1
Phần 1. Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Trong thời gian qua, nền nông nghiệp nớc ta có những bớc phát
triển mạnh mẽ, đã và đang chuyển dần từ nền sản xuất tiểu nông, tự cung tự
cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa. Từ một nớc phải nhập khẩu
gạo, Việt Nam đã trở thành nớc xuất khẩu nông sản có thứ bậc trên thế giới:
Đứng thứ nhất về điều với sản lợng xuất khẩu là: 127.000 tấn (năm 2006)
[29]. Đứng thứ hai về gạo, chè, cà phê: 14.106.443 tấn chỉ sau Brasil [28],
đứng thứ t về cao su. Ngoài ra còn xuất khẩu nhiều loại lơng thực khác nh
rau quả, thịt Đời sống của đại bộ phận nông dân ngày càng đợc cải thiện.
Có đợc những thành tựu này là nhờ sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, sự
nỗ lực của hàng chục triệu nông dân và đóng góp to lớn của tất cả các ban
ngành từ Trung ơng đến địa phơng trong đó có hệ thống khuyến nông Việt
Nam
(Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005) [1].
Hệ thống khuyến nông Việt Nam đợc chính thức hình thành sau khi
Chính phủ ban hành nghị định 13/CP về công tác khuyến nông, ngày 2 tháng
3 năm 1993. Sự ra đời của hệ thống khuyến nông Việt Nam đáp ứng yêu cầu
mới của sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn nớc ta. Qua hơn 10 năm
hoạt động khuyến nông đã có những đóng góp to lớn trong quá trình phát triển
nông nghiệp, nâng cao dân trí và trình độ kỹ thuật cho nông dân. Hầu hết các
giống cây, con mới trong sản xuất hiện nay, chủ yếu do kênh khuyến nông
(Khuyến nông nhà nớc và khuyến nông tự nguyện) chuyển giao và tham gia
phát triển, làm tăng nhanh năng suất, chất lợng cây trồng, vật nuôi. Một
trong những hoạt động khuyến nông đợc quan tâm đến trong những năm trở
lại đây, đó là hoạt động đào tạo, tập huấn khuyến nông. Công tác đào tạo, tập
huấn khuyến nông đang ngày càng đợc chú trọng hơn cả về mặt số lợng và
chất lợng (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005)
[1].
Hiện nay với sự phát triển nh vũ bão của khoa học - kỹ thật, nhiều
thiết khách quan, cả giá trị về mặt lý luận cũng nh thực tiễn rất sâu sắc.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đợc thực trạng và tác động của công tác đào tạo, tập huấn
khuyến nông đến đội ngũ cán bộ khuyến nông các cấp và nông dân trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên, từ đó đa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
các chơng trình đào tạo, tập huấn trong giai đoạn mới.
3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng của công tác đào tạo, tập huấn khuyến nông đối
với cán bộ khuyến nông và nông dân trên địa bàn tỉnh.
Đánh giá tác động của các chơng trình đào tạo, tập huấn khuyến
nông đến đội ngũ cán bộ khuyến nông và nông dân.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các chơng
trình đào tạo, tập huấn khuyến nông đến đội ngũ cán bộ khuyến nông và nông
dân.
1.4. ý nghĩa của đề tài
1.4.1. ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Bổ sung các kiến thức thực tế của các chơng trình đào tạo và tập huấn
khuyến nông đã đợc học về lý thuyết trong nhà trờng.
Bổ sung thêm những kiến thức mới về đánh giá tác động của đào tạo,
tập huấn.
Có đợc cái nhìn tổng thể về thực trạng công tác đào tạo, tập huấn
khuyến nông đến cán bộ khuyến nông và nông dân trên địa bàn tỉnh.
