Đánh giá tác động của các loài thuỷ sinh vật nhập nội đến đa dạng sinh học và nguồn lợi thuỷ sản - Pdf 13



BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ
NGUỒN LỢI THỦY SẢN

BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC LOÀI THỦY SINH VẬT NHẬP NỘI
DẾN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN Cơ quan chủ trì đề tài:

Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn
lợi thủy sản
Chủ nhiệm đề t
ài: :
KS.Lê Thiết Bình
Ch
ủ nhiệm đề t
ài:

KS. Lê Thiết Bình
Danh sách tác gi
ả thực hiện đề t
ài:

GS. TS. Mai Đ
ình Yên

Th.s. Phạm Thị Phương Mai
TS. Nguyễn Thùy Dương
Ths. Nguyễn Việt Cường
Ths. Ngô Thị Mai Thu
Ths. Nguyễn Minh Anh
CN. Lê Hữu Tuấn Anh
Hà Nội - 2010

1

có ý kiến khác nhau đến đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản
- Đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp cho từng nhóm đối tượng thủy
sinh nhập nội.
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện các nội dung:
- Kiểm kê, bổ sung cập nhật các loài thủy sinh vật nhập nội đang sống ở
các vực nước ở Việt Nam và tình hình phân bố của chúng.
- Sắp xếp các loài thủy sinh vật ngoại lai theo các nhóm Trắng-Xám-
Đen; soạn thảo atlat các loài thủy sinh vật ngoại lai.
- Khảo nghiệm 6 loài nhập nội điển hình lên đa dạng sinh học và nguồn
lợi thủy sản.
- Tổng hợp thông tin, dẫn liệu để đánh giá tổng quan các loài thủy sinh
vật nhập nội tác động lên đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản.
- Đề xuất biện pháp quản lý các loài thủy sinh vật ngoại lai nhập vào
Việt Nam, dạng văn bản đề xuất là bản Quy chế hướng dẫn quản lý.
3

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các loài thủy sinh vật nhập nội được xác định trong đề tài này là các loài
thủy sinh vật ngoại lai, loài phụ ngoại lai, chủng ngoại lai được di nhập có
mục đích, có chủ định trong khoảng thời gian 20 - 30 năm gần đây. Nhóm
thực hiện đề tài đã áp dụng 5 phương pháp nghiên cứu thông dụng để hoàn
thành đề tài:
2.1. Phương pháp kế thừa
2.1. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: điều tra phỏng vấn cán bộ
khoa học kỹ thuật và người dân ở địa phương có các loài sinh vật lạ sinh sống

Nam trong đó cá có 37 loài, động vật không xương sống 7 loài, 1 loài lưỡng
cư, 2 loài bò sát và 1 loài thú. Có 7 loài hiện nay không còn gặp.
- Các loài thủy sinh vật nhập nội vào Việt Nam đều có mục đích rõ ràng:
chủ yếu để trở thành đối tượng nuôi. Một số ít là cá cảnh, có 1 loài cá nhập
nội với mục đích trừ bệnh sốt rét.
- So sánh với đề tài về thuỷ sinh vật nhập nội được thực hiện năm 2004 -
2005 của cùng tác giả nhận thấy các loài thuỷ sinh vật nhập nội ngày càng có
xu hướng phân bố rộng hơn tại các vùng trong cả nước.
3.1.2. Hiện trạng các loài thuỷ sinh vật nhập nội mới xuất hiện ở thuỷ
vực Việt Nam.
Theo số liệu thống kê, đề tài đã xác định được 07 loài thủy sinh vật
ngoại lai mới xâm nhập vào Việt Nam:
3.2. Đánh giá các loài thủy sinh vật nhập nội theo tiêu chí xếp loại
Trắng, Xám, Đen
3.2.1. Đánh giá các loài thủy sinh vật nhập nội theo tiêu chí Trắng, Xám,
Đen
Trên cơ sở kế thừa kết quả của đề tài nghiên cứu giai đoạn 2004-2005
kết hợp điều tra khảo sát bổ sung và theo các tiêu chí đánh giá Trắng, Xám,
Đen mỗi loài thủy sinh vật ngoại lai đã được đánh giá ở các nhóm khác nhau.
Qua đó, chúng tôi đã đánh giá được có 10 loài thuộc nhóm Trắng, 24 loài
thuộc nhóm Xám và 14 loài thuộc nhóm Đen.
3.2.2. Bước đầu đánh giá các loài thủy sinh vật nhập nội mới nhập theo
tiêu chí cho điểm và xếp loại Trắng, Xám, Đen
Theo các tiêu chí và các bước cho điểm để đánh giá các loài thủy sinh
vật ngoại lai đã trình bày ở chương 2, nhóm tác giả thực hiện đề tài đã bước
5

đầu tiến hành đánh giá 07 loài được xác định là mới nhập nội trong giai đoạn
2007-2009. Kết quả cho thấy có 1 loài được xếp vào nhóm Trắng, 5 loài xếp
vào nhóm Xám, và 1 loài xếp vào nhóm Đen.

