TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
BÁO CÁO TỐT NGHIỆPĐỀ TÀI:
Đánh giá tác động của các chương trình
đào tạo, tập huấn khuyến nông đến đội
ngũ cán bộ khuyến nông và nông dân trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên 2005 đến 2007
1
Phần 1. Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Trong thời gian qua, nền nông nghiệp nớc ta có những bớc phát
triển mạnh mẽ, đã và đang chuyển dần từ nền sản xuất tiểu nông, tự cung tự
cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa. Từ một nớc phải nhập khẩu
gạo, Việt Nam đã trở thành nớc xuất khẩu nông sản có thứ bậc trên thế giới:
Đứng thứ nhất về điều với sản lợng xuất khẩu là: 127.000 tấn (năm 2006)
[29]. Đứng thứ hai về gạo, chè, cà phê: 14.106.443 tấn chỉ sau Brasil [28],
đứng thứ t về cao su. Ngoài ra còn xuất khẩu nhiều loại lơng thực khác nh
rau quả, thịt Đời sống của đại bộ phận nông dân ngày càng đợc cải thiện.
Có đợc những thành tựu này là nhờ sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, sự
nỗ lực của hàng chục triệu nông dân và đóng góp to lớn của tất cả các ban
ngành từ Trung ơng đến địa phơng trong đó có hệ thống khuyến nông Việt
Nam
đem lại hiệu quả về mặt kinh tế, nhận thức và về mặt xã hội hay không? Đánh
giá tác động của hoạt động đào tạo, tập huấn là một nội dung quan trọng để
xem liệu một chơng trình đào tạo có thành công hay không? Nó có thể giúp
xác định mục tiêu đào tạo xác đáng hơn, tránh đợc những nội dung đào tạo
không cần thiết, đảm bảo các phơng pháp đào tạo đáp ứng đợc yêu cầu của
các học viên và giảm đợc chi phí đào tạo.
Đợc sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trờng, Ban chủ nhiệm Khoa
và sự giúp đỡ của Ths. Vũ Đức Hải, Ths. Nguyễn Hữu Thọ, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: Đánh giá tác động của các chơng trình đào tạo, tập
huấn khuyến nông đến đội ngũ cán bộ khuyến nông và nông dân trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2007, với mong muốn có cái nhìn
tổng thể về thực trạng của công tác đào tạo, tập huấn khuyến nông cũng nh
các kết quả đạt đợc sau mỗi một khóa đào tạo, tập huấn cho cán bộ khuyến
nông và nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất những giải
pháp cơ bản nhằm góp phần bổ sung v hon thiện nội dung chơng trình
đào tạo, tập huấn khuyến nông trên địa bn tỉnh Thái Nguyên để nâng cao
hiệu quả của các chơng trình ny trong giai đoạn tới. Đây l một vấn đề cần
thiết khách quan, cả giá trị về mặt lý luận cũng nh thực tiễn rất sâu sắc.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đợc thực trạng và tác động của công tác đào tạo, tập huấn
khuyến nông đến đội ngũ cán bộ khuyến nông các cấp và nông dân trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên, từ đó đa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
các chơng trình đào tạo, tập huấn trong giai đoạn mới.
3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng của công tác đào tạo, tập huấn khuyến nông đối
với cán bộ khuyến nông và nông dân trên địa bàn tỉnh.
Đánh giá tác động của các chơng trình đào tạo, tập huấn khuyến
Phần 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Nhận thức con ngời
Con ngời sinh ra, sống và tồn tại trong một ngôi nhà chung của nhân
loại đó chính là trái đất. Hằng ngày họ phải tiếp xúc, đối mặt với hàng trăm sự
việc, tình huống xảy ra trong cuộc sống thông qua nghe, nhìn, thậm chí là
những cảm giác nh sờ mó, nếm, ngửi đòi hỏi mình phải suy ngẫm, phân tích
và hành động sao cho hợp lý để mang lại hiệu quả cao nhất. Nhng kết quả
của những việc làm đó có thực sự nh họ mong muốn? Và điều gì quyết định
đến sự thành công hay thất bại? Một phần là khả năng nhận thức của chính
bản thân mình.
