Đánh giá tác động của các chương trình, dự án phát triển nông thôn tới xóa đói giảm nghèo ở huyện võ nhai tỉnh thái nguyên - Pdf 13


i
MỤC LỤC
Lời cam đoan Error! Bookmark not defined.
Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined.
Mục lục i
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục bảng số liệu v
Danh mục biểu đồ vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của nghiên cứ u đề tài 1
2. Mục tiên nghiên cứu của đề tài 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Kết cấu của luận văn 3
Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌ C VỀ CÁC CHƢƠNG TRÌNH, DỰ
ÁN PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỚI XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
V PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 4
1.1. Cơ sở khoa học về nghè o đó i và các chương trình , dự án phát triển
nông thôn 4
1.1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói 4
1.1.2. Công tác xoá đói giảm nghèo tại Việt Nam 31
1.1.3. Một số vấn đề về chương trình, dự án phát triển nông thôn 33
1.1.5. Phương pháp đánh giá dự án 40
1.1.6. Đánh giá tác động các chương trình dự án 41
1.1.7. Một số tác động của chương trình, dự án phát triển nông thôn 44
2.3.1. Tác động về kinh tế và xóa đói giảm nghèo 99
2.3.2. Tác động về văn hóa - xã hội 108
2.3.3. Tác động về môi trường 111
2.3.4. Những hạn chế trong việc tổ chức, thực hiện chương trình, dự án
đến kết quả và tác động của chương trình, dự án 112
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CÁC CHƢƠNG TRÌNH, DỰ ÁN PHÁ T TRIỂ N
NÔNG THÔN GẮN VỚI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VÕ NHAI,
THÁI NGUYÊN 115
3.1. Quan điểm, phương hướng, mục tiêu 115
3.1.1. Quan điểm, phương hướng gắn với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo 115
3.1.2. Mục tiêu của chương trình 115
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình,
dự án gắn với giảm nghèo ở huyện Võ Nhai 117
3.2.1. Những giải pháp chung 117
3.2.2. Một số giải pháp nhằm nầng cao hiệu quả của các chương trình, dự án 118
3.2.3. Một số giải pháp huy động, sử dụng vốn đầu tư trong phát triển
kinh tế, xoá đói, giảm nghèo của huyện Võ Nhai đến năm 2015 119
3.2.4. Một số giải pháp, kiến nghị cụ thể về tổ chức quản lý, thực hiện
các chương trình dự án 120
KẾT LUẬN 124
1. Kết luận 124
2. Kiến nghị 125
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA 130
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Sản xuất kinh doanh
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
UBND
Uỷ ban nhân dân
WB
Ngân hàng thế giới
XĐGN
Xoá đói giảm nghèo
XKLĐ
Xuất khẩu lao động

v
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Võ Nhai giai đoạn
2008 - 2010 59
Bảng 2.2: Dân số và lao động huyện Võ Nhai giai đoạn 2008 - 2010 61
Bảng 2.3: Số lượng và cơ cấu thành phần dân tộc của huyện giai đoạn
2008 -2010 62
Bảng 2.4: Lao động huyện Võ Nhai chia theo giới tính và khu vực giai
đoạn 2008 -2010 64
Bảng 2.5: Kết quả sản xuất các ngành kinh tế của huyện Võ Nhai giai
đoạn 2008 -2010 67
Bảng 2.6: Phân loại hộ theo tiêu chuẩn và mức sống dân cư trong giai
đoạn 2008 - 2010 68
Bảng 2.7: Tổng hợp các chương trình dự án đầu tư trên địa bàn huyện

vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu sử dụng đất đai của huyện Võ Nhai năm 2010 58
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu thành phần dân tộc huyện Võ Nhai năm 2010 63
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu vốn đầu tư chương trình 135 giai đoạn I 74
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu vốn đầu tư chương trình 135 giai đoạn I 76
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu vốn đầu tư chương trình 135 giai đoạn II 79
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu vốn đầu tư chương trình 134 của Chính phủ 85
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu vốn đầu tư dự án 661 của Chính phủ 90
Biểu đồ 2.8: Cơ cấu giá trị các ngành kinh tế huyện Võ Nhai 102
Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ hộ nghèo qua các năm 104