6

chế cường độ đánh bắt, lập kế hoạch giữ số lượng nhất định, quy định hợp lý
thời gian và dụng cụ đánh bắt.
3.3.5. Cá mahseer (Tor putitora) tại Việt Nam
Cần có đánh giá sâu hơn để đưa ra các giải pháp sử dụng đối tượng này
hợp lý hơn như: phát triển thành đối tượng cá phục vụ kinh doanh câu cá giải
trí, thể thao. Nghiên cứu sâu hơn về các bệnh của cá, để có những đánh giá
chính xác về sự lây nhiễm bệnh sang các đối tượng khác khi nuôi ghép với
các loài khác. Cần nghiên cứu về sinh sản của cá để duy trì và phát triển quần
đàn, nhân rộng số lượng và diện tích nuôi tại Việt Nam
3.3.6. Cá trôi trường giang (Prochilodus lineatus) tại Việt Nam
Trong 2 năm vừa qua, thị trường cá giống cá trôi trường giang tương đối
tốt, cá trôi trường giang có xu hương phát triển thành đối tượng nuôi mới
trong thành phần đàn cá nuôi trong ao hồ tại miền bắc Việt Nam.
3.4. Đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp cho từng nhóm đối tượng
thủy sinh vật nhập nội
3.4.1. Hiện trạng quản lý các loài thủy sinh vật ngoại lai ở Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành thông tư số
53/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 quy định quản lý các loài
thuỷ sinh vật ngoại lai tại Việt Nam. Thông tư được ban hành được coi là căn
cứ cụ thể nhất để quản lý các đối tượng thủy sinh vật ngoại lai tại Việt Nam.
3.4.2. Đề xuất giải pháp quản lý các loài thủy sinh vật ngoại lai ở Việt
Nam:
Vấn đề quản lý sinh vật nhập nội ở Việt Nam còn nhiều nhược điểm, dẫn
tới khó kiểm soát sự phát tán cũng như ảnh hưởng của chúng đến da dạng
sinh học và phát triển kinh tế, làm suy thoái nguồn gien và cạnh tranh với loài
bản địa. Để khắc phục tình trạng trên thì việc đề ra các hoạt động quản lý là
cấp bách và cần thiết, cụ thể là:
a. Hoạt động cảnh báo: Nội dung hoạt động chủ yếu là:

+ Đối với loài ngoại lai xâm hại đã phát tán ra 2 tỉnh trở lên, Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố lệnh tiêu diệt chúng trên địa
bàn chúng đã phát tán, đề nghị các tỉnh lân cận có biện pháp bảo vệ không
cho chúng phát tán sang thuỷ vực trên địa bàn tỉnh.
8

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Số lượng các loài thủy sinh vật ngoại lai đã xác định được là 48 loài
(trong đó loài cá chép Cyprinus carpio có 3 dòng, dòng Indonesia, Nhật và
Hungari) xuất hiện ở 7 vùng kinh tế nông nghiệp trên cả nước. Trong đó, có
26 loài ở vùng núi trung du Bắc bộ, 40 loài ở vùng đồng bằng Bắc bộ, 17 loài
ở vùng Bắc Trung bộ, 19 loài ở vùng Nam Trung bộ, 16 loài ở vùng Tây
Nguyên, 26 loài ở vùng Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long có 30
loài.
2. Theo phương pháp thông thường, đánh giá, sắp xếp các loài thủy sinh
vật ngoại lai theo tiêu chí Trắng, Xám, Đen có 11 loài thuộc nhóm Trắng, 24
loài thuộc nhóm Xám và 13 loài thuộc nhóm Đen. Bước đầu đánh giá nhanh
không qua khảo nghiệm 7 loài ngoại lai mới nhập nội giai đoạn 2007-2009
theo phương pháp tính điểm có 1 loài được xếp vào nhóm tốt (cá tầm siberi),
4 loài xếp vào nhóm tốt vừa, và 2 loài xếp vào nhóm xấu (cá hoàng đế).
3. Kết quả khảo nghiệm đánh giá tác động của 6 loài thủy sinh vật ngoại
lai đến đa dạng sinh học và nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam cho kết quả: 1
loài xếp vào danh mục trắng (cá trôi nam mỹ), có 2 loài xếp loại đen (cá
hoàng đế, cá masheer), và 3 loài xếp vào danh mục xám (tôm hùm nước ngọt,
cá tiểu bạc, cá chim trắng toàn thân).
4. Trên cơ sở nghiên cứu của đề tài, đề tài đã đề xuất và trình Bộ ban