Nhận thức là một quá trình tiếp nhận thông tin hay những sự tác động
từ môi trờng bên ngoài chúng ta và truyền nó vào sự hiểu biết về tâm lý học
(A.W.Van den Ban & H.S.Hanwkins, 1998) [19]. Những ngời làm công tác
khuyến nông không thể chờ để hiểu đợc tâm lý phức tạp của nhận thức con
ngời - nông dân, nhng họ đánh giá đúng tại sao ngời ta lại giải thích những
cái xảy ra xung quanh họ một cách hoàn toàn khác nhau và những nhận thức
khác nhau này ảnh hởng đến thái độ thông tin của họ nh thế nào. Ngời làm
công tác khuyến nông phải có khả năng xây dựng kế hoạch và sử dụng sự hỗ
trợ này một cách thành công hơn trong các chơng trình của họ nếu nh họ
hiểu đợc một số nguyên tắc cơ bản của nhận thức:
2.1.1.1. Quan hệ
Những nhận thức của chúng ta có quan hệ với nhau chứ không phải
độc lập thuần tuý. Mặc dù chúng ta không có khả năng nói chính xác trọng
lợng hay diện tích bề mặt của một vật thể nhng chúng ta có thể nói rằng nó
nặng hay nhẹ, rộng hay hẹp hơn so với một vật thể tơng tự. Vì thế khi soạn
thảo ra những bức thông điệp chúng ta nhớ rằng một nhận thức cá nhân ở bất
kì một phần nào đó của bức thông điệp sẽ phụ thuộc vào đoạn ở ngay trớc
đó. Khi một nhà soạn thảo đang chuẩn bị in một bức thông điệp và muốn gây
sự chú ý cho ngời đọc đến một thay đổi nào đó trong bức thông điệp thì anh
để có thể thay đổi đợc cách nhìn, cách nghĩ của họ tới cùng một đối tợng.
2.1.1.3. Tổ chức
Nhận thức của chúng ta đợc tổ chức lại. Chúng ta có xu hớng sắp
xếp những nhận biết của cảm giác theo cách chúng có thể có ý nghĩa nào đó
cho chúng ta. Vì thế, chúng ta có thể giải thích một bức ảnh của một ngời
đàn ông với một bộ mặt, đôi tay bẩn thỉu và bộ quần áo cũ kĩ nh là một ngời
lời biếng hay rất nghèo. Mặt khác chúng ta có thể giải thích bức tranh đó nh
6
là một ngời nông dân chăm chỉ nếu nh bức tranh đó còn có cả một trang trại
ở phần nền. Vì vậy, khi truyền đạt thông tin đến với ngời nông dân, ngời
làm công tác khuyến nông cần lồng ghép các khuôn mẫu, điển hình trên thực
tế để bổ sung, chứng minh, giải thích cho các thông tin mà mình đa tới. Có
nh vậy ngời nông dân mới tiếp nhận thông tin một cách hiệu quả.
2.1.1.4. Hớng dẫn
Những sắp đặt thần kinh của chúng ta tác động đến những gì chúng ta
lựa chọn và làm thế nào để chúng ta tổ chức và giải thích nó. Sắp đặt là một
khái niệm nhận thức quan trọng có thể đợc nhà thiết kế thông tin sử dụng để
giảm bớt những giải thích có thể có cho một sự vật nào đó. Một ngời viết bài
cho một tập san khuyến nông bắt đầu bài viết của mình bằng một tóm tắt sẽ
sắp đặt cho ngời đọc tìm ra những điểm chính trong bài viết đó.
Việc hỏi một câu hỏi cụ thể nào đó trong một cuộc phỏng vấn có thể
điều khiển ngời trả lời theo một định hớng đặc biệt nào đó. Vì thế khi soạn
thảo ra các bộ câu hỏi, việc tránh câu trả lời đợc sắp đặt sẵn bằng cách
chuyển từ những câu hỏi chung chung sang những câu hỏi cụ thể là rất quan
trọng.
