1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, từ năm cuối năm 2006 đến nay, Việt Nam chúng ta
đang dần gỡ bỏ những rào cản thương mại cho phù hợp với điều kiện gia nhập WTO,
cơ chế điều hành tỷ giá cũng phải phù hợp với thực trạng của nền kinh tế hội nhập và
phải đảm bảo được các mục tiêu vĩ mô của Chính phủ. Cơ chế và những chính sách
điều hành tỷ giá là một nhân tố quan trọng tác động trực tiếp lên cán cân thương mại
của Việt Nam. Chúng ta phải công nhận rằng cơ chế và chính sách tỷ giá của Việt Nam
trong thời gian về sau càng linh hoạt và theo sát với tình hình kinh tế trong và ngoài
nước và đã đạt được nhiều thành công rất đáng khích lệ, đặc biệt là những tác động tích
cực của tỷ giá lên cán cân thương mại.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó
khăn trong cạnh tranh thương mại cũng như luôn phải đối diện với “căn bệnh” nhập
siêu. Đã có rất nhiều tranh luận đề cập về nguyên nhân của căn bệnh này. Trong đó, có
đề cập đến nguyên nhân là do chính sách tỷ giá chưa thật sự hợp lý?!. Để hiểu rõ cụ thể
tác động tỷ giá hối đoái có mối tương quan như thế nào với cán cân thương mại thì
chúng ta cần phải phân tích thật rõ về nó. Và đó cũng là lý do Tôi lựa chọn đề tài này.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phân tích mối quan hệ chính giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương
mại của Việt Nam.
Phản ánh cơ chế, chính sách điều hành tỷ giá Việt Nam trong quá khứ và hiện tại, và
nêu lên một số gợi ý những chính sách liên quan nhằm cải thiện cán cân thương mại.
Ngoài ra đề tài còn nêu lên một số ý kiến của chuyên gia, những quan điểm khác nhau
về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế hiện nay 2
THƯƠNG MẠI:
1.1. Các quan điểm chủ đạo trong mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại:
1.1.1. Các loại tỷ giá được ứng dụng trong phân tích tác động của tỷ giá lên cán
cân thương mại:
1.1.1.1. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (Nominal Exchange Rate)
Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng (niêm yết) hàng ngày trong giao dịch
trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua
đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa
chúng.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương là giá cả của một đồng tiền so với
một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước.
Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER–Nominal Efective Exchange rate):
NEER không phải là tỷ giá, nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại
ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các
đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng.
Tỷ trọng của tỷ giá song phương có thể lấy tỷ trọng thương mại của nước có đồng nội
tệ đem tính NEER so các nước có đồng tiền trong rổ được chọn.
1.1.1.2. Tỷ giá hối đoái thực (Real Exchange Rate)
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa hai đồng tiền được điều
chỉnh bởi chỉ số giá cả giữa hai nước. Tỷ giá thực phản ảnh tương quan sức mua hàng
hóa và dịch vụ giữa hai quốc gia.
Tỷ giá thực song phương (RER) là tỷ giá danh nghĩa1 đã được điều chỉnh theo
mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước, nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ
so với đồng ngoại tệ. Vì thế có thể xem tỷ giá thực là thước đo sức cạnh tranh trong
mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với một quốc gia khác.
4
Tỷ giá thực đa phương hay tỷ giá thực hiệu lực (REER): Tỷ giá thực song
phương chỉ cho chúng ta biết được sự lên giá hay xuống giá của đồng nội tệ so với một
đồng ngoại tệ. Ngày nay, quan hệ thương mại là đa phương, một nước có quan hệ buôn
mại đa phương dùng để chỉ hệ thống thương mại do WTO điều chỉnh. Do không phải
toàn bộ các nước trên thế giới đều là thành viên WTO nên "đa phương" sẽ chỉ phạm vi
hẹp hơn "toàn cầu". Mặt khác, "đa phương" cũng không đồng nghĩa với những thoả
thuận của từng nhóm nước tại một khu vực nhất định trên thế giới, ví dụ như EU,
ASEAN, NAFTA, v.v Như vậy, "đa phương" là khái niệm đứng giữa "toàn cầu" và
"khu vực". Cần lưu ý rằng trong quan hệ quốc tế nói chung, "đa phương" có thể chỉ bất
kỳ mối quan hệ nào có hơn hai nước trở lên tham gia.