Huyện Võ Nhai là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, là
huyện có tỷ lệ hộ và xã nghèo đói cao nhất tỉnh Thái Nguyên (gần 40% hộ 2
nghèo và hơn 30% xã nghèo). Do đó, huyện là đối tượng đầu tư của nhiều
chương trình, dự án phát triển của Chính phủ, của UBND tỉnh Thái Nguyên
và các tổ chức nước ngoài trong những năm qua. Mặc dù có nhiều dự án
đầu tư, nhưng kết quả và hiệu quả đầu tư thường chỉ được đánh giá một
cách riêng biệt, còn những đánh giá chung thì hầu như chưa được các cơ
quan chức năng quan tâm nghiên cứu đánh giá. Để trả lời các câu hỏi đặt
ra: Các chương trình, dự án đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn
được triển khai tại huyện Võ Nhai như thế nào? Kết quả và hiệu quả của
các dự án đó ra sao? Tác động như thế nào đến sự phát triển kinh tế, văn
hoá, xã hội và xóa đói, giảm nghèo ở địa phương? Cần có các giải pháp gì
để thực hiện và quản lý có hiệu quả các chương trình, dự án đầu tư trên và
ở các giai đoạn tiếp theo? Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài:
"Đánh giá tác động của các chương trình, dự án phát triển nông thôn tới
xóa đói giảm nghèo ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” nhằm tìm ra
những giải pháp góp phần giải quyết các hạn chế nêu trên.
2. Mục tiên nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chương trình, dự án phát triển nông
nghiệp, nông thôn đến công tác xóa đói, giảm nghèo trên cơ sở đó đề xuất cá c
giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động và hiệu quả của các chương
trình, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn tới xóa đói, giảm nghèo ở
huyện Võ Nhai.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về đói nghèo và các
chương trình, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm góp phần nâng

tới xóa đói giảm nghèo và phương pháp nghiên cứu đề tài
Chương 2: Thự c trạ ng ả nh hưởng của các chương trình dự án phát triển
nông thôn tới xóa đói giảm nghèo tại huyện Võ Nhai, Thái Nguyên
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các chương
trình, dự án phát triển nông thôn gắn với giảm nghèo ở huyện Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên 4
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌ C VỀ CÁC CHƢƠNG TRÌNH, DỰ ÁN
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỚI XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
V PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở khoa học về nghè o đó i và các chƣơng trình , dự án phát triển
nông thôn
1.1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói
1.1.1.1. Các khái niệm về nghèo đói
Hiệ n nay có r ất nhiều định nghĩa về nghèo và đói tuy nhiên có thể hiểu
về nghè o đó i dướ i cá c khí a cạ nh khá c nhau.
Ngân hàng phát triển Châu Á đưa ra định nghĩa về nghèo đói như sau:
Nghèo đói đó là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi
con người có quyền được hưởng. Mọi người cần phải được tiếp cận với giáo
dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản. Các hộ nghèo có quyền
duy trì cuộc sống bằng chnh lao động của họ và được trả công một cách hợp
lý, cũng như được sự bảo trợ khi có những biến động bên ngoài.
Có 2 phương pháp để đo mức nghèo đói:
- Xác định về mặt lượng nghèo đói có thể đo trực tiếp bằng cách đánh giá
xem hộ gia đình có được hưởng các tiêu chuẩn như: được sử dụng nước sạch, có
đủ thức ăn, có điều kiện đi khám bệnh, học hành và những tiêu chuẩn khác.
- Xác định gián tiếp bằng cách xem hộ gia đình có đủ nguồn tài chnh để

Ranh giới của nghèo đói: Là ranh giới phân biệt tình trạng nghèo đói của
một cá nhân, tổ chức hoặc quốc gia nào đó thông qua các chỉ tiêu về mức
sống, thu nhập, trình độ học vấn, chỉ số HDI,… Ở nước ta ranh giới nghèo đói
được xác định bằng chuẩn nghèo đói, do Sở Lao động Thương binh và Xã hội
ban hành dựa trên thu nhập bình quân và mức chi tiêu của hộ gia đình. 6
Theo tiêu chuẩn nghèo mới của Việt Nam cho giai đoạn 2006 - 2010 đối
với khu vực nông thôn là 180.000 đồng/người/tháng và khu vực thành thị là
260.000 đồng/người/tháng.
Ngân hàng thế giới đã lấy chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc gia (GNP) tính
theo đầu người làm thước đo ranh ngườ i nghèo khổ giữa các quốc gia. Thước
đo này được xác định theo 2 mức: 275 USD và 370 USD. Nếu ranh giới
GNP/người/năm bằng 275 USD thì số người nghèo chiếm 11% ở các nước
đang phát triển.
Nếu ranh giới GNP/người/năm bằng 370 USD thì số người nghèo chiếm
1/3 dân số tại các nước này. Với chuẩn mực này thì hiện nay trên thế giới có
khoảng 1,5 tỷ người sống trong tình trạng nghèo đói.
Theo liên hợp quốc thì: Nước nghèo nhất là nước có thu nhập bình quân
đầu người t hơn 200 USD/năm (tnh theo thu nhập quốc dân). Nước nghèo là
nước có thu nhập bình quân đầu người t hơn 500 USD/năm (tnh theo thu
nhập quốc dân).
Những quan niệm nghèo đói cho thấy khái niệm nghèo đói chỉ mang tính
chất tương đối. Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia khác nhau về mức độ, số
lượng tùy theo chất lượng cuộc sống của quốc gia đó. Nó thay đổi theo từng thời
kỳ tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Người nghèo của quốc gia
này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác.
Nguyên nhân của nghèo đói:
Nguyên nhân của sự nghèo đói: Rất khác nhau giữa các nước, các nền