Ngời làm công tác khuyến nông thờng đợc đào tạo chu đáo và có
những kiến thức mang tính khoa học mà họ đã học đợc để nhận thức các điều
kiện nông nghiệp theo một cách nào đó. Những ngời này mà họ phục vụ -
nông dân có thể nhận thức các điều kiện ấy một cách khác hẳn. Họ có thể đặc
nông nhng chẳng bao giờ đọc nó cả, hoặc mở đài để nghe chơng trình ca
nhạc thay cho việc nghe chơng trình khuyến nông trên vô tuyến. Một ngời
làm thông tin giỏi vì thế phải soạn thảo những bức thông điệp có thể thu hút
hay giữ đợc sự chú ý trong quá trình thông tin.
Một nhà khuyến nông nào đó định sử dụng bộ ảnh đèn chiếu, cũng
thỉnh thoảng nên chú ý bao gồm cả một số ảnh đen trắng trong bộ su tập của
mình. Tính độc đáo cũng là một yếu tố rất quan trọng trong các thông điệp
khuyến nông.
2.1.2.2. Sử dụng tranh ảnh hay từ ngữ
Chuẩn bị một thông điệp có cả tranh ảnh lẫn từ ngữ là công việc
thờng làm của cán bộ khuyến nông. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: các
bức tranh có hiệu quả hơn là những từ ngữ khi phân biệt về mặt không gian.
Một bức ảnh hay tranh về một cây hay một con vật chắc chắn sẽ tạo ra một ý
nghĩa chung hơn là mô tả bằng lời nói hay viết ra. Tuy nhiên, sử dụng các từ
sẽ rất tốt cho việc phân biệt các yếu tố về thời gian nh tần suất và trình tự.
8
Các khái niệm nh: sự sinh trởng của cây trồng, chu kì sinh trởng và xói
mòn đất bao gồm cả không gian và thời gian thì sử dụng cả tranh ảnh lẫn từ
ngữ là rất thích hợp. Các từ ngữ cũng có thể tạo ra sự chú ý đối với những sự
thay đổi về không gian mà nó đợc nhìn bằng mặt.
2.1.2.3. Học bằng thực hành
Những ngời nông dân thờng học nghề bằng thực tế làm nông nghiệp
và quan sát những kết quả lao động của họ. Hầu hết nông dân ở các nớc công
nghiệp coi kinh nghiệm thực tế là tốt nhất và họ thờng cố gắng học hỏi, mặc
dù họ có rất nhiều cơ hội để học về phơng pháp phát triển nông nghiệp mới
bằng cách tham gia các lớp tập huấn, hoặc đọc báo chí
Khái niệm phát triển trong các chơng trình khuyến nông bao gồm
một tiến trình mà chúng ta lựa chọn giữa những kinh nghiệm cụ thể và những
khái quát hoá trìu tợng. Những khái quát hoá giúp chúng ta hiểu đợc và đặt
Mọi đánh giá gồm ba bớc cơ bản. Trớc tiên, nhận thông tin, song so
sánh thông tin đó với một tiêu chuẩn nào đó và cuối cùng đa ra một nhận xét
dựa trên so sánh đó. Ngay cả đánh giá nh nếm bữa súp cũng trải qua ba bớc
nh vậy. Ta thu thập thông tin bằng cách húp một thìa hoặc hơn, ứng dụng
tiêu chuẩn do ta định (theo ta, súp phải nh thế nào?) vào vị nếm trong miệng.
Sau đó nhận xét súp ngon, tồi hoặc bình thờng, ăn đợc, mặn hay quá lửa
trên cơ sở so sánh giữa bằng chứng (súp) với tiêu chuẩn.
Tuy nhiên, các đánh giá khác nhau về định lợng thu thập thông tin,
mức độ khách quan của tiêu chuẩn đã sử dụng và trình độ chính xác của các
nhận xét. Về cơ bản đó là chỗ khác biệt giữa các đánh giá hàng ngày nh
trờng hợp đĩa súp với các bảng nghiên cứu đánh giá. Đánh giá hàng ngày
nhìn chung là bộc phát, chủ quan và cũng có khi lệch lạc. Và kết quả là những
kết luận không mấy đáng tin cậy. Nghiên cứu khoa học nhằm đạt đợc độ tin
cậy bằng cách lập kế hoạch cẩn thận, dùng những tiêu chuẩn khách quan để so
sánh và bằng cách tránh lệch lạc (càng nhiều càng tốt) trong việc thu thập
thông tin và rút ra kết luận.