1.1.3. Lý thuyết về các nhân tố tác động lên cán cân thương mại:
1.1.3.1. Hiệu ứng của phá giá lên cán cân thương mại: Phá giá tiền tệ là làm giảm
giá trị đồng nội tệ so với các ngoại tệ khác. Phá giá sẽ làm tăng tỷ giá danh nghĩa kéo
theo tỷ giá thực tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân
thương mại. Khi tỷ giá tăng (phá giá), giá xuất khẩu rẻ đi khi tính bằng ngoại tệ, giá
nhập khẩu tính theo đồng nội tệ tăng được gọi là hiệu ứng giá cả. Khi tỷ giá giảm làm
giá hàng xuất khẩu rẻ hơn đã làm tăng khối lượng xuất khẩu trong khi hạn chế khối
lượng nhập khẩu. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng khối lượng. Cán cân thương mại xấu
đi hay được cải thiện tùy thuộc vào hiệu ứng giá cả và hiệu ứng số lượng cái nào trội
hơn.
Trong ngắn hạn, khi tỷ giá tăng trong lúc giá cả và tiền lương trong nước tương
đối cứng nhắc sẽ làm giá hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn, nhập khẩu trở nên đắt hơn: các
hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết với tỷ giá cũ, các doanh nghiệp trong nước chưa
huy động đủ nguồn lực để sẳn sàng tiến hành sản xuất nhiều hơn trước nhằm đáp ứng
nhu cầu xuất khẩu tăng lên, cũng như nhu cầu trong nước tăng lên. Ngoài ra, trong
ngắn hạn, cầu hàng nhập khẩu không nhanh chóng giảm còn do tâm lý người tiêu dùng.
6
Khi phá giá, giá hàng nhập khẩu tăng lên, tuy nhiên, người tiêu dùng có thể lo ngại về
chất lượng hàng nội hay trong nước chưa có hàng thay thế xứng đáng hàng nhập làm
cho cầu hàng nhập khẩu chưa thể giảm ngay.
Thâm hụt (-)
Thặng dư (+)
Nguyên nhân xuất hiện đường cong J là do trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có
tính trội hơn hiệu ứng số lượng nên làm xấu đi cán cân thương mại, ngược lại trong dài
hạn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được
cải thiện. Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương mại
trong lý thuyết hiệu ứng đường cong J:
Tuy nhiên, có nhiều đề tài nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh được sự tồn tại
của đường cong J khi tiến hành phá giá đồng nội tệ như Grassman (1973), Razin
(1981), Dr. Alireza Rahimiboroujerdi (2004). Bên cạnh đó vẫn có một số nghiên cứu
chứng minh được không có sự hiện diện của đường cong J trong nghiên cứu của họ
như: Ahmad and Yang (2004), Ng Yuen – Ling, Har Wai – Mun, Tan Geoi – Mei
(2008). Thêm một phát hiện thứ ba theo nghiên cứu của Deepak Garg and Sandeep
Ramesh (2005) chứng minh được sự tồn tại của đường cong M, lập luận trên cơ sở (khi
tỷ giá tăng, ngay tức thì lượng nhập khẩu sẽ giảm và xuất khẩu sẽ không giảm dẫn đến
sự thặng dư tức thì cán cân thương mại do nhập khẩu giảm, giai đoạn tiếp theo là hiệu
Thặng dư (+)
Thâm hụt (-)
Thời gian
8
ứng giá cả từ việc phá giá làm cho cán cân thương mại bị thâm hụt, giai đoạn kế tiếp là
ảnh hưởng của hiệu ứng khối lượng (gia tăng xuất khẩu) làm cán cân thương mại thặng
dư, đến thời điểm tiếp theo nữa là giai đoạn tự điều tiết của thị trường và hoạt động
thương mại sẽ trở lại bình thường dẫn đến xét trong dài hạn thì hiệu ứng đường cong J
Nếu người tiêu dùng trong nước có tâm lý sùng hàng ngoại, thì một sự đắt lên của hàng
nhập và sự rẻ đi của hàng trong nước có tác động đến hành vi tiêu dùng của họ, họ sẽ
tiếp tục sử dụng hàng nhập mặc dù giá có đắt hơn. Tiếp theo, mức độ gia tăng số lượng
hàng xuất khẩu phụ thuộc vào sự tin tưởng và ưa chuộng
hàng hóa xuất khẩu của người tiêu dùng nước ngoài.
