1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP VĂN LANG
KHOA CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
LỚP K10M
Đề bài: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘÏNG MÔI TRƯỜNG
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GVHD: Vương Quang Việt
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Hương
Bùi Minh Kha
Bùi Thò Diệu Linh
Võ Thanh Long
Phạm Ngọc Thông
Nguyễn Thò Vinh Tháng 12/ 2006 2 TRÌNH BÀY ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU ĐTM
Phần 1: GIỚI THIỆU
3 Phần 2: XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU CHI TIẾT
1.Tên đề tài nghiên cứu
ĐTM “CHẤT THẢI RẮN Y TẾ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
2. Cơ quan quản lý
Ban quản lý chất thải y tế
3. Cơ quan chủ trì
Lớp K10M – Khoa Công Nghệ Và Quản Lý Môi Trường – Trường ĐHDL Văn Lang
4.Các cơ quan phối hợp
- Viện vệ sinh dòch tễ
- Cục bảo vệ môi trường
toàn. Đốt rác vẫn được thực hiện rộng rãi nhưng hiện đã có các biện pháp thay thế, như là hấp
tự động, xử lý hóa chất vi sinh. Chôn chất thải có thể cũng là giải pháp tốt nếu thực hiện an
toàn. Tuy nhiên, cần phòng ngừa bệnh tật phát sinh do các chất thải đó. Hơn nữa, các nguy cơ
liên quan đến xử lý chất thải y tế có thể là đáng kể, ở hầu hết các phòng nuôi cấy, chất thải y tế
là vấn đề nhạy cảm và liên quan đến vấn đề đạo đức.
Trong nước
Các lò đốt rác y tế ở Việt Nam, nếu sử dụng hết công suất thiết kế, có thể tiêu hủy hơn 90% các
loại rác nguy hại. Tuy nhiên, do vận hành không đúng kỹ thuật nên khả năng thực tế chỉ đạt hơn
một nửa con số này. Và khả năng đó cũng không được tận dụng hết vì phần lớn bệnh viện dù
mua được lò (giá khoảng 3 tỷ đồng/thiết bò ) chúng thường được thu gom cùng với các loại rác
thông thường hoặc xử lý không đúng quy trình, góp phần đầu độc môi trường.
Chính vì vậy nên hiện nay chỉ có khoảng 37% loại rác y tế nguy hại được đốt bằng lò hiện đại,
số còn lại được thiêu ngoài trời, đốt bằng lò thủ công hoặc chôn ở bãi rác. Ở nhiều nơi, chất
lượng lò đốt không đạt yêu cầu, việc vận hành cũng không đúng kỹ thuật và điều này làm tăng
khả năng phát thải các chất độc hại ra môi trường, như dioxin, furan
Nhiều bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn nhưng việc phân loại còn chưa
chính xác. Nhiều biện pháp được áp dụng để cô lập các vật sắc nhọn, bao gồm sử dụng các hộp
các -tông màu vàng (đúng quy chế), nhưng do thiếu kinh phí nên có bệnh viện tận dụng các chai
nhựa (chai dòch chuyền, chai nước khoáng) để thu gom kim tiêm. Có bệnh viện tuyến huyện còn
sử dụng túi nilon không chuyên dụng, không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật dành cho thu gom
chất thải.
Trong khi đó, việc áp dụng các phương pháp tiêu huỷ chất thải y tế của mỗi bệnh viện lại sử
dụng công nghệ khác nhau, chưa liên kết các bệnh viện trên cùng một đòa bàn để cùng đầu tư
một lò đốt rác, nên việc đầu tư lò đốt rác chưa cao. PGS. Nguyễn Khắc Hải, Viện YHLĐ &
VSMT cho biết: Các lò đốt chất thải y tế của bệnh viện nhiều tỉnh chưa sử dụng hết công suất,
vận hành kém.
Mục tiêu lâu dài
- Tuân thủ luật Bảo vệ môi trường.
- Cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan chức năng về bảo vệ môi trường Trung Ương và đòa
phương trong việc phê duyệt, giám sát và quản lý các bệnh viện. Đồng thời nghiên cứu giúp
cho các bệnh viện có những thông tin thích hợp để hoạch đònh chiến lược và chọn các giải
pháp tối ưu cho việc xử lý cũng như lựa chọn hệ thống thiết bò kiểm soát ô nhiễm.