Không phải bất cứ đánh giá khuyến nông nào cũng phải qua nghiên
cứu mổ xẻ khoa học, nhng cũng không thể thực hiện giống nh một nhận xét
ngẫu nhiên. Có thể sử dụng nhiều mức chính xác và tinh vi khác nhau. Chẳng
hạn, nghe xong một bài nói chuyện, ta có thể đa ra một đánh giá ngay dựa
trên cảm giác của bản thân với ngời nói và dừng lại ở đó. Cũng có thể trao
đổi với những ngời nghe khác và rút ra kết luận từ các ý kiến kết hợp đó. Nếu
muốn có số liệu chính xác hơn, có thể cấu trúc một bảng câu hỏi và thu thập
10
thông tin về định lợng để thực hiện phân tích thông kê. Để đánh giá khoa học
hơn nữa, nên rút ra một mẫu đại diện, thử trớc bằng câu hỏi đó và kiểm tra
giá trị của tiêu chuẩn để so sánh.
Song, tuy có những khác biệt, tất cả các ví dụ trên đều là việc đánh
giá. Vì chúng ta không có đủ thời gian để đạt đợc độ chính xác và khoa học
Phần lớn nông dân sau khi xem trình diễn sẽ thực hành so sánh và
đánh giá ngay một cách hoàn toàn tự nhiên cho bản thân họ. Có thể họ còn
thảo luận ý kiến của họ với gia đình, láng giềng và bạn bè. Khuyến nông viên
khi thu thập hệ thống các ý kiến đó có thể thu thập đợc các phản hồi có giá
trị về các hoạt động của bản thân. Rõ ràng là ngời dự nghe càng nói lên
nhiều ý kiến và càng có nhiều sự đồng tình trong số họ thì đánh giá càng đáng
tin cậy.
Các khuyến nông viên có nhiều cơ hội để tự mình thực hiện đánh giá.
Tổ chức những cuộc họp thành viên để xem xét những hoạt động quy mô lớn
nh ngày trình diễn chẳng hạn hay những cuộc hội thảo là những cơ hội tốt để
thu thập thông tin và đánh giá công việc khi kết quả còn mới đọng lại trong trí
nhớ. Ngoài ra khuyến nông viên còn có thể quan sát một cách hệ thống và ghi
lại những tiến bộ về mùa vụ, gia súc, bảo dỡng máy móc và những vấn đề đã
xúc tiến nếu anh ta hỏi han đều đặn các nông dân. Loại thông tin đó rất có thể
là cơ sở hoàn toàn đáng tin cậy để đánh giá chơng trình khuyến nông của anh
ta về các chủ đề đó.
Nếu các cấp trên nh giám sát viên cấp huyện hoặc các giám đốc cỡ
quốc gia chỉ đạo việc đánh giá thì luôn luôn xảy ra tình trạng các nhân viên tại
chỗ hoặc cả nông dân sợ hãi có một nguy cơ to lớn nào đó hay sẽ bị phê phán.
Và kết quả là xảy ra sự hợp tác thậm chí giấu giếm các sự kiện có tính toán để
che chở và bảo vệ những ai bị đe dọa. Vì vậy, loại đánh giá trình độ đó thờng
thiếu cơ sở tin cậy. Mặt khác, để đánh giá trình độ thực thi của nhân viên
khuyến nông nhằm huấn luyện, đề bạt, thuê mớn hoặc loại bỏ, thì việc cấp
trên trực tiếp hoặc các trợ thủ điều khiển việc đánh giá là hoàn toàn phù hợp.
Việc đánh giá các chơng trình cỡ quốc gia hay khu vực gồm nhiều
hoạt động bộ phận dân c rộng lớn, một phần lớn cán bộ và có nhiều chủ đề,
thờng tốt nhất là giao cho các chuyên gia thực hiện bằng những công trình
đánh giá. Những chuyên gia đó nên tìm trong lĩnh vực giáo dục, xã hội, tâm lý
học và công tác xã hội. Họ có đủ bí quyết cần thiết để cấu trúc những bảng
câu hỏi, kỹ thuật điều tra mẫu điển hình, phơng pháp phân tích thống kê và
Đặt câu hỏi nh thế nào để khi có câu trả lời thì có thể đa thành đầu
vào của vấn đề và đạt đợc giải pháp.