1.1.3.2. Chi phí thương mại: theo nghiên cứu thực tiễn của Baldwin and
Krugman(1989), Nunn (2007), Levchenko (2007), Antoine Berthou (2008) và một số
chuyên gia khác về sự tác động của chi phí thương mại lên hoạt động xuất khẩu đồng
thời gián tiếp tác động lên cán cân thương mại của quốc gia với một độ trễ nhất định.
Nghiên cứu nói rằng độ co giãn của xuất khẩu theo tỷ giá sẽ giảm khi:
10
(i) chất lượng kém về thể chế (cơ chế quản lý) của các quốc gia đến làm phát sinh chi
phí chìm (quan liêu, tham nhũng, chính sách không ổn định, quyền lợi dân chủ, pháp
luật và trật tự, chính sách đầu tư, hàng rào thuế quan). Sự không ổn định càng cao sẽ
làm tăng những khoảng chi phí chìm rất lớn
(ii) khoảng cách xa hơn về mặt địa lý
(iii) hiệu quả của hải quan là thấp ở cả các nước nhập khẩu và xuất khẩu(chủ yếu là thủ
tục khai báo hải quan)
1.1.3.3. Cơ chế điều hành tỷ giá và chính sách bảo hộ của Chính phủ: Trong các
cuộc nghiên cứu thực nghiệm gần đây của các chuyên gia trên thế giới thì hầu hết đã
tìm ra được tầm quan trọng cũng như vay trò của tỷ giá đối với hàng hóa xuất nhẩu nói
riêng và cán cân thương mại nói chung. Các nhà hoạch định kinh tế ngoài việc dùng
công cụ tỷ giá để cân đối các mục tiêu quốc gia còn có thể dùng nó để làm công cụ hỗ
trợ cho hoạt động xuất khẩu của hàng hóa trong nước nhằm gia tăng thặng dư cán cân
thương mại. Việc tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu trong nước đã được rất
nhiều nước trên thế giới áp dụng như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc,… và đang trở
thành xu hướng (cũng có thể là lạm dụng) toàn cầu trong giai đoạn hiện nay và các
chuyên gia trên thế giới cảnh báo rằng có thể nó sẽ gây ra một hình thức chiến tranh
mới trong lịch sử đó là “chiến tranh tỷ giá”. Viễn cảnh này sẽ dẫn đến nhiều hậu quả
ηm =
dE/E
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác
động tích cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co giãn theo
giá cả của xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1, (ηx +
ηm>1). Điều kiện này đặt theo tên của hai học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là
Alfred Marshall và Abba Lerner.
