Uyện gìĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
*****
Báo cáo tốt nghiệp
ĐỀ TÀI :
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH
134 -135 TRONG CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO Ở
PHƯỜNG PHÁO ĐÀI THỊ XÃ HÀ TIÊN
1
PHẦN DẪN NHẬP
I/ BỐI CẢNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống, kề
vai sát cánh với nhau trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Các dân tộc
thiểu số nước ta cư trú xen kẽ trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt
quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh
thái. Đồng bào các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết lâu đời trong đấu
tranh chống giặc ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên, khắc phục thiên tai và xây
dựng đất nước. Mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự đa
dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.
Cùng với sự nghiệp đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời
sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh
tế xã hội không đồng đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư. Vì vậy, một bộ
phận dân cư do các nguyên nhân khác nhau chưa bắt nhịp với sự thay đổi, gặp
những khó khăn trong đời sống sản xuất, và trở thành người nghèo. Xác định rõ
tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội, và khẳng định nghèo đói
ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường, Đảng và
Nhà nước ta coi giảm nghèo là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Ngoài ra, nhằm nắm bắt những yếu tố khách quan và chủ quan của việc
thay đổi phong tục tập quán của các dân tộc tại Phường Pháo Đài – Thị xã Hà
3
Tiên, qua đó nêu rõ chứng kiến của bản thân về những thay đổi trong từng thời
đại.
Đúc kết cho bản thân những kiến thức bổ ích về các tập tục, lễ giáo,
truyền thống … của các dân tộc, đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer. Qua đó, ta
đưa ra được các nghiên cứu cụ thể như sau:
+ Nghiên cứu lý thuyết: bao gồm các hệ thống lý thuyết, khái niệm nhằm làm
sáng tỏ chương trình 134 – 135 trong công tác giảm nghèo ở Phường Pháo Đài - Thị
xã Hà Tiên.
IV/ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1- Cơ sở lý luận:
a) Khách thể nghiên cứu:
Khi nói đến văn hoá truyền thống của người Kiên Giang, người ta thường
nói đến những nét bản sắc rất riêng người dân tộc miền xuôi, dân tộc Khmer, vì
tại vùng đất thiên này các lễ hội cũng như kiến trúc của nguời Kh’mer được thể
hiện rất rõ nét. Đồng thời lối sống sinh hoạt người Kh’mer tại Kiên Giang còn
được xem là nơi bảo tồn nét văn hoá riêng của tộc người chân chất, thật thà và
đầy lòng thương yêu.Trong đó, cộng đồng dân tộc Kinh và dân tộc Hoa ở địa
bàn này cũng hoà nhập vào lối sống, văn hoá, phong tục người Khmer. Chính vì
thế đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là người nghèo Khmer ở Phường
Pháo Đài – Thị xã Hà Tiên
b) Nội dung nghiên cứu:
Những vấn đề làm ăn sinh sống của người dân, chuyện mưu sinh lập
nghiệp của thanh niên, những chính sách hỗ trợ của nhà nước, ngoài ra chú ý
những phong tục tập quán của người dân tộc Khmer có ảnh hưởng ra sao khi
sống chung một cộng đồng.
4
Hà Tiên là tên gọi đã có từ xa xưa, qua từng thời kỳ, địa giới thay đổi từ
vùng thành trấn, chuyển sang tỉnh, đổi thành quận, huyện và bây giờ là thị xã.
Giữa thế k ỷ 17 , khi Mạc C ử u đến đây khai phá thì vùng đất này vẫn còn hoang
sơ, vắng vẻ. Cuối thế kỷ trên, thì Hà Tiên đã trở thành một thương cảng sầm uất.
Năm 1714, khi Mạc Cửu dâng đất lên cho
chúa Nguyễn, chúa Nguyễn dùng hai chữ Hà
Tiên để đặt tên cho cả vùng đất bao gồm toàn
bộ tỉnh Kiên Giang và một số vùng lân cận
ngày nay.
Khi Gia Long lên ngôi, Hà Tiên được đặt
thành trấn của Nam Kỳ, trong trấn có huyện
Hà Tiên. Năm 1825, để không trùng tên với
trấn, vua Minh Mạng đổi huyện Hà Tiên thành
huyện Hà Châu. Năm 1832, vua Minh Mạng lại đổi trấn Hà Tiên thành tỉnh Hà
Tiên. - Phường Pháo Đài Thị xã Hà Tiên thuộc vùng biển, đồi núi đồng bằng
nằm trên trục đường 80 của Thị xã Hà Tiên, Tỉnh Kiêng Giang. Trước ngày 1
tháng 9 năm 1998 Phường Pháo Đài Thuộc 2 Ấp của Xã Mỹ Đức và 1 Ấp Pháo
Đài B (Ấp Việt Nam và Ấp Bà Lý) của Thị trấn Hà Tiên. Sau ngày 1 tháng 9
năm 1998 từ 3 ấp thành lập Phường Pháo Đìa. Hiện nay Phường có 3 khu phố.