Mục tiêu cụ thể
- Xác đònh, dự báo các tác động tiềm tàng tới môi trường của chất thải y tế.
- Đề xuất các biện pháp khả thi để giảm thiểu các tác động tiêu cực.
7. Các nội dung chính
7.1 Tổng hợp số liệu về các thành phần môi trường của thành phố
- Đòa hình, đòa chất, thổ nhưỡng
- Khí hậu, khí tượng
- Chế độ thủy văn như: nước mặt, nước ngầm
- Đặc điểm dân số, độ tuuổi lao động, mức thu nhập
- Hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất, sự phân bố bệnh viện trên đòa bàn khảo sát.
- Y tế cộng đồng, giáo dục.
- Phương hướng phát triển kinh tế, xã hội. 6 7.2 Khảo sát, phân tích về môi trường của thành phố
- Khảo sát, phân tích, đánh giá chất lượng môi trường đất.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá chất lượng môi trường nước.
- Khảo sát thực tế, lấy ý kiến của người dân, thu thập số liệu từ các cơ quan quản lý ở từng
khu vực trong thành phố.
- Khảo sát, phân tích thành phần môi trường.
- Đánh giá tác động tổng hợp bằng các phương pháp đã học như: lập bảng, ma trận, sơ đồ
lưới, chồng bản đồ
9. Sản phẩm của đề tài
Báo cáo Đánh giá tác động môi trường rác thải Y tế ở thành phố Hồ Chí Minh. 7 10. Nội dung của báo cáo ĐTM
Nội dung và hình thức của báo cáo được xây dựng theo đúng hướng dẫn của bộ TN&MT.
Báo cáo gồm 4 chương được trình bày như sau:
CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vò trí đòa lý
1.1.2 Điều kiện khí hậu, đòa chất thủy văn.
1.2 Tình hình kinh tế – xã hội
1.2.1 Tình hình kinh tế của thành phố trong những năm qua
1.2.2 Các ngành nghề trọng yếu
1.2.3 Tình hình dân số
1.2.4 Một số đặc điểm của ngành giáo dục
11. Dự toán kinh phí theo nội dung nghiên cứu
- Tổng dự toán kinh phí là 69.200.000 đồng
- Nguồn kinh phí: Ban quản lý chất thải y tế
- Nội dung chi phí trong bảng kèm theo
BẢNG DỰ TOÁN KINH PHÍ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Kinh phí dự
kiến ( đồng)
1
Thu thập thông tin
1.1 Từ Internet (6 người x 3 giờ x 30ngày x 2.000 đồng)
1.2 Từ sách báo 1.080.000
200.000
2
Chi phí đi lại (đi khảo sát thực tế, xin số liệu, đi lấy mẫu…)
20.000đ x 28ngày/ tháng x 3 tháng 3.000.000
3.000.000
5.000.000
5
Xây dựng báo cáo
1. phân tích, tổng hợp số liệu
2. In ấn, photo tài liệu ( 6 cuốn x 50.000)
3. văn phòng phẩm ( viết, giấy …) 1.000.000
300.000
200.000
6
Chi phí bồi dưỡng: 10.000đ x 6 người x 84 ngày
5.040.000
7
Lương cán bộ: 6 người x 1.500.000Đ/ tháng x 3 tháng
27.000.000
Tháng thứ
nhất
Tháng thứ hai
Tháng thứ ba
Tháng thứ
tư
Thu thập số liệu
Khảo sát thực tế tại
khu vực thành phố
Nghiên cứu, đánh
giá tác động của rác
thải tới môi trường
Xây dựng báo cáo
tổng hợp và chi tiết
Phần 3: SƠ BỘ TRÌNH BÀY CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vò trí đòa lý:
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730 km đường bộ, nằm trong tọa độ đòa lý
khoảng 10
0
10’ - 10
0
38’ vó bắc và 106
0
22’ – 106
0
54’ kinh độ đông, có tổng diện tích là
2.095.239 km
2
gồm có 24 quận huyện :
- Quận: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12,
Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Thủ Đức, Tân Bình, Bình Tân, Tân Phú.
- Huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
Tuyến giáp:
- Phía Bắc giáp với: tỉnh Bình Dương
- Phía Tây Bắc giáp với: tỉnh Tây Ninh.
Bảng 1.1: Các đặc trưng nhiệt độ
Đặc trưng
Nhiệt độ (
0
C)
Ghi chú
Nhiệt độ trung bình năm
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
Nhiệt độ tối cao nhất
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối
27,0
29,0
40,0
21
13,8 Tháng 04
Tháng 04/1912
Tháng 01
Tháng 01/1937
Nguồn: Trạm Khí Tượng Thủy văn Thành Phố, 1996.
c. Mưa
Lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các vùng trong Thành phố:
177
603
d. Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí rất cao vào các tháng mùa mưa, có khi lên đến mức bão hòa 100%, vào các
tháng mùa khô, đô ấm giảm. Độ ẩm tương đối được trình bày trong bảng 1.3
12
Bảng 1.3 Độ ẩm tương đối trong các tháng tại thành phố Hồ chí Minh
Tháng
Độ ẩm tương đối ( %)
Lớn nhất
Trung bình
Nhỏ nhất
1
99
77
23
2
99
74
22
3
98
74
100
84
33
12
100
81
29
Nguồn: Trạm đo Tân Sơn Nhất, 1996.
e. Điều kiện đòa chất – thủy văn
Các sông rạch trong Thành phố chằng chòt và chòu ảnh hưởng mạnh của chế độ bán nhật triều,
các thới kì trong năm có thể phân chia theo chiều như sau:
- Thời kỳ triều cường: tháng 09, 10, 11, 12,
- Thời kỳ triều kém: tháng 04, 05, 06, 07, 08,
- Thời kỳ triều trung bình: tháng 01, 02, 03,
Hàng tháng lại có hai kỳ triều cường theo chu kỳ mặt trăng vào các ngày 1, 2, 3, 4, 14, 15, 16,
17 ( âm lòch) và hai kỳ triều kém vào giữa các ngày nói trên.
Biên độ triều khá lớn và ít biến động qua nhiều năm. Tại trạm đo Phú An, biên độ triều trung
bình từ 1,7 - 2.5 cm, cao nhất 3,95 m. Độ chênh biên độ triều ở các tần suất khác nhau nhỏ,
khoảng 20 – 30 cm.
Nước dưới đất có khá nhiều trên thành phố, thông thường xuất hiện nước dưới đất ở độ sâu 0,9 –
2,2 m môi trường so với mặt đất vào mùa khô và có thề lên đến 0,15 – 0,5 m vào mùa mưa.
Do Thành phố nằm ở vùng Đông Bắc đồng bằng châu thổ sông Cửu Long nên đặc điểm đòa chất
mang tính châu thổ. Thành phần cấu tạo phù sa gồm các chất lắng ở sông chưa cố kết hoặc cố
kết phân nửa, trộn lẫn với các lớp trầm tích có nguồn gốc biển. Thành phố năm trên một vùng
xuất khấu chiếm 1/3 tổng kim ngạch cả nước. Sản phẩm suất khẩu chủ yếu: dầu khí, cơ khí, hoá
chất, phần mềm, dệt may, giày da Thành phố cũng là nơi tiếp nhận lượng kiều hối lớn nhất
nước, khoảng 60% lượng kiều hối gửi về nước hàng năm.