BÁO CÁO CHÍNH 11
MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH 13
DANH MỤC BẢNG 14
GIẢI THÍCH CÁC TỪ VÀ CHỮ VIẾT TẮT 15
MỞ ĐẦU 16
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC LOÀI THỦY SINH VẬT NHẬP NỘI . 18
1.1. Tình hình nhập nội của các loài động vật thủy sinh 18
1.1.1. Trên thế giới 18
1.1.2. Ở Việt Nam 18
1.2. Tác động của các loài thủy sinh vật ngoại lai xâm hại 20
1.2.1. Tình hình chung 20
1.2.2 Tác động của một số loài thủy sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt Nam 22
1.3. Tình hình quản lý các loài thủy sinh vật nhập nội 25
1.3.1. Trên thế giới 25
1.3.2. Ở Việt Nam 27
1.4. Tác động của các loài thủy sinh vật nhập nội đến đa dạng sinh học và
nguồn lợi thủy sản tại Việt Nam 30
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1. Phương pháp nghiên cứu 35

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
KẾT LUẬN 97
KIẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

13
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Phân bố của các loài thủy sinh vật ngoại lai tại 7 vùng kinh tế nông
nghiệp ở Việt Nam 47
Hình 2: Cá hoàng đế (Cichla ocellaris) 59
Hình 3: Nguyên nhân ảnh hưởng đến sản lượng khai thác thủy sản ở hồ Trị An
61
Hình 4: Biến động sản lượng khai thác thủy sản ở hồ Trị An [17] 61
Hình 5: Biến động sản lượng thu mua cá của 2 vựa cá tại bến cá Phú Cường
62
Hình 6: Dự đoán tác động của cá hoàng đế đến nguồn lợi thủy sản và đa dạng
sinh học ở hồ Trị An 63
Hình 7: Mô hình đánh giá rủi ro về sự di nhập của cá hòang đế ở hồ Trị An
64
Hình 8: Dự đoán tác động của cá hoàng đế đến điều kiện kinh tế xã hội ở hồ
Trị An 65
Hình 9: Tính cạnh tranh của về thức ăn và nơi cư trú của cá hoàng đế đến loài
cá khác 66
Hình 10: Mức độ nguy cơ của cá hoàng đế tác động đến các loài cá khác 66
Hình 11: Cá chim trắng toàn thân (Piaractus brachypomus) 67
Hình 12: Khả năng và nguyên nhân thất thoát cá nuôi ra ngoài trong quá trình
nuôi 69

trên hồ chứa Thác Bà 2008- 2009 81
15
GIẢI THÍCH CÁC TỪ VÀ CHỮ VIẾT TẮT CBD Công ước Đa dạng sinh học
CMS Công ước về các loài di cư
IUCN Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
GISP Chương trình Sinh vật ngoại lai xâm hại toàn cầu
ĐDSH Đa dạng sinh học
NLTS Nguồn lợi thuỷ sản
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
ĐVTS Động vật thuỷ sinh
tượng một số loài ngoại lai đã thoát ra các thủy vực tự nhiên và đã gây ra
những tác hại không nhỏ (ốc bươu vàng, chuột hải ly,…) hoặc chưa được
đánh giá đầy đủ về mặt tác động (cá cọ bể, cá chim trắng, cá hoàng đế).
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn đã giao Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thực hiện đề tài
“Đánh giá tác động của các loài thủy sinh vật nhập nội đến đa dạng sinh
học và nguồn lợi thủy sản” .
Đề tài được thực hiện trong hai năm 2008 – 2009 với các mục tiêu:
- Xác định được các loài thủy sinh vật đã nhập nội đến nay và tình hình
phân bố của chúng ở Việt Nam.
17
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loài thủy sinh vật đã nhập nội đang
có ý kiến khác nhau đến đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản thông qua
một số đặc trưng cơ bản: Tính cạnh tranh thức ăn, nơi cư trú với các loài bản
địa, khả năng sinh sản và phát tán quần đàn; đặc tính săn bắt mồi, khả năng
lây bệnh (một số loài có trong danh mục xám của đề tài nghiên cứu đã thực
hiện năm 2004 - 2005 và một số loài đề xuất mới).
- Đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp cho từng nhóm đối tượng thủy
sinh nhập nội.
Trong thời gian thực hiện đề tài, với sự ủng hộ giúp đỡ của các cơ quan
hữu quan thuộc các Bộ, Ngành ở Trung ương cũng như ở địa phương, đặc biệt
là sự đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu liên quan của các cán bộ khoa học và
cán bộ quản lý chuyên ngành đã giúp nhóm thực hiện Đề tài hoàn thành tốt
các nội dung được giao. Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài ngắn, nguồn
ngân sách hạn chế và tài liệu chưa đầy đủ nên không tránh khỏi một số thiếu
sót, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ các Ban, Ngành liên quan
để Đề tài được hoàn thiện hơn.
18
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC LOÀI THỦY SINH VẬT
NHẬP NỘI