Khu phố 1 (Pháo Đài B), Khu phố 2 (Ấp Việt Nam), Khu phốp 3 (Ấp BÀ Lý).
Về ranh giới hành chánh : Hướng Đông giáp phường Bình San, hương
Tấy Bắc giáp Xã Mỹ Đức, hướng Nam giáp với biển Hà Tiên nay còn gọi là
Khu du lịch Biển Nũi Nai.
6
2. Vị trí địa lý:
Thị xã Hà Tiên là một dải đất hẹp nằm ven biển, với đầy đủ các dạng địa
hình: vũng, vịnh, đồng bằng, núi, sông, hang động, hải đảo tạo nên nhiều cảnh
quan đẹp.
Sông Giang Thành bắt nguồn từ Campuchia, chảy vào khu vực Hà Tiên,
dài khoảng 23 km. Sông đổ vào vũng Đông Hồ với chiều rộng cửa sông trên 200
lớn, trung bình 2.118 mm/năm. Vì khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nên
nhiệt độ ổn định quanh năm độ ẳm cao và nguồn sáng dồi dào, rất thuận lợi cho
việc phát triển, nông nghiệp; lâm nghiệp công nghiệp và nuôi trồng đánh bắt và
chế biến thủy hải sản.
3. Tài nguyên thiên nhiên:
Đất: Diện tích tự nhiên của thị xã là 8.851,51 ha, trong đó đất nông nghiệp
4386 ha (chiếm 49,55%), nhưng mức
độ phèn mặn cao, nếu ứng dụng khoa
học kỹ thuật tốt để nuôi trồng thủy
sản để đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Ngoài ra còn quỹ đất chưa sử dụng là
2.561,89 ha.
Nước: Hà Tiên nói chung vá
Phường Pháo Đài nói riêng nhận nước ngọt cung cấp từ sông Hậu qua kênh
Vĩnh Tế, sông Giang Thành, kênh Rạch Giá - Hà Tiên.
Biển: Phường Pháo Đài nằm trong diện tích bờ biển, vũng Đông Hồ chia
thị xã làm hai khu riêng biệt: phía Đông Nam là phường Tô Châu và Thuận
Yên; phía Tây Bắc là phường Đông Hồ, phường Bình San, phường Pháo Đài và
xã Mỹ Đức. Xã đảo Tiên Hải (quần đảo Hải Tặc) gồm 15 đảo lớn nhỏ là ngư
trường đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản đầy tiềm năng.
4. Dân số và lao động:
8
Người dân trong Phường Pháo Đài chủ yếu đến từ các Tỉnh vùng nông
thân miền Tây Đồng bằng sông Cửu Long và trong đó có dân tộc thiệu số. Sau
khi giải phóng nạn diệt củng của PônPốt Cam Pu Chia (Khơmer, Hao, Kinh). Họ
di dân đến Phường Pháo Đài lệp nghiệp và sinh sống (khoảng thập niên 80, 90,
từ 1979 trở lại đây) của thế kỷ 20.
Hiện nay Phường Pháo Đài có 3 khu phố, với 1780 hộ, 6315 khẩu; Tổng
số lao động : 4240 trong đó có lao động nữ : 1721. Hộ đồng bào các tôn giáo
chiếm 67,35% , trong đó đồng bào dân tộc kinh : 581 hộ/ 1.559 khẩu. Điện tích
của địa phương. Một số mô hình có hiệu quả kinh tế cao để phát triển
nhân rộng trong cộng đồng dân cư, kết hợp với chuyển giao, ứng dụng
khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bên cạnh đó, với nguồn tích lũy từ
ngân sách đầu tư xây dựng đường giao thông nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Mức thu nhập trung
bình đủ ăn chiếm đa số 65,95%, nhà khá chiếm 18,93%, giàu chiếm
10,93%; nghèo cận nghèo chiếm 4% như vậy trong thực tế Phường có
mức sống trung bình, bình quân đầu người khoảng 4.000.000đ/tháng
* Các chính sách xã hội:
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước làm cho cuộc sống của người
dân nơi đây được cải thiện đáng kể, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống hơn
trước, mỗi người dân được vay vốn trong sản xuất kinh doanh, làm nông nghiệp,
chăn nuôi,… Trong đó không có nghèo thuộc diện chính sách, không có hộ đói
và hộ tái nghèo trên địa bàn. Việc chi trả chế độ trợ cấp luôn được thực hiện kịp
thời, đúng quy định và đối tượng. Hàng năm giới thiệu và tạo việc làm từ 130
lao động đến 350 lao động.