Thành phố có 3 khu chế xuất, 12 khu công nghiệp, khu công nghệ cao Sài Gòn, công viên phần
mềm Quang Trung
1.2.2 Các ngành nghề trọng yếu
Thành phố Hồ Chí Minh có 17 ngành kinh tế chủ lực giai đoạn 2001 – 2005
1. Cơ khí
2. Dệt may
3. Giày da
4. Nhựa cao su
5. Điện tử
6. Hóa chất
7. Chế biến thực phẩm
8. Thủy sản
9. Chế biến gỗ
10. Xây dựng
11. Phát triển thò trường bất động sản
12. Giao thông vận tải
13. Thương mại
14. Du lòch
14 15. Thò trường vốn và dòch vụ tài chính
2.996
Nữ
2.739
2.824
2.917
3.142
3.243
Thành thò ( 1000 người)
4.410
4.542
4.661
5.170
5.315
Nông thôn
875
907
969
893
925
2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (%)
1,30
1,27
1,15
1,20
1,15
3. Tỷ lệ tăng dân số cơ học ( %)
0,77
0,90
1,2
2,1
8,6
8,4
8,0 9. Số bệnh viện
38
38
38
55
56
10. Phòng khám khu vực
43
43
43
29
29
15
1.2.4 Một số đặc điểm về nền giáo dục
Từ năm 1995, thành phố đã đạt tiêu chuẩn xoá mù chữ và phổ cập tiểu học; 100% số xã có
trường tiểu học và 80% số xã có trường trung học cơ sở. Trình độ dân trí ngày càng được nâng
cao. Năm 2002, Sở GDĐT TP Hồ Chí Minh đã đón nhận cờ lưu niệm và quyết đònh công nhận
hoàn thành phổ cập giáo dục THCS do Bộ GDĐT trao tặng.
Ngành giáo dục tăng cường đầu tư xây dựng trường lớp với tổng vốn đầu tư là 1.021 tỷ đồng cho
năm học mới. Chương trình đào tạo thạc só, tiến só cũng được chú tâm và đào tạo.
Theo thống kê, số giáo viên và học sinh của phổ thông của thành phố chỉ chiếm một tỷ lệ vứa
bật nhất là điều trò vô sinh và ghép máu cuốn rốn điều trò ung thư. Các thành quả trên đã khẳng
đònh vai trò quan trọng của một trung tâm y tế bậc nhất của thành phố.
16
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ Ở THÀNH PHỐ
2.1 Hiện trạng tồn trữ – thu gom và vận chuyển CTR y tế tại các bệnh viện
Bệnh viện Nhiệt Đới
- Rác sinh hoạt : bao nylon màu xanh đựng trong thùng nhựa 20 lít màu xanh
- Rác y tế : bao nylon màu vàng, đựng trong thùng nhựa 20 lít màu xanh
(không cùng màu với bao)
- Kim và các vật sắc nhọn đựng trong hộp nhựa theo quy đònh ngành
- Nhân viên vệ sinh thu gom rác từ các khoa, phòng đến nhà chứa rác bằng xe đẩy tay
- Nhà chứa rác được xây dựng đúng quy cách
Bệnh viện Chợ Rẫy
Là một trong những bệnh viện lớn của thành phố do Bộ y tế quản lý, rác được phân loại như
sau:
- Rác sinh hoạt : bao nylon màu xanh, đựng trong thùng nhựa 20 lít màu xanh
- Rác y tế : bao nylon màu vàng, đựng trong thùng nhựa 20 lít màu vàng
- Bệnh phẩm : bao nylon màu đỏ
- Rác y tế tại các khoa : thùng nhựa cứng màu vàng 120 lít
- Tần xuất thu gom : 2 lần/ ngày (đầu giờ sáng và chiều), rác được chứa trong thùng nhựa
màu vàng sậm 240 lít có nắp đậy
- Nhân viên vệ sinh thu gom rác từ các khoa, phòng đến nhà chứa rác bằng xe đẩy tay
- Bệnh phẩm : đựng trong bòch nylon màu đỏ, được ngâm dung dòch sát trùng để xử lý sơ
bộ
- Do tính đặc thù của một bệnh viện chuyên về sản khoa nên tốc độ phát sinh rác y tế khá
cao, đặc biệt là rác bông, băng, gòn, gạc.
- Tần xuất thu gom : 2 lần/ ngày (sáng, chiều), đựng trong các thùng nhựa lớn, sau đó chứa
trong nhà chứa rác có hệ thống trữ lạnh. Công Ty Môi Trường Đô Thò thu gom mỗi ngày.
Bệnh viện Da Liễu
- Rác sinh hoạt : đựng trong bòch nylon màu xanh
- Rác y tế : đựng trong bòch nylon màu vàng
- Bệnh phẩm : đựng trong bòch nylon màu đỏ
- Xe vận chuyển rác từ các khoa, phòng đến nhà chứa rác 2 lần trong 1 ngày (6h30 và
13h00). Rác do công ty Môi Trường Đô Thò thu gom để xử lý.