Chẳng hạn, đã quyết định đánh giá các báo cáo đã định ký gửi đến văn
phòng vùng.
13
Trớc kia vì có thể ta có thời gian để viết các báo cáo vấn đề và xem ra
chúng chẳng có gì khác nhau lắm. Nay cần đặt ra những câu hỏi nào để đợc
trả lời nhằm tìm ra giá trị các báo cáo về công tác khuyến nông? Có thể có
những ví dụ sau:
- Cái gì xảy ra khi văn phòng vùng nhận đợc các báo cáo trên?
- Ai đọc chúng và vào lúc nào?
- Những báo cáo nào đã khêu gợi phản ứng xảy ra trớc kia và những
báo cáo đó khác với những báo cáo xem ra đã bị bỏ qua ở chỗ nào?
- Khi làm các báo cáo đó, phần nào mất nhiều thời gian nhất? Khi thu
thập thông tin? Hay sắp đặt suy nghĩ lại? Hay là khi viết? Có thể cần phải
khoa học hơn nữa và đặt giả thuyết từ những câu hỏi đó. Sau đó, những giả
thuyết phải đợc đối chiếu kiểm tra với dữ liệu thu thập đợc. Chẳng hạn, với
ví dụ thứ nhất, có thể ta muốn thử nghiệm giả thuyết rằng: 50% hoặc hơn các
báo cáo đã gửi không hề đợc đọc, vậy thu thập dữ liệu để tìm chúng có là
điên rồ không?
3. Định rõ các dữ liệu:
Đến bớc này hãy tự hỏi: Cần thông tin nào để giải đáp các câu hỏi
hay thử nghiệm các giả thuyết? Hoặc là loại thông tin có thể trực tiếp quan
sát, đếm, đo đợc nh số lợng nông dân dự trình diễn hoặc năng suất mùa
màng trên mỗi ha? Hay cần thông tin trừu tợng hóa trong suy nghĩ của nông
dân nh d luận, thái độ, động cơ hoặc trình độ thỏa mãn của họ với vấn đề?
Từng câu hỏi cần loại thông tin khác nhau, vì vậy phải thu thập đủ loại
thông tin cho một nội dung đánh giá và hãy liệt kê ra cho từng câu hỏi.
Khi đã có bảng liệt kê thông tin, phải tìm cách thu thập đợc thông tin
trên. Vết lún càng sâu, lu lợng giao thông qua đó càng nhiều. Đó là một
chỉ báo gián tiếp đo tần số tơng đối của giao lu giữa các trung tâm buôn
bán.
Có nhiều cách thu thập dữ liệu: Đọc vài công trình về vấn đề quan tâm
đã đăng tải để xem ngời khác xử lý vấn đề ra sao. Bằng trí tởng tợng và
thông minh ta có thể phát triển những chỉ báo khác cho báo cáo. Song khi thực
hiện phải đảm bảo tính giá trị của các chỉ báo, nghĩa là chúng thực hiện sự chỉ
ra cái mà ta muốn đo đạc chứ không phải cái gì khác.
4. Thiết kế phân tích:
Đến bớc này, đã biết rõ vấn đề của ta là vấn đề gì, câu hỏi nào cần có
trả lời, thông tin nào cần có và tìm nó ở đâu, bằng cách nào? Và đến đây, phải
định ra phơng pháp xử lý dữ liệu khi đã thu thập đợc.