10
*Giao thông đường bộ:
Phường Pháo Đài có hệ thống đường giao thông xuyên suốt trong 23,5km
Đường Quốc lộ; 9,04km. Tỉnh lộ; 26,13km đường nội ô thị xã Hà Tiên và
27,5km đường giao thông nông thôn. Trong đó quan trọng nhất là tuyến Quốc lộ
80 nối thành phố Rạch Giá-Thị xã Hà Tiên và sang tận Campuchia. Đặc biệt kể
từ tháng 12/2008 có thêm tuyến tàu cao tốc đi đến Huyện Đảo Phú Quốc khoảng
22 hải lý (khoảng 40km). Vì vậy Phường có lợi thế về vận chuyển, trao đổi, giao
thông hàng hóa; Hoạt động Thương mại-dịch vụ-du lịch, đánh bắt, nuôi trồng
Thủy hải sản, nông sản….
*Điện, nước:
Điện đã tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt chỉ
còn 0,2% là những hộ ở trên cao (vùng núi, địa hình hiểm trở chưa có khả năng
lắp đặt đường dẫn điện ) để sử dụng
đều được phục vụ theo nhu cầu của người dân ( Điện thoại, Tivi, Đài, loa phóng
thanh ). Dịch vụ viễn thông cung cấp mạng như: Vinaphone, Mobifone, Viettel,
Sfone,
* Các loại thương mại – dịch vụ khác:
Quán xá, cửa hàng, tạp hóa nơi đây rất ít, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ
cao không thấy có ví dụ Internet, điện thoại công cộng, các đại lý thuốc tây hay
các lĩnh vực nông lâm nghiệp không thấy kinh doanh, xuất hiện. Phải chăng
người dân sử dụng ít hay không cần thiết sử dụng đến.
* Văn hoá – Phong tục tập quán:
Tuy là vùng đất trẻ nhưng Hà Tiên có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt
là văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer. Người Khmer có chữ viết
riêng, các lễ hội truyền thống như Chol chnam thmay (mừng năm mới), Dolta
(lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), Lễ hội nghinh ông (lễ cúng biển),
12
Dâng bông, Dâng phước và các phong tục tập quán có giá trị văn hoá khác. (lễ
hội nghinh ông diễn ra vào ngày 10 đến 12 tháng 5 hằng năm).
Người Khmer còn xây dựng trên địa bàn Hà Tiên nhiều chùa có kiến trúc
độc đáo và hoà quyện thiên nhiên, tiêu biểu là chùa Xà Xía – Phù Dung – Tam
Bảo, vượt xa số lượng của người Kinh, người Hoa và của các dân tộc khác hiện
có trên địa bàn Hà Tiên cộng lại.
Ngoài ra có chùa Hang, ở khu đất 10 ha với những cây cổ thụ xum xuê
rộn tiếng chim gọi bầy; chùa Nôdol còn gọi là chùa Cò vì trên khuôn viên chùa
rộng 3 ha đã hơn 100 năm nay trở thành nơi cư trú của hàng ngàn con cò và
nhiều loại con chim quý khác; chùa Samrônge, tương truyền được xây dựng lần
đầu vào năm 642 và xây dựng lại năm 1850 với nhiều biểu tượng bằng đá quý
và những tấm bia cổ khắc chữ Khmer.
Trang phục nam giới: thường nhật nam giới trung niên và người già thường
mặc bộ bà ba đen, quấn khăn rằn trên đầu. Trong dịp lễ, tết họ mặc áo bà ba trắng,
quần đen (hoặc áo đen, quàng khăn quàng trắng chéo ngang hông vắt lên vai trái.
Trong đám cưới chú rể thường mặt bộ "xà rông" (hôl) và áo ngắn bỏ ngoài màu
vùng xa, vùng khó khăn, cơ sở hạ
tầng thấp kém, trình độ học vấn thấp,
kinh tế văn hóa chậm phát triển nên điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục,
các loại hình giải trí còn nhiều hạn chế. Phường Pháo Đài số hộ nghèo chỉ còn
48/1.780 hộ chiếm tỷ lệ 2,69 trên tổng số hộ. Căn cứ vào chỉ số và thực tế đời số
nhân dân thì Phường vẫn còn bị xếp vào loại Phường nghèo của thị xã Hà Tiên
Tỉnh Kiên Giang.