Bệnh viện 115
- Rác sinh hoạt : đựng trong bòch nylon màu xanh
- Rác y tế : đựng trong bòch nylon màu vàng
- Bệnh phẩm : đựng trong bòch nylon màu đỏ
- Một tuần 2 lần, nhân viên công vụ thu gom về nhà chứa rác. Rác được đựng trong các
thùng nhựa lớn có màu tương ứng với bòch nylon chứa rác. Công ty Môi Trường Đô Thò
vận chuyển đến trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa để xử lý.
Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình
Nằm trong khu vực quận 5, chuyên ngoại khoa và chỉnh hình thuộc quyền quản lý của Sở y tế
- Rác sinh hoạt : đựng trong bòch nylon màu xanh
- Rác y tế : đựng trong bòch nylon màu vàng
- Bệnh phẩm : đựng trong bòch nylon màu đỏ
- Tần xuất thu gom : 2 lần/ ngày bằng xe đẩy tay, có lúc do công nhân trực tiếp đem về
nhà chứa rác mà không cần xe đẩy tay hay thùng nhựa
- Bệnh phẩm sau khi được xử lý sơ bộ cho vào chung với rác y tế, bột, băng cũng bỏ chung
Họat động thu gom rác y tế do đội mai táng nghóa trang thuộc công ty Môi Trường Đô Thò chòu
trách nhiệm
- Đội lấy rác 1 lần/ngày;
- Thời gian hạot động bắt đầu từ 6 giờ sáng đến khi kết thúc tuyến thu gom;
- Hiện nay phương tiện thu gom là xe hiệu ISUZU loại 2 tấn / xe và 3.5 tấn /xe. Các xe
này hoạt động theo những tuyến đường độc lập, mỗi xe cần 3 người: 1 tài xế và 2 công
nhân.
- Khi đến bệnh viện, hai công nhân có trách nhiệm lấy rác, đóng thành gói vào các thùng
carton và vận chuyển lên xe
- Khi kết thúc tuyến thu gom của mình, xe chạy thẳng đến trung tâm hỏa táng Bình Hưng
Hòa mà không qua bất kì trạm trung chuyển nào
- Khi rác được vận chuyển đến nơi xử lý, chúng không cần lưu trữ trong kho mà được đặt
cạnh lò đốt
2.3 Hiện trạng xử lý chất thải rắn y tế
Phương pháp xử lý sơ bộ ban đầu: Rác bệnh phẩm từ các bệnh viện hầu hết được xử lý sơ bộ
ban đầu bằng cách hấp, ngâm trong dòch formol đựng trong bòch nylon màu đỏ có dán nhãn trước
khi cho vào rác y tế. Ngoài ra có một số bệnh viện xử lý các loại kim tiêm, dây truyền dòch,
19 găng tay bằng cách cắt nhỏ để tránh trường hợp tái sử dụng
Phương pháp xử lý cuối cùng là phương pháp đốt, hiện nay công tác xử lý rác bệnh viện thuộc
về thẩm quyền của công ty Môi Trường Đô Thò. Với tổng khối lượng rác được đốt rác hàng ngày
khoảng 6300,5 tấn/ ngày nên công ty Môi Trường Đô Thò đã sử dụng lò đốt rác y tế của Bỉ hiệu
HOVAL GG 42 nhằm phục vụ cho việc đốt rác an toàn về mặt vệ sinh, đồng thời đáp ứng được
3
, H
2
S và một số hơi kim loại độc như chì, cadmi, antimoan TP Hồ
Chí Minh có số lượng lớn xe máy, xe ôtô, mật độ giao thông cao, các phương tiện giao thông là
một nguồn gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng.