Vấn đề
Mục đích
Dữ liệu
Kết quả
Phân tích
15
Điều đầu tiên phải làm là xác định tiêu chuẩn xuất phát để đánh giá dữ
liệu. Trong đánh giá công tác khuyến nông, tiêu chuẩn đó nếu là mục đích
hoặc mục tiêu hoạt động ta đang đánh giá. Chính vì thế xác định rõ và chính
xác các mục tiêu sẽ giải quyết một cách tốt đẹp. Mục tiêu đợc xác định càng
chính xác, tiêu chuẩn định ra càng rõ ràng và càng đáng tin cậy. Ngợc lại,
nếu không kịp xác định mục tiêu hoặc nếu việc xác định không đầy đủ và
không phải lúc nào cũng xuôi chiều. Ta đã chuẩn bị tinh thần cho việc tự phê
bình loại đó cha? Nếu câu hỏi gây cho ta đôi chút khó chịu, thì hãy xem khó
chịu biết bao khi đánh giá các hoạt động có thể đa lại cảm giác không thuận
lợi cho ngời khác.
Không có phơng pháp nào có đủ cơ sở chắc chắn để đảm bảo trớc
rằng những ngời liên quan sẽ sử dụng những kết quả đánh giá của ta. Song
khả năng họ sẽ thực hiện có thể đợc tăng lên mạnh mẽ nếu họ biến thành
những ngời tham gia trong toàn bộ dự án. Nói cách khác, ngời tham gia vào
việc lập kế hoạch, chuẩn bị và thực thi một chơng trình khuyến nông cũng sẽ
đợc huy động tích cực vào việc đánh giá. Tuy nhiên, nếu đợc vậy thì việc
đánh giá của ta sẽ góp phần vào cải thiện công tác khuyến nông và suy cho
cùng thì đó là toàn bộ vấn đề.
Sau đây là một đề cơng ngắn gọn ta có thể sử dụng khi lập kế hoạch
các công trình đánh giá cụ thể:
- Định nội dung vấn đề:
+ Cần đánh giá vấn đề gì?
+ Tại sao cần phải đánh giá?
- Xác định mục đích:
+ Câu hỏi nào cần đợc trả lời?
+ Để giải quyết vấn đề cần trả lời thế nào?
- Quy định dữ liệu:
+ Cần loại thông tin nào để giải đáp các câu hỏi?
+ Tìm thông tin đó ở đâu và bằng cách nào?
- Thiết kế phân tích:
+ Tiêu chuẩn nào đợc sử dụng để đánh giá?
+ Dữ liệu phải dới dạng nào để thực hiện so sánh đợc?
- Thu xếp phản hồi:
+ Kết quả sẽ đợc sử dụng ra sao?
+ Cần ai tham gia để kết luận đợc chấp nhận?
+ Mọi việc ta đã làm cho đến nay là hãy tiếp tục công việc.
Có nhiều loại đánh giá, trong phạm vi tổ chức tập huấn thì đánh giá
bao gồm các loại sau:
1. Đánh giá nhu cầu đào tạo:
Là một khâu rất quan trọng khi tổ chức các khóa tập huấn trong
18
khuyến nông, khuyến lâm. Trớc đây, theo cách tiếp cận cũ việc đánh giá nhu
cầu đào tạo không hề quan trọng trong đào tạo khuyến nông, khuyến lâm.
Ngời ta chỉ thực hiện các khóa đào tạo theo kế hoạch đã định trớc, theo
những kế hoạch chuyển giao công nghệ đã thực hiện ở đó. Hiện nay, việc đào
tạo trong khuyến nông, khuyến lâm đợc chuyển sang cách tiếp cận có sự
tham gia, nên điều tra đánh giá nhu cầu đào tạo là một bớc rất quan trọng.
Đánh giá nhu cầu đào tạo thực sự đợc coi là bớc quan trọng nhất, có
tính quyết định xem việc đào tạo có đáp ứng nhu cầu thực tế hiện nay hay
không. Đánh giá nhu cầu đào tạo là một công cụ có giá trị để biết về những
ngời tham gia trớc khi đào tạo. Nó cho ngời cán bộ đào tạo biết trớc
những thông tin về những chủ đề cần đợc thảo luận và làm thế nào để thực
hiện nó dựa vào những đặc điểm của ngời tham gia. Việc đánh giá nhu cầu
đào tạo có hiệu quả sẽ thúc đẩy việc tập huấn lấy ngời học làm trung tâm và
xây dựng những khóa học dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm của ngời
học. Cần lu ý rằng, xác định nhu cầu đào tạo nhằm tìm ra những kiến thức và
kỹ năng mà ngời học cần chứ không phải cái mà chúng ta có thể cung cấp
cho họ. Đánh giá nhu cầu đào tạo gồm nhiều bớc với sự tham gia của nhiều
đối tợng khác nhau (ngời dạy, ngời học, ngời xây dựng chơng trình,
ngời dân, nhà tài trợ và ngời sử dụng kết quả đào tạo ).