Đề tài cũng đợc coi là một tài liệu tham khảo cho Trờng, Khoa, các
cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.4.2. ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Đề tài có thể là cơ sở để có những định hớng nhằm nâng cao hiệu
quả của các chơng trình đào tạo, tập huấn đối với đội ngũ cán bộ khuyến
nông và nông dân không chỉ cho Trung tâm Khuyến nông tỉnh Thái Nguyên
trợ này một cách thành công hơn trong các chơng trình của họ nếu nh họ
hiểu đợc một số nguyên tắc cơ bản của nhận thức:
2.1.1.1. Quan hệ
Những nhận thức của chúng ta có quan hệ với nhau chứ không phải
độc lập thuần tuý. Mặc dù chúng ta không có khả năng nói chính xác trọng
lợng hay diện tích bề mặt của một vật thể nhng chúng ta có thể nói rằng nó
nặng hay nhẹ, rộng hay hẹp hơn so với một vật thể tơng tự. Vì thế khi soạn
thảo ra những bức thông điệp chúng ta nhớ rằng một nhận thức cá nhân ở bất
kì một phần nào đó của bức thông điệp sẽ phụ thuộc vào đoạn ở ngay trớc
đó. Khi một nhà soạn thảo đang chuẩn bị in một bức thông điệp và muốn gây
sự chú ý cho ngời đọc đến một thay đổi nào đó trong bức thông điệp thì anh
ta có thể để những chỗ trống hay thay đổi kích cỡ. Nhận thức về bức thông
điệp cũng chịu ảnh hởng bởi những cái xung quanh nó. Là ngời làm công
5
tác khuyến nông cần phải chủ động, linh hoạt, biết liên hệ với thực tiễn gắn
với điều kiện cụ thể của ngời nông dân, để họ hiểu đợc điều mà ta muốn
truyền đạt tới cho họ.
2.1.1.2. Chọn lọc
Nhận thức của chúng ta mang tính chọn lọc rất kĩ lỡng. Các chuyên
gia thông tin - ngời hiểu rất rõ những nhân tố này, chắc chắn sẽ tạo đợc sự
chú ý của ngời tiếp nhận thông tin ở những phần nào đó của bức thông điệp
mà họ muốn nhấn mạnh. Họ cũng biết thông điệp cần nhấn mạnh chỗ nào,
nhắc lại hay lợc bỏ để làm cho ngời nhận thông tin không phải bận bịu với
những thông tin thừa và vô bổ. Trong công tác chuyển giao tiến bộ khoa học -
kỹ thuật đến với ngời nông dân, ta cần biết điểm nào, chỗ nào là quan trọng,
cần phải nhấn mạnh, để họ có thể chú ý, quan tâm nhiều hơn đến vấn đề đó.
Nh vậy sẽ tạo ra một khoảng cách nhất định, giúp họ nhận biết đợc những
thông tin nào là quan trọng và những thông tin nào là bổ trợ.
Những kinh nghiệm trớc đây cũng có ảnh hởng đến sự chọn lọc
Việc hỏi một câu hỏi cụ thể nào đó trong một cuộc phỏng vấn có thể
điều khiển ngời trả lời theo một định hớng đặc biệt nào đó. Vì thế khi soạn
thảo ra các bộ câu hỏi, việc tránh câu trả lời đợc sắp đặt sẵn bằng cách
chuyển từ những câu hỏi chung chung sang những câu hỏi cụ thể là rất quan
trọng.
Ngời làm công tác khuyến nông thờng đợc đào tạo chu đáo và có
những kiến thức mang tính khoa học mà họ đã học đợc để nhận thức các điều
kiện nông nghiệp theo một cách nào đó. Những ngời này mà họ phục vụ -
nông dân có thể nhận thức các điều kiện ấy một cách khác hẳn. Họ có thể đặc
biệt nhấn mạnh những hiện tợng thần bí nh các giai đoạn của mặt trăng khi
trồng trọt. Ngời làm công tác khuyến nông phải học để hiểu đợc những
nhận thức này trớc khi cố gắng làm thay đổi nó.
2.1.1.5. Loại nhận thức
Một cá nhân này sẽ có những nhận thức rất khác với cá nhân kia trong
cùng một tình huống xảy ra, bởi vì họ có những loại nhận thức khác nhau.
Nhiều kết quả bằng mắt hay những chứng minh quang học phụ thuộc vào một
thực tế là chúng ta không thể nhận thức không gian một cách trực tiếp mà phải
suy luận chúng từ những kí hiệu. Chúng ta có xu thế dự tính quá độ dài của
đờng kẻ dọc trong hình 2.1, trong khi thực tế thì cả đờng kẻ dọc lẫn đờng
ngang đều có độ dài bằng nhau.