3.1.2 Tiêu chuẩn chất lượng không khí
- Tiêu chuẩn không khí xung quanh ( TCVN 5937 – 1995)
- Tiêu chuẩn nồng độ tối đa cho phép 1 số chất độc hại trong không khí xung quanh
(TCVN 5938 – 1995)
- Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ (TCVN 5939 – 1995)
- Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với chất hữu cơ (TCVN 5940 – 1995)
3.1.3 Tiếp cận và cách xác đònh tác động
a. Đònh dạng, đònh lượng của các chất ô nhiễm và tác động
20 Nguồn gây ô nhiễm không khí từ chất thải rắn y tế bao gồm:
- Việc thu gom và vận chuyển rác thải y tế
- Từ các lò đốt
- Từ những việc xử lý sơ bộ
b. Mô tả hiện trạng chất lượng không khí hiện tại
Hiện tại môi trường không khí xung quanh các bệnh viện các lò đốt chưa gây ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng cuộc sống của người dân nhưng lâu dài sẽ ảnh hưởng
3.2 Tác động đến sức khỏe con người:
21 Việc tiếp xúc với chất thải rắn y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương. Đó là do trong chất
thải rắn y tế có chứa dựng các yếu tố truyền nhiễm, chất độc hại, các loại hóa chất và dược
phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vất sắc nhọïn
3.2.1 Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ: bao gồm những người làm việc trong các
cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải rắn y tế
và những người trong cộng đồng cũng có thể nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong
khâu quản lý chất thải. Nhóm nguy cơ cao gồm có:
- Bác só, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính trong bệnh viện;
- Bệnh nhân điều trò nội trú hoặc ngoại trú;
- Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân;
- Những công nhân làm việc trong các dòch vụ hỗ trợ;
- Những người làm việc trong các cơ sở sử lý chất thải;
- Những người bới rác, thu gom rác \
3.2.2 nh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng:
nh hưởng của loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các trường hợp tai nạn riêng lẻ hoặc nhiễm trùng thứ phát do chất thải y tế gây ra đều được
chứng minh bởi nững tài liệu đáng tin cậy. Tỷ lệ các tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn
trong chất thải y tế và dòch vụ vệ sinh môi trường cả trong và ngoài các bệnh viện gây ra đã
được cơ quan đăng ký các độc chất và bệnh tật Hoa Kỳ (ATSDR) đánh giá. Nhiều tổn thương
rây ra do kim tiêm trước khi vức bỏ vào các thùng chứa, do những thùng chứa đó không kín hoặc
được làm bằng những vật liệu dễ bò rách, thủng.
nh hưởng của chất thải phóng xạ:
Nhiều tai nạn đã được ghi nhân do việc thanh toán và xử lý các nguyên liệu trong trò liệu hạt
nhân cùng với số lượng lớn những người bò tổn thương do tiếp xúc với mối nguy cơ. Brazil, đã
phân tích và có đầy đủ tài liệu để chứng minh một trường hợp ản hưởng của ung thư lên cộng
đồng có liên quan tới việc ró ró chất thải phóng xạ trong bệnh viện. Một nhan viên chuyên về trò
liệu bằng phóng xạ trong khi chuyển đòa điểm đã làm thất thoát tại đòa điểm cũ một nguồn xạ trò
đã được niêm phong, một người dân chuyển đến đòa điểm này đã nhặt được nó và mang về nhà.
Hậu quả là đã có 294 người tiếp xúc với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số đó hoặc đã
chết hoặc gặp hàng loạt các vấn đề về sức khỏe. Các tai nạn tương tự cũng đã từng xảy ra ở
thành phố Mexico năm 1962, ở Algeria năm 1978, o83 Maroc năm 1983 và Ciudad Juarez
(Mexico) năm 1983. Có những báo cáo các vụ tai nạn có liên quan đến việc tiếp xúc với chấtù
thải phóng xạ ion hoá trong các cơ sở điều trò do hậu quả từ các thiết bò Xquang hoạt động
không an toàn, do viêc vậân chuyển các dung dòch xạ trò không bảo đảm hoặc thiết các biện pháp
giám sát trong xạ trò liệu.
nh hưởng của chất thải vaccin:
Tháng 06/2000, tại Vladivostok (Nga), 6 trẻ em được chẩn đoán bò bệnh đậu mùa dạng nhẹ sau
khi chơi nghòch các ống thủy tinh có chúa vaccin đậu mùa đã hết hạn trong đóng phế thải.