và nhờ đó được mang đến môi trường sống mới. Nhiều loài được du nhập một
cách có chủ ý cho các mục đích kinh tế, giải trí, khoa học nhưng do không
19
được kiểm tra và kiểm soát tốt đã bùng phát và gây ra nhiều tác hại nặng nề.
Chúng ta vẫn chưa quên được trường hợp ốc bươu vàng (Pomacea sp.). Được
nhập khẩu vào nước ta khoảng 10 năm trước đây, loài ốc này đã nhanh chóng
lan tràn từ Đồng bằng Sông Cửu Long ra các tỉnh miền Trung và miền Bắc,
phá hại nghiêm trọng lúa và hoa màu của các địa phương này. Hàng năm, nhà
nước phải bỏ ra hàng trăm triệu đồng cho công tác tiêu diệt ốc bươu vàng
nhưng vẫn chưa đem lại hiệu quả mong muốn [27]. Việc nhập khẩu các loài
thủy sinh vật thường sử dụng vào các mục đích như:
a. Sản xuất thực phẩm
Nhiều quốc gia có tiềm năng về nuôi trồng thủy sản đã di nhập các giống
loài thủy sản để phục vụ nhu cầu thực phẩm của người dân và phục vụ sự phát
triển kinh tế của đất nước. Đã có rất nhiều loài trở thành loài được người dân
nuôi như loài bản địa và được được phát tán ngoài thủy vực tự nhiên, và việc
di nhập các đối tượng thủy sản cũng góp phần không nhỏ vào việc cải thiện
đời sống cho người dân.
Ví dụ nhập cá rô phi từ Châu Phi vào các nước Đông Nam Á, Nam và
Trung Mỹ. Cá chép nhập vào nuôi ở Madagasca, cá mè trắng trung quốc, cá
trắm cỏ được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam
Những loài cá nêu trên đến nay đã trở thành các loài cá sống tự nhiên ở
đây vì chúng thích nghi nhanh với điều kiện nơi ở mới, sinh sản được ở thuỷ
vực tự nhiên.
b. Vui chơi giải trí và làm cảnh
Ngày càng nhiều các loài cá cảnh nói riêng và các loài thủy sinh nói
chung được nuôi thuần hóa và lai tạo với nhiều kiểu dáng và màu sắc hấp dẫn.
Tuy nhiên, chủ sở hữu các loài thủy sinh vật ngoại lai chưa nhận thức được sự
nghiêm trọng của việc làm thất thoát loài ngoại lai ra môi trường tự nhiên.
Điều này đã trở thành mối đe dọa có thể phá vỡ hệ sinh thái các thủy vực bản