7
Vì thế ngời soạn thảo thông tin nên chọn những phơng pháp giới
thiệu phù hợp với kĩ năng của thính giả. Ngời làm công tác khuyến nông ở
các nớc đang phát triển thờng phải làm việc với những nông dân ít đợc học
hành, vì thế họ phải tập trung vào việc trình bày những thông tin thật cụ thể
chứ không phải những thông tin trừu tợng.
và quan sát những kết quả lao động của họ. Hầu hết nông dân ở các nớc công
nghiệp coi kinh nghiệm thực tế là tốt nhất và họ thờng cố gắng học hỏi, mặc
dù họ có rất nhiều cơ hội để học về phơng pháp phát triển nông nghiệp mới
bằng cách tham gia các lớp tập huấn, hoặc đọc báo chí
Khái niệm phát triển trong các chơng trình khuyến nông bao gồm
một tiến trình mà chúng ta lựa chọn giữa những kinh nghiệm cụ thể và những
khái quát hoá trìu tợng. Những khái quát hoá giúp chúng ta hiểu đợc và đặt
những kinh nghiệm cụ thể mới vào phạm vi của nó. Sau đó những kinh
nghiệm cụ thể lại giúp ta mở mang và sàng lọc những khái quát hoá của chúng
ta. Đôi khi trong khuyến nông, chúng ta có xu hớng chuyển quá nhanh từ
những kinh nghiệm cụ thể và thực tế tới những khái quát hoá trừu tợng.
Nh vậy, trên cơng vị là nhà thông tin, tuyên truyền nói chung và
ngời cán bộ khuyến nông nói riêng, nghiên cứu nhận thức của con ngời -
nông dân sẽ giúp ta biết cách sử dụng kênh thông tin nào để truyền đạt tới
ngời nông dân sao cho đơn giản và dễ dàng nhất mà ngời tiếp nhận thông
tin có thể hiểu đợc một cách nhanh chóng, đầy đủ và chính xác.
Con ngời tiếp nhận thông tin, kiến thức, kĩ thuật mới qua rất nhiều
kênh truyền khác nhau nh: tivi, đài, báo, sách vở, trao đổi với bạn bè, tham
quan, trình diễn, tập huấn Đề tài tiến hành nghiên cứu sự tác động của một
loại kênh truyền đến đội ngũ cán bộ khuyến nông và nông dân đó là: Đào tạo,
tập huấn khuyến nông. Thực chất, vai trò của đào tạo, tập huấn đến cán bộ
khuyến nông và nông dân nh thế nào?
2.1.3. Đánh giá trong khuyến nông
2.1.3.1. Vài nét cơ bản về đánh giá trong khuyến nông
Đánh giá là định một giá trị hoặc một phần xét đối với một sự vật nào
đó. Đánh giá công tác khuyến nông là đa ra những nhận xét về giá trị các
9
hoạt động khuyến nông (PGS.TS Chanoch Jacobsen, 1996) [18]. Trong các
đánh giá khuyến nông, chúng ta sẽ trả lời câu hỏi cơ bản là: Nỗ lực đã thực
hiện có xứng đáng với những gì định ra hay không? Nói cách khác chúng ta
thông tin về định lợng để thực hiện phân tích thông kê. Để đánh giá khoa học
hơn nữa, nên rút ra một mẫu đại diện, thử trớc bằng câu hỏi đó và kiểm tra
giá trị của tiêu chuẩn để so sánh.
Song, tuy có những khác biệt, tất cả các ví dụ trên đều là việc đánh
giá. Vì chúng ta không có đủ thời gian để đạt đợc độ chính xác và khoa học
cho mọi sự vật, nên tất cả chúng đã có tính sử dụng trong công tác khuyến
nông. Vả lại, ta không thể nào trình bày mọi chi tiết của một công trình đánh
giá khoa học trong một chơng ngắn. Mặt khác phải làm sao cho những đánh
giá về công tác khuyến nông đáng đợc tin cậy hơn đôi chút so với hiện nay
bằng việc lập kế hoạch cẩn thận và có hệ thống cho bất cứ công việc phải làm.