+ Người nghèo dễ bị tổn thương bởi những khó khăn, những biến động
bất thường xảy ra. Họ có thu nhập thấp nên họ ít có khả năng chống chọi với
những biến cố xảy ra trong cuộc sống khiến cho họ đã nghèo đói lại càng trở
nên nghèo đói hơn: Lạm phát, chi phí học hành của con cái, giá cả tiêu dùng
tăng cao, 8
+ Nghèo đói trong chừng mực nhất định có liên quan đến sự bất bình
đẳng xã hội, như chênh lệch về thu nhập và phúc lợi xã hội giữa các cá nhân,
giữa các hộ gia đình. Đó là tác động của các chính sách cải cách kinh tế - xã
hội trong quá trình phát triển của đất nước.
Theo Bộ LĐTB & XH,thực trạng nghèo đói ở ĐBSCL có mấy nguyên
nhân chnh: do lũ lụt; hộ nghèo từ nơi khác chuyển đến; thiếu đất sản xuất,
trình độ năng lực sản xuất hạn chế, giá nông thuỷ sản chưa ổn định, nên công
tác xoá đói - giảm nghèo sắp tới không dễ dàng.
Từ những nguyên nhân trên, chúng ta cần làm cho cộng đồng thông cảm
và chia sẽ với người nghèo, cần có sự trợ giúp của cộng đồng về kinh nghiệm
làm ăn, về vốn đối với người nghèo, xã hội hóa công tác xóa đói giả m nghèo ,
đồng thời dành một phần phúc lợi xã hội để giúp cho người nghèo giảm bớt
các khó khăn về nhu cầu vật chất, tinh thần, tạo ra các cơ hội về công ăn việc
làm, tiếp cận được với những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, tiếp cận
được với các nguồn vốn để phát triển sản xuất, giúp họ thoát nghèo.
1.1.1.2. Chuẩn mực (tiêu chí xác định) nghèo đói
* Tiêu chí của thế giới
Quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) năm 1998
- Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh giá WB đã lựa chọn tiêu thức phúc
lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu người bao gồm cả ăn uống, học hành,
mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở và giá trị hàng hoá lâu bền. Tuy nhiên,
báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi

lương thực thực phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tnh toán tỷ lệ lương
thực trong rổ lương thực cho người nghèo với 75% kcalo từ gạo và 25% kcalo
có được từ các hàng hoá khác được gọi là các gia vị. Từ đó mức chuẩn nghèo
hợp lý là 511.000 đồng/người/năm. 10
* Tiêu chí của Việt Nam
- Quan điểm của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 1998.
Tiêu chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê Việt Nam được xác định
bằng mức thu nhập tính theo thời giá vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương
thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người.
Những người có mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào
diện nghèo.
- Quan điểm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 1998.
Quan điểm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho rằng nghèo là
bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo
trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực.
+ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa
những số liệu thu thập về hộ gia đình như sau:
+ Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng
quy ra gạo được 13 kg.
+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng.
Vùng nông thôn, miền núi hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo.
Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg gạo.
Vùng thành thị dưới 25 kg gạo.
Bên cạnh những khái niệm về đói nghèo đã trình bày ở trên, tuỳ thuộc
vào những giai đoạn, những hoàn cảnh khác nhau cũng như những mục tiêu
nghiên cứu khác nhau mà người ta có những cách tiếp cận khác nhau về

