cầm (chiếm trên 60%), tiếp theo là các loại thịt trâu, bò đông lạnh (chiếm trên 10%).
Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn tiếp tục xuất khẩu các mặt hàng thịt dù giá trị xuất khẩu thịt chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng giá trị xuất khẩu nông sản thưc phẩm cả nước, với kim ngạch khoảng 50
triệu USD hàng năm, chủ yếu là thịt lợn.
8.3 Chính sách ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là ngành yếu thế về cạnh tranh do quy mô sản xuất nhỏ lẻ và Việt Nam chưa tự đáp
ứng được nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, hàng năm phải nhập khẩu với khối
lượng nguyên liệu lớn, giá thành thịt cao. Trong 3 năm vừa qua, nhóm chính sách thúc đẩy sản
xuất của ngành này không có nhiều đột biến, lĩnh vực mà chính sách can thiệp nhiều nhất là thuế
quan và kiểm soát dịch bệnh. Trong giai đoạn 2008-2009, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới khiến sức mua của thị trường giảm xuống. Nhằm tiếp tục hỗ trợ cho ngành chăn
nuôi, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 52/2009/TT-BTC ngày 17/3/2009 về việc điều chỉnh mức
thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. Theo
đó, thuế nhập khẩu nhiều loại thực thẩm, chủ yếu thịt đông lạnh, tiếp tục được nâng lên ở mức
khá cao. Thuế nhập khẩu thịt trâu, bò, tươi hoặc ướp lạnh được nâng lên mức cao nhất là 33%
dành cho nhóm sản phẩm thịt cả con và nửa con không đầu; đối với loại thịt có cả xương là 20%
và không xương là 17%. Thịt trâu bò nhưng thuộc loại đông lạnh áp thuế 20%. Như vậy, mức
thuế mới đã tăng khá mạnh so với các mức thuế trước đây. Cụ thể, thuế nhập khẩu thịt lợn hiện
đang được áp dụng mức 24%, thuế mới tăng 4%. Thịt trâu bò tươi và ướp lạnh, đông lạnh mức
thuế hiện hành áp dụng theo Quyết định 83 ngày 3/10/2008 là 17% ngay được nâng lên mức 33%
tăng đến 16%.
Ngoài việc ban hành các quy định mới liên quan đến chất lượng của sản phẩm thịt nhập khẩu,
Cục Thú y còn siết chặt các vấn đề liên quan đến chứng từ nhập khẩu trước khi cho thông quan
hàng hóa. Từ ngày 1/10/2009, tất cả các lô hàng sản phẩm động vật nhập khẩu phải được lưu giữ

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status