2.1.3.2. Đánh giá cái gì?
Lý do rõ rệt và đơng nhiên nhất phải thực hiện việc đánh giá bất kể ở
trình độ chính xác nào là xem có vấn đề gì đó sai, rằng có vấn đề không
những kết quả mà cả các tình trạng hoạt động cũng có thể phải đợc đánh giá
nhằm hiểu chính xác hơn tính chất của vấn đề để có thể phải làm gì trớc mắt.
Chẳng hạn, giả thiết rằng đã chuẩn bị một ngày trình diễn cho 500
nông dân trong huyện, nhng chỉ có 50 ngời đến dự. Nh vậy vẫn phải đánh
giá chơng trình và chuẩn bị cho ngày trình diễn đó. Hoặc có thể ta đã mời
chuyên gia đến nói chuyện cho một nhóm nông dân về một vấn đề trồng trọt.
Song khi giảng hóa ra anh ta nói về những nhận thức, hoạt động trên thế giới
và chủ đề hơn là vấn đề thực tiễn trớc mắt của nông dân nh đã định. Đánh
giá việc xác định các mục tiêu cho bài nói chuyện có thể giúp tìm ra nguyên
nhân của việc thất bại đó.
Tóm lại, đánh giá khuyến nông không nên chỉ giới hạn ở việc đánh giá
kết quả cuối cùng. Kết quả cuối cùng đơng nhiên là quan trọng, song các
khuyến nông viên phải tạo cho mình thói quen đánh giá có hệ thống tất cả các
giai đoạn của công việc, đặc biệt khi sự việc diễn ra không trôi chảy.
2.1.3.3. Ai phải đánh giá?
Về nguyên tắc, đánh giá khuyến nông có thể do một trong bốn thành
phần sau đây: nông dân (hoặc khách hàng), bản thân các khuyến nông viên,
thờng tốt nhất là giao cho các chuyên gia thực hiện bằng những công trình
đánh giá. Những chuyên gia đó nên tìm trong lĩnh vực giáo dục, xã hội, tâm lý
học và công tác xã hội. Họ có đủ bí quyết cần thiết để cấu trúc những bảng
câu hỏi, kỹ thuật điều tra mẫu điển hình, phơng pháp phân tích thống kê và
suy luận để thực hiện tốt công tác. Dùng họ sẽ đạt đợc độ tin cậy lớn hơn vào
12
các kết luận. Điều khó khăn chủ yếu là những đề nghị thay đổi do các chuyên
gia ngoài ngành đề xuất, cho dù tỏ thái độ tán thành hay có logic đi nữa thì
cũng ít khi đợc các quan chức tiếp thu có thiện cảm ngay cả khi chính họ cho
phép nghiên cứu và dùng ngân sách của họ để tài trợ.
Nhìn chung, ngời đánh giá càng cố gắng đa ra kết quả đánh giá thì
càng có cơ may các kết luận đợc thực hiện đúng nh vậy và ngợc lại, nếu
những bằng chứng đánh giá bị lệch lạc và thiếu độ tin cậy. Vậy hãy tìm cách
giữ một sự cân đối giữa hai tình huống.
2.1.3.4. Lập kế hoạch đánh giá
Phần này trình bày trình tự các bớc tuân theo một cách hệ thống
trong việc lập kế hoạch nghiên cứu đánh giá. Số lợng các chi tiết sự kiện tùy
thuộc chủ yếu vào phạm vi đánh giá định sẵn. Nói chung phạm vi càng rộng,
thì càng phải cần nhiều chi tiết song với cả những đánh giá tủn mủn cũng cần
phải giành mạch và tránh tình trạng đánh giá theo lối ứng khẩu. Có năm bớc:
1. Định nội dung vấn đề:
Ta không bao giờ có đủ thời gian và t liệu để đánh giá những gì có
thể hoặc thậm chí cần phải đợc đánh giá. Vậy phải chọn lọc và thực hiện một
lựa chọn hợp lý. Hãy tự hỏi vấn đề gì cần giải quyết hoặc tạo điều kiện để giải
quyết bằng việc đánh giá này? Vấn đề nào quan trọng hơn, cấp thiết hơn các
vấn đề khác? Có thể đặt câu hỏi theo cách khác: Vấn đề nào thực sự cần đánh
giá và tại sao cần đánh giá?