yếu tố trượt giá (7-8%/năm), tốc độ tăng GDP (7,5-8%), mức tăng của tiền
lương (10-20%) và các yêu cầu ưu tiên đầu tư, xoá đói giảm nghèo cho khu
vực nông thôn miền núi. Từ năm 2006-2010, chuẩn nghèo áp dụng cho khu
vực nông thôn là 200.000 đồng/người/tháng và khu vực thành thị là 260.000
đồng/người/tháng. Theo chuẩn nghèo mới, cả nước có khoảng 3,9 triệu hộ 12
nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc; tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là vùng Tây bắc
(42%) và Tây Nguyên (38%), thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (9%)…
Mức chuẩn nghèo mới cao hơn mức cũ 2 lần, kéo theo số hộ được xếp
vào diện nghèo cũng tăng lên 3 lần.
Trên đây là một số khái niệm về nghèo đói cũng như một số hướng tiếp
cận nghèo đói. Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nghiên cứu cũng như phương
hướng nghiên cứu khác nhau mà có cách tiếp cận cho phù hợp. Trong đề tài
này, tác giả công nhận khái niệm nghèo đói của Việt Nam, đồng thời hướng
tiếp cận nghèo đói đối với người dân là tiếp cận về khía cạnh kinh tế, có nghĩa
là tiếp cận về thu nhập của người dân.
Phương án chuẩn nghèo này được đánh giá phù hợp với mức sống và thu
nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất;
phù hợp với tốc độ tăng của chuẩn nghèo trong cả quá trình từ năm 1996-
2009; đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiến
và đáp ứng được yêu cầu từng bước tiếp cận và hội nhập quốc tế.
1.1.1.3. Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo
* Trên thế giới
Theo số liệu của Ngân hàng Thế Giới thì trong năm 2001 trên toàn thế
giới có 1,1 tỷ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có t hơn 1 đô la Mỹ
tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo. (Năm 1981 là
1,5 tỷ người, vào thời gian đó là 40% dân số thế giới, năm 1987 là 1,227 tỷ
người tương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỷ người tương đương với 29%).

1,2 tỷ người sống ở mức nghèo đói, trong đó chủ yếu dân châu Phi và Nam Á 14
Ngạc nhiên hơn, trong khi thế giới ngày càng đô thị hoá, số người nghèo
đói vẫn chủ yếu nằm ở các vùng nông thôn. Trong số 1,2 tỷ người trên thế
giới sống với chưa đầy 1 USD/ngày, đại đa số (700 triệu người) là nông dân
sản xuất nhỏ, những người lao động trên đồng ruộng và gia đình của họ ở
châu Phi hạ Sahara (phần châu Phi nằm phía Nam sa mạc Sahara) và Nam Á,
những người không thể nuôi sống bản thân, chưa kể đến số dân thành thị đang
tăng lên, do sản lượng nông nghiệp giảm sút trong nhiều thập kỷ qua.
Hầu hết những người bị đói là phụ nữ và trẻ em. Phụ nữ chiếm 80%
nông dân ở châu Phi, nhưng họ chỉ tiếp cận được 5% đất nông nghiệp, tín
dụng và các dịch vụ được mở rộng ở châu lục này. Châu Phi hạ Sahara chiếm
55% tỷ lệ chênh lệch về dinh dưỡng toàn cầu với những tác động tàn phá đối
với sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em. ½ trong toàn bộ trẻ em
Nam Á, hầu hết ở nông thôn, bị nhẹ cân so với tuổi.
Do đó, sự ủng hộ quốc tế và những khoản đầu tư của các nước đang phát
triển vào nông nghiệp bị giảm mạnh trong những năm 1980 - 1990. Giai đoạn
1980 - 2009, viện trợ nước ngoài cho các nước có thu nhập thấp để phát triển
nông nghiệp giảm từ 17% trong tổng số viện trợ xuống còn 3%. Trong những
năm 1990, tỷ lệ tăng trưởng chi phí công cộng toàn cầu về nghiên cứu nông
nghiệp đã giảm ½.
Nhu cầu lương thực toàn cầu đang tăng lên do dân số tăng và chế độ ăn
uống thay đổi, và mức tăng này đã bỏ xa tốc độ gia tăng sản lượng các mùa
vụ. Ví dụ, sản lượng ngô tnh theo đầu người ở châu Phi đã giảm 14% kể từ
năm 1980. Đến năm 2050, để đáp ứng dân số dự kiến tăng lên của châu Phi,
sản lượng lương thực của châu lục này cần phải tăng gấp đôi.
Ở mức độ nào đó, sự chênh lệch giữa cung và cầu lương thực đã được
đáp ứng bằng việc nhập khẩu. Nhập khẩu ngũ cốc thương mại của các nước