12
Một số nghiên cứu thực nghiệm về độ co giãn như Yue and Hua (2002),
Bénassy – Quéré and Lahrèche – Révil (2003), Lau et al (2004), Marquez and
Schindler (2006), Shu and Yip (2006) cho thấy rằng trong dài hạn (từ hai đến ba năm)
tổng hệ số co giãn xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1, tức phá giá có tác động đến xuất
nhập khẩu. Theo khảo sát thực nghiệm của Goldstein và Kahn (1985) thì tổng hệ số co
giãn trong dài hạn (dài hơn hai năm) luôn lớn hơn 1, trong khi trong ngắn hạn (dưới 6
tháng) nó có xu hướng tiến gần đến 1. Nhìn chung, đa số các nhà nghiên cứu đều cho
rằng hệ số co giãn xuất khẩu và hệ số co giãn nhập khẩu trong ngắn hạn nhỏ hơn trong
dài hạn. Vì vậy, điều kiện Marshall-Lerner chỉ có thể được duy trì trong dài hạn. Có
quan điểm cho rằng các nước đang phát triển thường phụ thuộc nhiều vào hàng nhập
khẩu nên độ co giãn giá của cầu hàng nhập khẩu là nhỏ (tức trị giá nhập khẩu sẽ không
giảm bao nhiêu khi phá giá nội tệ). Các nước phát triển có thị trường xuất khẩu tương
đối có tính cạnh tranh nên độ co giãn cầu hàng xuất khẩu có thể lớn hơn (tức giá trị
xuất khẩu tăng mạnh khi phá giá nội tệ). Điều này hàm ý rằng phá giá ở các nước phát
triển sẽ có tác động cải thiện cán cân thương mại mạnh hơn so với các nước đang phát
triển hay nói cách khác, việc phá giá là một giải pháp có thể cải thiện thâm hụt thương
mại ở quốc gia này nhưng có thể sẽ không có tác động ở quốc gia khác. Nó cũng
khuyến cáo các quốc gia đang phát triển nên thận trọng khi sử dụng biện pháp phá giá
mạnh đồng nội tệ của mình nhằm kích thích xuất khẩu.
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về tỷ giá và cán cân thương mại trên thế giới:
Đã có rất nhiều tranh luận lý thuyết lẫn nghiên cứu thực tiễn về mối quan hệ
1.3. Cảnh báo nguy cơ về một khả năng chiến tranh tỷ giá toàn cầu trả đũa
thương mại:
Gần đây chúng ta đã thấy rằng có rất nhiều tranh cãi trên thế giới phê phán về
chính sách định giá thấp đồng nội tệ của một số quốc gia trên thế giới để tạo lợi thế
cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, điểm nhấn là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,
14
Brasil,… các quốc gia bị ảnh hưởng chắc chắn sẽ không chịu ngồi yên để chịu phần
thiệt thòi về mình và chắc chắn họ sẽ có những biện pháp phản ứng lại là điều tất yếu,
có thể họ phá giá đồng bản tệ nếu điều kiện vĩ mô cho phép hoặc sẽ xây dựng nên các
bức tường phòng thủ như trừng phạt thương mại, rào cản thuế quan, chính sách hỗ trợ
hàng xuất khẩu trong nước, hoặc tạo ra các áp lực về ngoại giao để bắt buộc các nước
định giá thấp đồng bản tệ phải định giá lại. Nếu các nước trên thế giới cứ mạnh ai nấy
làm theo cách riêng của mình mà không có một thỏa thuận chung thì nguy cơ về một
cuộc chiến tranh tỷ giá hoàn toàn có thể xảy ra trên thế giới.
Kết luận chương 1:
Trong phần trình bày của chương đã nêu lên những quan điểm về lý thuyết cũng
như những nghiên cứu thực nghiệm của nhiều tác giả trên thế giới mối quan hệ giữa tỷ
giá và cán cân thương mại.