Những câu trả lời cho các câu hỏi trên sẽ là lý do cơ bản để chọn từng
vấn đề cần đánh giá và vấn đề nào không cần. Ngoài ra chúng còn giúp xác
minh nỗ lực ta cần đòi hỏi hỗ trợ tài chính và hợp tác.
thông tin cho một nội dung đánh giá và hãy liệt kê ra cho từng câu hỏi.
Khi đã có bảng liệt kê thông tin, phải tìm cách thu thập đợc thông tin
đó. Trong một số trờng hợp, chỉ là một việc đơn giản nh đo năng suất sữa
hoặc tính toán tiêu thụ nớc cần cho một tấn nông sản. Trờng hợp khác
không có cách gì khác hơn là đi hỏi hoặc phỏng vấn yêu cầu nông dân điền
vào một bảng thăm dò. Phơng pháp này đòi hỏi nhiều kinh nghiệm hơn,
nhiều kỹ thuật phức tạp hơn. Khi cha đạt đợc kinh nghiệm thì có lẽ tốt nhất
là mời chuyên gia giúp đỡ. 14
Hình 2.2: Chu kỳ đánh giá
(Chanoch Jacobsen, 1996) [18]
Còn một phơng pháp khác để thu thập dữ liệu là dùng biện pháp kín
đáo hoặc những chỉ báo gián tiếp của những thông tin cần có. Sau đây là ví
dụ của một cán bộ điều tra xã hội học nông thôn. Anh nghiên cứu viên này
muốn tìm ra những cơ sở của tác động qua lại về mặt xã hội trong một vùng
nông thôn bang Wicsconsia - Mỹ, hồi đầu thế kỷ này. Anh ta đo vết lún bánh
để so sánh đợc nếu mục tiêu (tức tiêu chuẩn) là do nông dân trong nớc phải
thực hành trồng trọt theo đờng đồng mức thì dữ liệu phải là số nông dân, mà
không phải là - ví dụ - bằng diện tích Bao nhiêu tấc đất trồng theo đờng
đồng mức? nếu mặt khác mục 60% diện tích trồng trọt trong huyện phải
đợc trồng theo đờng đồng mức, thì dữ liệu thu đợc phải là % diện tích đất
trồng trọt hiện có trong huyện.
Hi vọng rằng với ví dụ đó đã nói rõ vì sao nên thiết kế việc phân tích
trớc khi thu thập dữ liệu. Nếu không sẽ kết thúc bằng những dữ liệu không
thể so sánh đợc với tiêu chuẩn đã định. Từ dữ liệu nh vậy, ngời ta không
thể rút ra những kết luận có giá trị về các hoạt động khuyến nông.
5. Chuẩn bị cho việc phản hồi:
Giả thiết rằng đã thực hiện các đánh giá nh đúng dự tính. T liệu đó
có thể đảm bảo cho ta các câu trả lời cho những câu hỏi đã đặt ra trong bớc
hai. Vậy đó là cái gì, đó là những câu trả lời phải đợc phản hồi vào hệ thống
để cho đầy đủ mọi thứ, nghĩa là để giúp giải quyết vấn đề trong bớc một. Rõ
ràng là phải tận dụng các kết quả, việc đó cũng phải đợc lập kế hoạch từ
trớc.
Từ đầu, đề tài đã nói về việc các quan chức rất ngần ngại khi tiếp thu
các giải pháp do chuyên gia bên ngoài hệ thống kiến nghị. Cũng nh vậy, bản
thân ta cũng ngần ngại chấp nhận những kết luận của bản thân, nếu những giải
pháp đó đề ra sự cần thiết phải thay đổi mật độ số dự án hay vấn đề ta vốn
16
nâng niu. Cũng đúng nh khi anh phải đứng trớc một vấn đề trớc khi quyết
định đánh giá. Đánh giá là đa một nhận xét, hãy nhớ nh vậy và nhận xét
không phải lúc nào cũng xuôi chiều. Ta đã chuẩn bị tinh thần cho việc tự phê
bình loại đó cha? Nếu câu hỏi gây cho ta đôi chút khó chịu, thì hãy xem khó
chịu biết bao khi đánh giá các hoạt động có thể đa lại cảm giác không thuận
lợi cho ngời khác.