Thiếu tư liệu sản xuất: Phần lớn hộ Khmer nghèo nằm trong tình trạng
thiếu đất hoặc không có đất sản xuất, chủ yếu đi làm thuê mướn, cuộc sống
không ổn định.
14
Hạ tầng kinh tế - xã hội, trình độ dân trí thấp: Người Khmer thường có
học vấn thấp thậm chí có người chưa thạo tiếng việt do họ sống chủ yếu lo toan
cho việc kiếm ăn là chính. Vì thế việc học hành của chính họ và con cái họ điều
không quan tâm đến. Ngoài ra do bất đồng ngôn ngữ nên khả năng tiếp thu và áp
dụng kỹ thuật mới vào sản xuất gặp nhiều trở ngại, dẫn đến khó hoà nhập vào sự
phát triển chung của toàn xã hội. Theo báo cáo giáo dục hiện nay Phường Pháo
Đài vẫn còn nhiều phòng học làm bằng gỗ và lớp mái tôn.
Thiếu việc làm, thiếu vốn: Đây là nguyên nhân phổ biến ở nhiều huyện,
đối với người nghèo ngoài sản xuất trồng trọt thì họ không có vốn để phát triển
chăn nuôi. Bên cạnh đó kinh tế của họ dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp và
độc canh cây lúa, việc tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ sản xuất kết
hợp với trồng trọt chăn nuôi cũng như mở thêm các ngành nghề mới trong vùng
cũng còn gặp nhiều khó khăn nên trong sản xuất trồng trọt cũng không thâm
canh tăng vụ được dẫn đến tình trạng lao động dư thừa nhiều.
Phần lớn do hoàn cảnh khó khăn, dẫn đến bán đất, cầm cố đất, bán gia
súc, gia cầm để phục vụ cho việc cưới xin, ma chay và các phong tục, tập quán,
tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đồng bào,
làm cho kinh tế gia đình thâm hụt, khoảng cách giàu nghèo giữa các hộ, giữa các
dân tộc cũng như giữa các vùng với nhau ngày càng chênh lệch. Vì thiếu vốn, có
tế phát triển thực sự hiệu quả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân Nhiều
chương trình, dự án kinh tế còn mang nặng tính chủ quan, chạy theo phong trào,
mang tính hình thức, gây lãng phí lớn không xuất phát từ quy luật của kinh tế thị
trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Cần xác định công cuộc xoá đói, giảm nghèo là chiến lược lâu dài, có ý
nghĩa cách mạng mà chương trình 134, 135 là cốt lõi. Đây là quyết tâm chính trị
16
cao, tập trung thực hiện chương trình có mục tiêu cụ thể, có huy động các nguồn
lực trong và ngoài nước, cộng đồng xã hội. Hiện nay, nước ta cơ bản không còn
hộ đói, chỉ còn hộ nghèo trong chuẩn còn 13% số hộ, tương đương với khoảng
10 triệu dân.
Từ nay đến hết năm 2010, các cấp phải tập trung giải quyết xoá bỏ nhà
tạm cho nhân dân, hỗ trợ xây mới bằng nguồn kinh phí của cả TW, địa phương
và cộng đồng. Tập trung hỗ trợ đào tạo, giải quyết việc làm cho nông dân, lấy 10
triệu đồng bào làm đối tượng hỗ trợ chính sách, làm cho đồng bào tự lực vươn
lên trong cuộc sống.
Cùng với chương trình 135, 134 và các chính sách giảm nghèo, chính
sách hỗ trợ đồng bào dân tộc, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã thu
được những thành tựu quan trọng.
Các hoạt động vay vốn, giúp hộ nghèo làm nhà tình nghĩa thông qua các
tổ chức đoàn thể đã hình thành hệ thống cơ chế, chính sách giảm nghèo và ngân
sách nhà nước đầu tư trực tiếp, tập trung vào các nhóm giải pháp lớn như:
Hỗ trợ cho người nghèo (cho vay tín dụng, dạy nghề, xây dựng cơ sở hạ
tầng thiết yếu…); giúp họ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (về y tế, giáo dục,
nhà ở…). Qua đó, hàng triệu hộ nghèo đã được hỗ trợ về nhà ở, vay vốn tín
dụng, hàng chục triệu người nghèo được trợ giúp kiến thức sản xuất, học sinh
được miễn giảm học phí…
Tuy nhiên có những hộ rất đáng trách vì ỷ lại vào chính sách hỗ trợ người
nghèo, nhất định không chịu nhận thoát nghèo, cũng do một phần cán bộ chuyên
trách xác nhận hộ đói nghèo còn nặng về tình cảm, có sai sót vì nhiều hộ không
18
một số vùng sâu, vùng xa còn rất thấp kém. Kinh tế lâm nghiệp chuyển biến
chậm, chính sách đối với lâm nghiệp chưa thật sự bảo đảm cho đồng bào sống
và gắn bó với nghề rừng. Nhiều nơi môi trường sinh thái đang tiếp tục bị suy
thoái.