Các kết quả thực nghiệm đã nêu lên được rằng sự tác động của tỷ giá lên cán
cân thương mại là rất khác nhau cho mỗi quốc gia, thậm chí đối với một quốc gia nếu
chọn khung thời gian kiểm chứng khác nhau cũng có những kết quả khác nhau vì tỷ giá
và cán cân thương mại còn phải chịu sự chi phối của những nhân tố khác như: GDP,
FDI, Thuế bảo hộ, cơ chế điều hành, chi phí thương mại, chi phí nhân công, tập quán
thương mại quốc tế, độ co giãn của xuất khẩu nhập khẩu đối với tỷ giá của từng quốc
gia, nợ quốc gia,…
Trong chương tiếp theo chúng ta sẽ phân tích mối quan hệ tác động giữa tỷ giá
lên cán cân thương mại như thế nào ở Việt Nam?
15
Đồng EURO (EUR) tiếp theo sẽ tham gia rổ tiền vì nó là một trong những đồng
tiền mạnh nhất thế giới, khu vực sử dụng đồng EURO có giao thương rất lớn với Việt
Nam, chúng ta sẽ chọn hai quốc gia Châu Âu làm đại diện là Đức và Pháp
Đồng Yen Nhật (JPY) cũng là một lựa chọn hợp lý, do đây là đồng tiền có nền
kinh tế đứng thứ 2 trên thế giới, đồng thời cũng là đối tác thương mại lớn của Việt
Nam
Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc (CND) không thể thiếu trong “rổ tiền” , vì
đây là Quốc gia đông dân nhất thế giới, được dự đoán là sẽ thay thế vị trí thứ 2 của
Nhật Bản trong thời gian tới, đồng thời Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh trực tiếp, trao
đổi thương mại song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam luôn có tỷ trọng rất lớn và
Việt Nam luôn chịu cảnh nhập siêu với Trung Quốc.
Các đồng tiền của các nước ASEAN như Thái Lan (THB), Singapore(SGD)
được chọn vì đây là những đối thủ cạnh tranh của Việt Nam trong giao thương quốc tế.
Đồng tiền của hai quốc gia Đài Loan (TWD), Hàn Quốc (KRW) đại diện cho
các quốc gia phát triển Châu Á được lựa chọn do kim ngạch xuất nhập khẩu với Việt
Nam tương đối lớn
Đồng Đôla Úc (AUD) được đưa vào rổ tiền do AUD là đồng tiền có thể chuyển
đổi được và cũng là một trong những đồng tiền mạnh, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa
Việt Nam và Úc trong những năm gần đây đã tăng lên rất cao
Thu thập dữ liệu:
- Tỷ giá danh nghĩa: tỷ giá giữa Việt Nam đồng và các đồng tiền trong rổ tiền
vào cuối kỳ. Hai nước Châu Âu (Đức, Pháp) sẽ chọn tỷ giá đồng Việt Nam
so với đồng EURO.
- Chỉ số lạm phát: lấy chỉ số giá tiêu dùng(CPI) của kỳ này so với kỳ trước
17
- Kim ngạch xuất nhập khẩu: lấy theo từng thời kỳ (cuối quý) giá trị xuất nhập
khẩu của Việt Nam với các đối tác thương mại. Giá trị xuất nhập khẩu được
quy đổi thành đơn vị là triệu USD thống nhất cho các đối tác giao dịch với
Việt Nam
chỉnh chỉ số CPI, tính theo công thức sau:
E
t
e
t
0
= x 100
E
0
Với: e
t
0
: là chỉ số tỷ giá danh nghĩa điều chỉnh thời điểm t
E
t
: là tỷ giá danh nghĩa thời điểm t
E
0
: là tỷ giá danh nghĩa kỳ gốc (Quý 1 năm 2000)
18
- Tính tỷ giá thực song phương của Việt Nam đồng với từng đồng tiền trong
“rổ tiền”, theo công thức sau:
CPI
ft
0
e
t
0r
= e
.w
j
.