10 năm Việt Nam đã giảm gần 50% số hộ nghèo. 16
1.1.2.2. Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước láng giềng với Việt Nam, có những điều kiện
kinh tế - xã hội tương đồng với Việt Nam. Trong những năm vừa qua, Trung
Quốc đã thu được những thành công vượt bậc trong phát triển kinh tế và xoá
đói giảm nghèo, đặc biệt trong chương trình xoá đói giảm nghèo đã đạt được
những thành tựu to lớn. Là quốc gia có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, từ 240
triệu hộ nghèo năm 1980 đến năm 2009 còn 25 triệu hộ, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân nói chung và của đồng bào dân tộc thiểu số đã được
cải thiện rõ nét.
Giải pháp xoá đói, giảm nghèo mà Trung Quốc đưa ra rất thiết thực, cụ thể:
- Thực hiện theo hình thức cuốn chiếu, chẳng hạn giai đoạn đầu chọn
500 thôn nghèo nhất. Nhà nước tập trung đầu tư cho hai năm với nguồn lực
đủ mạnh để giải quyết những công trình bức xúc liên quan đến sản xuất, đời
sống dân sinh. Sau hai năm lại chuyển đầu tư cho các thôn tiếp theo.
- Đối với gia đình nghèo, trước hết giúp cho họ cách thức làm ăn, đi vào
phát triển sản xuất để đảm bảo cuộc sống, sức khoẻ, sau đó mới hỗ trợ đầu tư,
cho vay vốn để phát triển mạnh sản xuất để thoát nghèo bền vững, nhiều vùng
hướng mạnh vào chăn nuôi bò sữa.
- Thực hiện nhiều chnh sách ưu đãi đối với gia đình nghèo, địa phương
nghèo, có cơ chế động viên toàn xã hội tham gia vào chương trình giảm
nghèo, động viên các tổ chức phi chính phủ, các nhà máy, xí nghiệp tham gia
đầu tư vào các vùng nghèo, đẩy mạnh hợp tác quốc tế với nhiều hình thức
thích hợp như liên doanh đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất sữa quy mô lớn ở
các khu tự trị, tỉnh nghèo để thúc đẩy chăn nuôi bò sữa, tạo nhiều việc làm
tăng thu nhập cho nông dân để thoát nghèo bền vững.
- Coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ về kỹ

dầu cọ. Tại nơi ở mới, những người định cư được cung cấp nhà ở với kết cấu
hạ tầng tốt về điện, nước. 18
- Chương trình cải tạo đất nông nghiệp thông qua việc dồn điền đổi thửa,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại. Ở một
số nơi, chương trình này cũng được thực hiện theo mô hình hợp tác xã để đạt
được những lợi ích sản xuất trên quy mô lớn.
- Chương trình kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn với những
hoạt động chế biến nông sản, khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và kinh doanh ở nông thôn để tạo thêm nguồn thu nhập.
- Chương trình sản xuất tăng vụ, liên canh và xen canh cây trồng trên
cùng một thửa đất để nâng cao hiệu quả và năng suất canh tác.
- Dự án thành lập các chợ của nông thôn ở các trung tâm đô thị để họ
bán trực tiếp sản phẩm của mình thay vì qua các trung gian.
- Chương trình hỗ trợ về đào tạo, tín dụng, khoa học kỹ thuật, tiếp thị
cho người dân nông thôn để họ có thể tìm được những việc làm phi nông
nghiệp hoặc thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh của riêng mình ở các
vùng nông thôn hoặc các thành thị.
Bên cạnh các chương trình và dự án nhằm nâng cao thu nhập, Chính phủ
cũng thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của
người nghèo, chẳng hạn như thông qua việc cung cấp kết cấu hạ tầng và các
dịch vụ xã hội. Đối với các vùng nông thôn, Chính phủ đã xây dựng đường
điện, điện thoại, ống nước, đường giao thông, cung cấp các dịch vụ y tế, xây
dựng trường học, bao gồm cả nhà ở nội trú cho học sinh,
Ngoài ra các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cũng tự nguyện
tham gia tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo. Những hoạt động chính
của các chủ thể này bao gồm: hỗ trợ về tín dụng, đào tạo nghề và tìm kiếm
việc làm cho người nghèo, ngoài ra họ còn có các biện pháp hỗ trợ về điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status