Cuộc sống của người dân có nhiều thay đổi chuyển biến trong cách sống,
sinh hoạt, nhất là làm thay đổi rất nhiều ở những người là người dân tộc thiểu
số. Những thay đổi này mỗi năm mỗi giai đoạn là khác nhau và cũng luôn theo
chiều hướng tích cực, năng động hơn; những thay đổi này làm thay đổi rất lớn
cho người nữ trong việc quyết định những công việc của gia đình, xã hội, được
công bằng trong việc tiếp cận các giá trị của cuộc sống, những trẻ em được đối
xử ngang bằng nhau, cho dù là trẻ em gái hay em trai, cơ hội học tập là ngang
nhau nếu có đủ điều kiện, những người dân tộc được nhiều ưu đãi từ các chính
sách của Đảng, nhà nước.
Qua trình bày là những gì mà người viết như chúng tôi chứng kiến và
được sự hỗ trợ của các bạn sinh viên cùng lớp trong các nhóm công cụ khác như
phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, tư liệu sẵn có cung cấp, chia sẻ. Nhưng dù sao
người dân nơi đây cũng một lần nữa cảm ơn những chính sách, đường lối, chiến
lược phát triển của Đảng, nhà nước đã giúp họ thoát khỏi một phần nào cuộc
sống nghèo nàn, khó khăn vốn bao quanh họ.
Theo tôi để giải quyết và thoát nghèo cho họ cần để khắc phục tình trạng
đói nghèo trong đồng bào các dân tộc miền núi, theo chúng tôi cần tiến hành
đồng bộ và thường xuyên các giải pháp cơ bản sau đây.
- Tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nguồn đầu tư phát triển sản xuất
- kinh doanh, tạo việc làm và thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho đồng
bào dân tộc. Thực hiện khai thác có hiệu quả quỹ đất đai, tài nguyên rừng; tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi cho đầu tư phát triển và sản xuất - kinh doanh
19
cho các thành phần kinh tế trên địa bàn và phát triển ngành nghề truyền thống có
nguồn nguyên liệu dồi dào.
- Giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán, nét văn hoá đặc trưng
của các vùng đồng bào dân tộc, đặc biệt là dân tộc Khmer.
- Tăng cường công tác khuyến nông chuyển giao kỹ thuật tại chỗ. Thực
hiện tốt phương án đầu tư ứng trước cho các hộ đồng bào, dân tộc và chính sách
trợ giá thu mua sản phẩm, tạo thị trường cạnh tranh lành mạnh, đẩy mạnh phát
triển ngành nghề truyền thống,…
- Chú trọng nhiều hơn cho công tác dạy và học, nâng cấp trạm y tế, thực
hiện công tác chăm sóc sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình, nhất là phòng chống
dịch bệnh, sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, trẻ em gái, dinh dưỡng…
- Bảo vệ tài nguyên rừng, khai thác phải có chiến lược cụ thể, sử dụng
đúng mục đích. Giao rừng cho các họ dân để quản lý và họ cũng phải cam kết
100% không có hộ phá rừng làm rẫy và khai thác trái phép.
- Phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở, trẻ em
đến tuổi đi học phải được đến trường. Có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, xã
hội và nhà trường. Nâng cao chất lượng dạy và học, quan tâm hơn nữa về chỗ
ăn, nghỉ, lương của giáo viên để họ yên tâm phục vụ lâu dài. Tiếp tục đầu tư
trang thiết bị và cơ sở vật chất cho trường.
- Xây dựng gia đình theo mô hình gia đình văn hóa, gia đình tiên tiến, hay gia
đình kiểu mẫu… Xóa bỏ dần các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, bài trừ các tệ nạn xã
hội. Khôi phục và giữ vững các lễ hội văn hóa truyền thống của từng dân tộc.
21
- Đầu tư hệ thống giao thông đường xá, điện, thủy lợi trong sản xuất và
trong sử dụng.
- Chuyển biến cây trồng, vật nuôi gắn liền với việc áp dụng khoa học kỷ
thuật tiến bộ vào sản xuất.
22