J=1 CPI
i
Bảng 2.1: Tính tỷ giá thực đa phương từ năm 2000 – 2009 (năm gốc 2000)
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Giá trị xuất khẩu
1 Singapore 1,024.00 1,370.01 1,808.54 1,811.70 2,201.99 2,659.73 2,076.25
2 Thái Lan 335.40 518.10 863.00 930.20 1,033.90 1,348.90 1,266.00
3 Đài Loan 749.00 905.86 936.15 978.70 1,139.40 1,401.39 1,120.64
4 Hàn Quốc 492.10 608.10 663.60 842.90 1,252.70 1,784.40 2,064.00
5 Nhật Bản 2,909.00 3,502.36 4,411.19 5,240.09 6,069.80 8,537.94 6,291.81
6 Trung Quốc 1,748.00 2,735.50 2,961.01 3,242.79 3,356.70 4,535.67 4,909.03
7 Đức 855.00 1,066.19 1,086.70 1,445.29 1,855.10 2,073.42 1,885.41
8 Pháp 496.00 556.99 652.70 797.20 884.41 970.84 808.55
9 Mỹ 4,554.90 4,992.32 5,930.61 7,845.10 10,089.10 11,868.51 11,355.76
10 Úc 1,420.90 1,884.70 2,722.80 3,744.70 3,556.90 4,225.20 2,276.72
Tổng 14,584.30 18,140.13 22,036.30 26,878.67 31,440.00 39,406.00 34,054.17
Giá trị nhập khẩu
1 Singapore 2,878.00 3,618.46 4,482.92 6,273.90 7,608.60 9,422.53 4,248.36
2 Thái Lan 1,282.20 1,858.60 2,374.10 3,034.40 3,737.20 4,905.60 4,514.00
3 Đài Loan 2,916.00 3,698.01 4,303.98 4,824.90 6,916.60 8,362.64 6,252.56
4 Hàn Quốc 2,625.40 3,359.40 3,594.10 3,908.40 5,334.00 7,066.30 6,976.36
5 Nhật Bản 2,994.00 3,552.60 4,074.34 4,702.10 6,177.70 8,240.66 7,468.09
6 Trung Quốc 3,122.00 4,456.45 5,899.67 7,391.30 12,502.00 15,652.13 16,440.95
7 Đức 101.04 101.67 101.56 101.58 102.29 102.63 100.43
8 Pháp 102.11 102.13 101.74 101.68 101.49 102.81 99.84
9 Mỹ 102.30 102.70 103.40 103.20 102.80 103.84 95.82
10 Úc 103.10 102.40 102.40 103.20 102.90 104.35 101.82
11 Việt Nam 103.10 107.80 108.30 107.50 108.30 122.97 106.88
Điều chỉnh CPI về năm gốc
1 Singapore 101.10 102.82 103.33 104.37 106.56 113.48 123.63
2 Thái Lan 104.05 106.96 111.78 117.03 119.72 126.31 125.17
3 Đài Loan 99.50 101.09 103.42 104.04 105.91 109.62 109.88
4 Hàn Quốc 110.76 114.75 117.96 120.56 123.57 129.34 132.96
5 Nhật Bản 98.11 98.11 97.82 98.11 98.11 99.46 96.28
6 Trung Quốc 101.09 105.04 106.93 108.53 113.74 120.45 163.42
7 Đức 104.48 106.23 107.89 109.59 112.10 115.05 115.55
8 Pháp 105.77 108.02 109.90 111.75 113.41 116.60 116.41
9 Mỹ 106.85 109.73 113.46 117.09 120.37 124.99 119.77
10 Úc 112.46 115.15 117.92 121.69 125.22 130.67 133.05
11 Việt Nam 106.69 115.01 124.56 133.90 145.02 178.33 190.60
Tỷ giá(đồng/đơn vị ngoại tệ)
1 Singapore 9,264.62 9,721.98 9,637.32 10,550.00 11,190.63 12,279.10 13,387.93
2 Thái Lan 402.80 412.52 396.00 460.00 567.32 519.35 572.51
3 Đài Loan 474.06 493.92 484.10 511.91 500.89 539.80 554.33
20
4 Hàn Quốc 13.53 15.40 15.98 18.19 17.42 14.06 17.86