là sự thay đổi và xáo trộn giữa cấu trúc quần xã trên phạm vi toàn cầu biến
đổi tập tính của loài và các yếu tố vật lý, hóa học trong các hệ sinh thái. Theo
thống kê, tổn thất môi trường hàng năm gây ra bởi việc du nhập các loài dịch
hại ở Mỹ, Anh, Úc, Nam Phi, Ấn Độ và Braxin là trên 100 tỷ USD (CBD,
2006).
Trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học, các loài sinh vật
ngoại lai xâm hại được coi là một trong những mối đe doạ nguy hiểm nhất.
Tác động mà các loài sinh vật xâm hại gây ra đối với môi trường sống rất đa
dạng nhưng có thể gộp chung thành 5 nhóm: (i) cạnh tranh với các loài bản
địa về thức ăn, nơi sống.v.v.; (ii) ăn thịt các loài bản địa khác, (iii) phá huỷ
21
hoặc làm suy thoái môi trường sống; (iv) truyền bệnh và kí sinh trùng; và (v)
tạp giao làm mất nguồn gen.
Thực tế cho thấy nhiều loài ngoại lai xâm hại không biểu hiện tác hại của
chúng ngay sau khi xâm nhập vào môi trường sống mới mà thường trải qua
một giai đoạn “ủ bệnh”. Giai đoạn này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng loài
cũng như vào đặc điểm môi trường mà chúng xâm nhập vào. Mặc dù đã có
nhiều nghiên cứu nhưng nguyên nhân của hiện tượng này vẫn chưa được sáng
tỏ. Tuy nhiên, người ta cũng thấy rằng các hệ sinh thái đã bị biến đổi thường
dễ bị tác động hơn các hệ sinh thái còn nguyên vẹn. Đây là một khó khăn lớn
cho công tác kiểm soát và phòng ngừa tác hại của loại sinh vật này.
Các tác động mà loại sinh vật này gây ra rất phức tạp. Ví dụ như trường
hợp của cá vược sông Nile (Lates niloticus). Sau khi được du nhập vào hồ
Victoria (Châu Phi) năm 1954 nhằm phục hồi sản lượng cá đang suy giảm
trong hồ do đánh bắt quá mức, loài cá này đã gây ra sự tuyệt chủng cho hơn
200 loài cá bản địa khác trong hồ do cạnh tranh và ăn thịt các loài cá đó. Chưa
hết, vì thịt của cá vược sông Nile có nhiều mỡ hơn các loại cá bản địa, cư dân
ở hồ đã phải chặt nhiều củi hơn để sấy cá dẫn đến hiện tượng phá rừng
nghiêm trọng. Việc này gây ra sự xói mòn và rửa trôi đất trong vùng lưu vực
làm tăng hàm lượng chất dinh dưỡng trong hồ tạo điều kiện cho sự phát triển

Ốc bươu vàng là một loài thuộc nhóm ốc lớn có nguồn gốc từ Nam Mỹ,
cũng được nhiều nghiên cứu xác định là một trong những loài gây hại mạnh
nhất ở Việt Nam. Ốc bươu vàng được nhập vào Việt Nam từ trước năm 1975
ở miền Nam với vài cặp nuôi trong bể xi măng. Năm 1989, được nhập bằng
nhiều cách khác nhau như một nguồn thực phẩm cung cấp cho người và động
vật nuôi. Ốc bươu vàng đã xâm nhập vào đồng ruộng ở Việt Nam và với điều
kiện sinh thái phù hợp, chúng đã phát triển nhanh chóng, trở thành dịch hại
trên nhiều loại cây trồng, đặc biệt là lúa và rau muống (Cục BVTV, 1998).
Hiện nay, ốc bươu vàng đã có mặt ở hầu hết mọi miền đất nước.
Ốc bươu vàng là loài động vật ăn khỏe, mau lớn và có sức sinh sản rất
nhanh. Chúng sống ở nơi có nước như ao, đầm lầy, đầm sen, kênh mương
nước, ruộng lúa. Ốc bươu vàng nhờ hệ thống hô hấp đặc biệt: vừa thở được
bằng mang dưới nước, vừa thở được bằng phổi trong không khí, nên chúng
chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt như bị ô nhiễm, tù đọng thiếu ôxy. Ốc
bươu vàng di chuyển rất dễ dàng và nhanh chóng qua con đường nước (sông,
kênh mương, nước ngập tràn). Đến năm 1998, 57/64 tỉnh thành và 309/534
huyện trong cả nước đã bị nhiễm ốc bươu vàng; 109 nghìn ha lúa; 3,5 nghìn
ha rau muống; 15 km2 mặt nước ao hồ, 4 km
2
sông rạch đã bị nhiễm ốc bươu
vàng. Ốc bươu vàng được xác định là loài sinh vật ngoại lai xâm hại và tháng
5/1998 được Chính phủ ta xác định như là dịch hại cây trồng nguy hiểm (đối
tượng kiểm dịch nhóm II).
23
Có thể nói ốc bươu vàng là một trong những dịch hại khó phòng trừ nhất
và vẫn đang đe dọa sản xuất nông nghiệp ở nhiều vùng trồng lúa nước. Nhiều
biện pháp phòng trừ ốc bươu vàng đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng như:
nhặt và phá hủy ốc và trứng ốc bằng tay, sử dụng vịt và cá để diệt ốc con và
trứng ốc, sử dụng các cây chứa chất độc trừ ốc bươu vàng, làm bẫy lá dẫn dụ,
đào bẫy trên kênh dẫn nước vào ruộng, làm phên chắn ốc và trứng đầu mương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status