Không có phơng pháp nào có đủ cơ sở chắc chắn để đảm bảo trớc
rằng những ngời liên quan sẽ sử dụng những kết quả đánh giá của ta. Song
thiện chơng trình đào tạo với kết quả cao (Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Mạnh
Thắng, 2007) [6].
2.1.4.2. Sự cần thiết phải đánh giá đào tạo, tập huấn
Thông thờng đánh giá đào tạo, tập huấn là bớc cuối cùng trong chu
trình thiết kế đào tạo, tập huấn. Tuy nhiên, chúng ta nên lồng ghép việc đáng
giá vào trong các chơng trình đào tạo, tập huấn nhằm giúp chúng ta nắm
đợc chất lợng đào tạo, tập huấn khi nhận đợc những phản hồi.
- Những mục tiêu đạt đợc của cả học viên và giảng viên.
- Kết quả đạt đợc của các phơng pháp và tiến trình đào tạo, tập
huấn.
- Liệu chơng trình đào tạo, tập huấn có đáp ứng đợc những nhu cầu
đã đặt ra ở cấp thôn bản, tổ chức và cá nhân hay không?.
2.1.4.3. Đánh giá cái gì và khi nào
Mục tiêu của việc đánh giá là tìm hiểu sự hứng thú và hài lòng của các
học viên. Tuy nhiên, đánh giá cuối khoá học cần tập trung vào những mục tiêu
học tập cụ thể. Nói cách khác, sự hứng thú và hài lòng của học viên vẫn cha
đủ mà chúng ta phải nắm đợc sự thay đổi về mặt kiến thức, kỹ năng và quan
điểm của học viên cuối khoá học.
Chúng ta thờng đánh giá các hoạt động đào tạo, tập huấn vào cuối
chơng trình đào tạo, tập huấn. Tuy nhiên nếu muốn đạt đợc mục tiêu tổng
thể/ mục đích cuối cùng, chúng ta cũng nên đánh giá hiệu quả sau đào tạo, tập
huấn.
2.1.4.4. Các loại đánh giá trong tập huấn
Có nhiều loại đánh giá, trong phạm vi tổ chức tập huấn thì đánh giá
bao gồm các loại sau:
1. Đánh giá nhu cầu đào tạo:
Là một khâu rất quan trọng khi tổ chức các khóa tập huấn trong
18
khuyến nông, khuyến lâm. Trớc đây, theo cách tiếp cận cũ việc đánh giá nhu
cầu đào tạo không hề quan trọng trong đào tạo khuyến nông, khuyến lâm.
19
Đánh giá nhu cầu đào tạo đợc tiến hành để phân tích nhu cầu đào tạo
trớc khi xây dựng khóa học. Tuy nhiên, chúng ta không nên chỉ dừng lại sau
khi đã hoàn thành việc xây dựng ban đầu, mà chúng ta vẫn nên tiếp tục quy
trình này. Khi đã biết về các học viên, thì việc điều chỉnh chơng trình khóa
học bắt đầu cùng với việc đa chơng trình đào tạo ra áp dụng cho phù hợp
với đặc điểm của từng nhóm học viên cụ thể. Mong đợi của học viên dần dần
đợc đáp ứng và ở mỗi chủ đề mới cần phải khái quát lại.
Đánh giá nhu cầu đào tạo có thể là đánh giá:
- Nhu cầu cộng đồng
- Nhu cầu tổ chức
- Nhu cầu học viên
Đánh giá nhu cầu đào tạo đợc thực hiện qua nhiều bớc:
Hình 2.3: Các bớc thực hiện đánh giá nhu cầu đào tạo
(Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Mạnh Thắng, 2007) [6]
2. Đánh giá học viên:
Một câu hỏi thờng xuyên đặt ra trong quá trình tập huấn là tại sao cần
hợp nào cũng không đợc phê phán học viên hay chỉ trích học viên nếu đánh
giá của bạn nhằm vào mục đích đào tạo, ngợc lại không nên để học viên cho
rằng bạn đã biết mọi điều về họ.