CHƯƠNG IV: CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG 4.1 Một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động
- Xây dựng hệ thống toàn diện, gắn với trách nhiệm, cng cấp nguồn lực, vận hành và tiêu
hủy. Đây là tiến trình dài hạn, duy trì bằng cách cài thiện dần dần.
0
C. Trong điều kiện yếm khí quá trình đốt diễn ra mạnh liệt. Các loại
rác hữu cơ bay hơi và khí độc sản sinh ra trong quá trình cháy sẽ được đẩy qua buồng đốt thứ
cấp. Tại buồng này, nhiệt độ được nâng lên từ 900 – 1100
0
C để đốt cháy hoàn toàn các sản
phẩm hữu cơ. Khí thải độc hại từ lò đốt như: CO, NO
x
sẽ được xúc tác oxy hoá khử thành hơi
nước và nitơ phân tử. Sau đó, khí thải sẽ được đưa qua bộ phận trao đổi nhiệt để giảm nhiệt độ.
Trước khi được hút bằng quạt và xả ra ngoài qua ống khói, khí thải sẽ được phản ứng với dung
dòch kiềm để loại bỏ các chất axit độc hại.
Các kết quả kiểm tra về khí thải đạt tieu chuẩn môi trường cho phép. Lượng tro sau khi đốt rác y
tế xong có thể bò cây. Giá thành một lò đốt rác như trên khoảng 60 triệu đồng, rẻ 40% so với lò
đốt nhập ngoại.
Lò đốt rác cho các cơ sở y tế lớn:
- Lò đốt rác y tế LRY 500
- Có công suất 30kg/giờ trở lên.
- Giá thành chỉ bằng 1/3 so với nhập ngoại.
- Trung bình 1 giờ máy có thể đốt 30kg rác, tiêu hao 0.3kg dầu
diesel. Lò đốt hoạt động ổn đònh, lượng hoá chất để pha dung
dòch hấp thụ trung binh mất khoảng 15 lít/100kg.
4.3 Một số hạn chế Tại Trung tâm Cai nghiện Cần
Giờ (TP.HCM), lò đốt rác y tế
- Ở thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới bệnh viện khá dày đặc, số lượng người khám
chữa bệnh cũng tăng lên đáng kể nên lượng rác y tế được phân loại, thu gom và xử lý
tăng đáng kể.
- Hầu hết các cơ sở y tế chấp hành quy đònh về quản lý chất thải y tế của Bộ Y Tế ban
hành năm 1994.
- Có nhiều cải tiến về trang thiết bò kỹ thuật trong việc thu gom, tồn trữ, vận chuyển và xử
lý xhất thải rắn y tế.
- Tuy nhiên chưa có cơ sở y tế nào có hệ thống quản lý chất thải rắn y tế một cách hoàn
chỉnh, do nhiều yếu tố: cơ sở hạ tầng của bện viện, diện tích xây dựng, kinh phí đầu
tư, hoặc do các nhân viên y tếchưa chấp hành nghiêm chỉnh quy đònh về loại rác y tế
trong việc thải bỏ.
- Vò trí nhà chứa rác chưa đúng quy đònh, chưa có lối đi riêng cho cho thu gom rác.
- Có một thực tế là lò đốt có nhiệm vụ xử lý chất thải chc cả một cụm bệnh viện nhưng do
nhiều lý do, lò đốt đó chỉ xử lý chất thải tại bện viện đặt lò.
5.2 Kiến nghò
- Cần có cơ chế thanh kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ về công tác quản lý chất thải rắn y
tế tại các cơ sở y tế.
- Đầu tư sản xuấ các vật dụng chứa đựng rác y tế thống nhất theo đúng quy đònh.
- Xây dựng nhà chứa rác đúng quy đònh.
- Đầu tư xây dựng trạm xử lý rác y tế đúng quy đònh.
- Đầu tư xây dựng các bệnh viện mới, hoặc nâng cấp, cải tạo các bệnh viện để có nơi chứa
rác tại các khoa phòng.
- Có lối đi riêng cho xe thu gom và vận chuyển.
- Chuyên môn hóa đội ngũ làm công tác vệ sinh.
25