Đánh giá nhu cầu đào tạo sẽ giúp giảng viên biết trớc đợc những gì
mà họ cần để:
- Quyết định xem đào tạo có phải là một giải pháp tốt hay không.
- Xây dựng chiến lợc đào tạo đáp ứng nhu cầu đào tạo.
- Đa ra chơng trình đào tạo lấy học viên làm trung tâm, chơng trình
Hình 2.3: Các bớc thực hiện đánh giá nhu cầu đào tạo
(Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Mạnh Thắng, 2007) [6]
2. Đánh giá học viên:
Một câu hỏi thờng xuyên đặt ra trong quá trình tập huấn là tại sao cần
phải đánh giá học viên? Sở dĩ nh vậy là vì trong quá trình tập huấn, học viên
phải hiểu và tiếp thu đợc những kiến thức đã học. Học viên phải nắm đợc
mức độ tiến bộ của bản thân, những điểm còn hạn chế, những trở ngại và nhu
Xác định đối tợng
đào tạo và đối
tợng điều
tra
Lập kế hoạch
điều tra
Ti
ến hành
điều tra
Đánh giá,
viết báo cáo
Tổng hợp
thông tin
Phơng pháp và công cụ đánh giá có thể là:
- Kiểm tra viết: là phơng pháp đánh giá dựa trên mẫu câu hỏi đã
chuẩn bị sẵn, tập huấn viên giao cho học viên trả lời bằng cách viết ra giấy
trong một thời gian cho phép. Khi hết giờ làm bài, tập huấn viên thu bài đó về
chấm và đánh giá theo thang điểm quy định.
- Kiểm tra vấn đáp: là phơng pháp đánh giá dựa trên các đối thoại
21
trao đổi, phỏng vấn, đóng vai, thuyết trình cá nhân hay nhóm giữa học viên
với tập huấn viên. Tập huấn viên nghe trình bày đánh giá và cho điểm.
- Đánh giá thực hành: là phơng pháp đánh giá dựa trên quan sát, tham
quan, hoặc kiểm tra kỹ năng thực hành của tập huấn viên đối với học viên. Sau
đó tập huấn viên có thể trao đổi, đặt câu hỏi thêm và đánh giá.
Yêu cầu của các công cụ đánh giá:
- Có đáp án và thang điểm tơng ứng làm cơ sở đánh giá kết quả.
- Đã đợc thử nghiệm trớc và có giá trị thực tiễn (chính xác, đầy đủ
và phù hợp với mục tiêu đào tạo).
- Khách quan.
- Đáng tin cậy.
3. Đánh giá phơng pháp tập huấn:
Nhằm mục đích đánh giá mức độ thành công của buổi tập huấn. Nó
cho phép xem xét và trả lời câu hỏi liệu cách tổ chức và điều khiển tập huấn
có đáp ứng đợc mục tiêu đề ra hay không, từ đó cải thiện chất lợng buổi tập
huấn lần sau hoặc điều chỉnh một số khâu trong kế hoạch tập huấn. Cụ thể là:
để xem xét kỹ năng, phơng pháp, giáo án, giáo cụ và các mục trình có phù
hợp với học viên, với mục tiêu và yêu cầu đề ra hay không.
Việc đánh giá này phải do một ngời từ bên ngoài có kinh nghiệm
đánh giá. Ngời đánh giá phải khách quan, không có định kiến với học viên và
tập huấn viên. Nội dung đánh giá phơng pháp tập huấn:
- Cách thức tiến hành: Mục tiêu của buổi tập huấn có rõ ràng không?
- Tập huấn có đáp ứng đợc nhu cầu của học viên (cán bộ khuyến
nông và nông dân) hay không?
- Có sự thay đổi hoặc cải thiện trình độ kiến thức, thực hành, thái độ,
cách c xử hay không?