Đánh giá nhằm mục đích cấp chứng chỉ: là loại đánh giá nhằm cấp
chứng chỉ, bằng hay kiểm tra kiến thức để xác nhận một trình độ mà xã hội
thừa nhận. Loại đánh giá này do tính chất quan trọng nên ngời đánh giá là
ngời có chuyên môn cao, có trách nhiệm đảm nhận nh tập huấn viên, cơ
quan cấp kinh phí, cơ quan đào tạo.
Nội dung đánh giá:
- Khối kiến thức đã có so với nhu cầu đào tạo của học viên
- Sự tiếp thu kiến thức, trình độ và khả năng áp dụng của học viên
- Sự tham gia, thái độ và mối quan hệ của học viên đối với tập huấn
viên và bạn học.
- Sự thay đổi thái độ, hành vi ứng xử, chất lợng các công việc mà học
viên làm sau khóa học.
Phơng pháp và công cụ đánh giá có thể là:
- Kiểm tra viết: là phơng pháp đánh giá dựa trên mẫu câu hỏi đã
chuẩn bị sẵn, tập huấn viên giao cho học viên trả lời bằng cách viết ra giấy
trong một thời gian cho phép. Khi hết giờ làm bài, tập huấn viên thu bài đó về
chấm và đánh giá theo thang điểm quy định.
- Kiểm tra vấn đáp: là phơng pháp đánh giá dựa trên các đối thoại
21
trao đổi, phỏng vấn, đóng vai, thuyết trình cá nhân hay nhóm... giữa học viên
với tập huấn viên. Tập huấn viên nghe trình bày đánh giá và cho điểm.
- Đánh giá thực hành: là phơng pháp đánh giá dựa trên quan sát, tham
quan, hoặc kiểm tra kỹ năng thực hành của tập huấn viên đối với học viên. Sau
đó tập huấn viên có thể trao đổi, đặt câu hỏi thêm và đánh giá.
Yêu cầu của các công cụ đánh giá:
- Có đáp án và thang điểm tơng ứng làm cơ sở đánh giá kết quả.
- Đã đợc thử nghiệm trớc và có giá trị thực tiễn (chính xác, đầy đủ
- Số ngày, thời lợng và cách bố trí thời gian: Thời lợng trong từng
ngày có tuân thủ theo lịch trình hay không? Nhiều hay ít? Sự phân bổ giữa lý
thuyết và thực hành?
4. Đánh giá tác động của tập huấn:
Khi khóa tập huấn kết thúc, đánh giá tác động của tập huấn đợc thực
hiện. Đây là loại đánh giá mang tính chất tổng hợp tất cả những đánh giá đợc
trình bày ở trên và đánh giá kết quả thu đợc từ tập huấn trên thực địa. Loại
đánh giá chủ yếu là do các cơ quan tập huấn, các nhà tài trợ, các tổ chức quản
lý và đôi khi do tập huấn viên tiến hành.
Đánh giá tác động của tập huấn nhằm trả lời các câu hỏi:
- Mục đích của buổi tập huấn và mục tiêu học tập có đạt đợc không?
- Tập huấn có phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất của hộ nông dân
và tại địa phơng?
- Tập huấn có đáp ứng đợc nhu cầu của học viên (cán bộ khuyến
nông và nông dân) hay không?
- Có sự thay đổi hoặc cải thiện trình độ kiến thức, thực hành, thái độ,
cách c xử hay không?
Đánh giá tác động của tập huấn thờng đợc thực hiện bằng các công
việc sau:
- Đánh giá số lợng: thờng dùng các chỉ tiêu nh: Số lợng ngời
đợc tập huấn, số lợt ngời tham gia tập huấn. Số lớp tập huấn đợc tổ chức.
Số ngày tập huấn. Số lợng kỹ thuật đã sử dụng. Số bài giảng, chủ đề, mô hình
đợc tập huấn. Số giáo cụ, số lợng kinh phí đã sử dụng.
- Tổng hợp đánh giá của học viên: dựa vào các phiếu đánh giá của học
viên, tập huấn viên tổng hợp kết quả đánh giá đầu và cuối buổi tập huấn để
xác minh đợc sự tiến triển trong việc tiếp thu kiến thức của học viên (Kiến
thức, thái độ, phơng pháp, cách c xử...)
23
- Tổng hợp đánh giá chất lợng của buổi tập huấn: Nội dung tập huấn,
phơng pháp tập huấn, những thay đổi của cả giảng viên và học viên.
huấn
Điều tra X X X
Trao đổi, đối thoại X X X
Theo dõi trên thực địa X X X
Câu hỏi mở X
Thi viết
Câu hỏi động não
X
Thi thực hành X
Cá nhân X
Thi vấn đáp
Theo nhóm X
(Nguồn: Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Mạnh Thắng, 2007) [6]
24
Ngoài ra trong tập huấn còn sử dụng một số phơng pháp đánh giá rất
nhanh, đơn giản nhng có hiệu quả. Ví dụ: Tập huấn viên sử dụng một tờ giấy
A
0
dán lên bảng rồi dùng bút chia thành các phần, ghi các nội dung cần đánh
giá nh: nội dung giảng dạy, phơng pháp giảng, tài liệu phát, công tác hậu
cần... rồi yêu cầu các học viên dùng bút dạ lên đánh giá và cho điểm theo các
tiêu chí đánh giá. Sau đó tập huấn viên tổng kết lại và từ đó có những điều
chỉnh...
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nớc và ngoài nớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nớc
Việc đánh giá tác động sau mỗi một khóa học tới các học viên là hết
sức cần thiết, thông qua đánh giá các nhà tổ chức, quản lý biết đợc hiệu quả
của một chơng trình, một khóa học tới các học viên tham gia. Trên cơ sở đó
để có những thay đổi sao cho hợp lý. Từ lâu trên thế giới đã có rất nhiều nhà
tổ chức, nhà nghiên cứu đánh giá tác động của các lớp đào tạo, tập huấn
Cũng trong một báo cáo đánh giá tác động của lớp tập huấn kỹ thuật
IPM khác đến cách quản lý dịch hại của ngời nông dân với nhiều loại cây
trồng năm 1998 của chơng trình IPM quốc gia tại Indonexia cho kết quả: khi
tham gia vào các lớp tập huấn, mối quan hệ giữa những ngời nông dân ngày
càng đợc thắt chặt hơn. Họ cải thiện đợc kỹ năng, cũng nh cách quản lý
dịch hại trên đồng ruộng. Tạo ra cho ngời nông dân những cơ hội mới để học
tập (thông qua các thí nghiệm), trao đổi kiến thức (thông qua các quan hệ mới,
diễn đàn), tăng thu nhập (thông qua những sáng kiến mới, thông tin)... Và một
vài chính sách địa phơng cũng đợc thay đổi thông qua các lớp tập huấn này.
(FAO Technical Assistance Team, 1998) [22].
Trong báo cáo đánh giá tác động, tính bền vững và khả năng mở rộng
của lớp tập huấn kỹ thuật IPM trên cây lúa ở Bangladesh năm 2002 đã chỉ ra:
92% giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu trên cây trồng đối với những nông dân
tham gia vào lớp học FFS. Năng suất cây trồng với những nông dân tham gia
lớp học FFS tăng hơn 9% so với những nông dân không tham, từ 4,7 tấn/ha lên
5,2 tấn/ha. (E.W. Larsen, M.L. Haider, M. Roy & F. Ahamed, 2002) [21].
Báo cáo phân tích kinh tế - xã hội của lớp học FFS đợc thực hiện bởi
chơng trình IPM quốc gia tại Thái Lan vào năm 2003 cho thấy: hiểu biết của
những nông dân tham gia lớp học FSS về các loại côn trùng và thiên địch tăng
lên. Chi phí sử dụng thuốc trừ sâu cho cây trồng giảm 58%. (Praneetvatakul,
S. & H. Waibel, 2003
)
[25].
Thuốc trừ sâu Thuốc BVTV
khác
Sau
Trớc