Đánh giá tác động của tập huấn thờng đợc thực hiện bằng các công
việc sau:
- Đánh giá số lợng: thờng dùng các chỉ tiêu nh: Số lợng ngời
đợc tập huấn, số lợt ngời tham gia tập huấn. Số lớp tập huấn đợc tổ chức.
Số ngày tập huấn. Số lợng kỹ thuật đã sử dụng. Số bài giảng, chủ đề, mô hình
đợc tập huấn. Số giáo cụ, số lợng kinh phí đã sử dụng.
- Tổng hợp đánh giá của học viên: dựa vào các phiếu đánh giá của học
viên, tập huấn viên tổng hợp kết quả đánh giá đầu và cuối buổi tập huấn để
xác minh đợc sự tiến triển trong việc tiếp thu kiến thức của học viên (Kiến
thức, thái độ, phơng pháp, cách c xử )
23
- Tổng hợp đánh giá chất lợng của buổi tập huấn: Nội dung tập huấn,
phơng pháp tập huấn, những thay đổi của cả giảng viên và học viên.
- Tổng hợp việc theo dõi trên thực địa: Tập huấn viên cho theo dõi thực
hành của học viên trên thực địa để một mặt vừa hỗ trợ học viên, mặt khác phát
hiện những ý tởng đầu tiên mà tập huấn có tác động. Học viên có khả năng
hay không có khả năng?
- Có thể đánh giá thêm tác động của đào tạo, tập huấn đến năng suất
cây trồng, vật nuôi. Vì mục tiêu chính của công tác chuyển giao tiến bộ khoa
học - kỹ thuật không chỉ làm thay đổi kiến thức, nhận thức, hành vi, thái độ,
cách c xử của ngời nông dân mà còn tác động đến năng suất nh thế nào
hay không liên quan gì cả?
2.1.4.5. Các công cụ sử dụng trong đánh giá tập huấn
Các công cụ sử dụng trong đánh giá tập huấn rất nhiều và đa dạng.
Tùy thuộc từng loại hình tập huấn, loại hình đánh giá và đối tợng tập huấn
Theo nhóm X
(Nguồn: Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Mạnh Thắng, 2007) [6]
24
Ngoài ra trong tập huấn còn sử dụng một số phơng pháp đánh giá rất
nhanh, đơn giản nhng có hiệu quả. Ví dụ: Tập huấn viên sử dụng một tờ giấy
A
0
dán lên bảng rồi dùng bút chia thành các phần, ghi các nội dung cần đánh
giá nh: nội dung giảng dạy, phơng pháp giảng, tài liệu phát, công tác hậu
cần rồi yêu cầu các học viên dùng bút dạ lên đánh giá và cho điểm theo các
tiêu chí đánh giá. Sau đó tập huấn viên tổng kết lại và từ đó có những điều
chỉnh
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nớc và ngoài nớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nớc
Việc đánh giá tác động sau mỗi một khóa học tới các học viên là hết
sức cần thiết, thông qua đánh giá các nhà tổ chức, quản lý biết đợc hiệu quả
của một chơng trình, một khóa học tới các học viên tham gia. Trên cơ sở đó
để có những thay đổi sao cho hợp lý. Từ lâu trên thế giới đã có rất nhiều nhà
tổ chức, nhà nghiên cứu đánh giá tác động của các lớp đào tạo, tập huấn
khuyến nông về một lĩnh vực nhất định. Sau các lớp tập huấn cho đối tợng
tham gia mà cụ thể là cán bộ khuyến nông và nông dân, họ đã tiếp nhận đợc
những gì? Kết quả áp dụng vào thực tế sản xuất? Và ảnh hởng đến năng suất
cây trồng, vật nuôi? Từ đó có kế hoạch hành động cụ thể cho các hoạt động
tập huấn tiếp theo. ở đây đề tài xin liệt kê một số nghiên cứu của các tác giả
trên thế giới về đánh giá tác động của các lớp tập huấn cho ngời nông dân
khi áp dụng vào sản xuất.
Một báo cáo đánh giá tác động của lớp tập huấn kỹ thuật IPM đến
cách quản lý dịch hại của ngời nông dân trên cây lúa vào năm 1993 theo