5 Nhật Bản 147.42 154.64 136.08 136.00 143.96 195.66 203.29
6 Trung Quốc 1,954.35 1,909.88 1,971.60 2,138.89 2,231.80 2,596.05 2,627.45
7 Đức 19,744.10 21,604.50 18,961.63 21,234.00 23,784.54 25,000.88 26,963.03
8 Pháp 19,744.10 21,604.50 18,961.63 21,234.00 23,784.54 25,000.88 26,963.03
5.71 6.54 6.95 7.85 8.42 6.89 7.48
11.07 10.90 9.68 8.64 8.45 7.38 6.17
11.47 12.75 11.35 11.17 10.74 7.88 11.30
18.98 17.62 14.46 12.87 11.87 14.47 12.83
15.48 17.18 17.31 17.33 19.98 20.25 31.61
6.24 5.82 4.25 4.94 5.37 4.20 4.78
4.26 4.18 2.73 2.60 3.52 2.16 2.32
19.26 15.39 13.86 14.24 13.81 11.73 12.58
7.80 8.57 8.88 11.41 8.79 6.17 5.55
REER 112.59 111.39 101.63 104.15 103.10 92.43 102.18
CPI
i
W
i
× × E
i
CPI
vn
21
Nguồn: số liệu này được trích một phần từ Bảng 1 của phụ lục, Toàn bộ số liệu
tính toán đầy đủ được trình bày ở phần phụ lục.
2.2. Các hạn chế và đánh giá kết quả tính REER:
2.2.1. Các hạn chế trong tính toán tỷ giá thực đa phương (REER):
REER là tỷ giá thực hiệu lực được điều chỉnh theo lạm phát so với các đối tác
cao, có nhiều hàng hóa ở Việt Nam thường được định giá bằng USD dù rằng
có thể giao dịch bằng tiền đồng, các hàng hóa thô và sản xuất dây chuyền
như nói ở trên thường được định danh bằng USD. Sức mạnh của đồng USD
còn quá lớn, cho nên ảnh hưởng thật sự của nó trong rổ tiền sẽ lớn hơn nhiều
so với tỷ trọng thương mại giữa Việt Nam và Mỹ.
Ngoài ra, tỷ giá ngoài việc chịu ảnh hưởng của lạm phát, nó còn phụ thuộc vào
nhiều biến số vĩ mô khác của nền kinh tế như lãi suất, thu nhập, kỳ vọng, can thiệp của
chính phủ, môi trường kinh tế toàn cầu… Các nhân tố này tác động qua lại lẫn nhau vô
cùng phức tạp góp phần tạo ra thêm sự mơ hồ của tỷ giá thựcDo đó, vấn đề tỷ giá cân
bằng là không rõ ràng.
Vì những lý do trên, tỷ giá được điều chỉnh ở một mức nào đó cũng sẽ có ít có ý
nghĩa hơn hay nói cách khác REER là một chỉ số không hoàn hảo của sự cạnh tranh.
2.2.2. Đánh giá kết quả tính REER
Bảng 2.2: Số liệu REER và tỷ trọng xuất khẩu trên nhập khẩu
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
REER 100.00 103.69 106.67 112.59 111.39 101.63 104.15 103.10 92.43 102.18
X/M 104.97 118.59 101.09 94.10 83.61 86.02 87.76 83.54 77.67 81.63
Nguồn: lấy từ bảng 1 và bảng 2 của Phụ lục
Hình 2.1: Đồ thị biểu diễn REER và tỷ trọng xuất khẩu trên nhập khẩu
23
0.00
20.00
40.00
60.00
80.00
100.00
120.00
140.00
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Q4 2000 3,900 4,088 0.95 14,421 -188
Q1 2001 3,532 3,582 0.99 14,548 -50
Q2 2001 4,000 4,280 0.93 14,643 -280
Q3 2001 4,460 2,820 1.58 14,964 1,640
Q4 2001 4,041 2,838 1.42 15,047 1,203
Q1 2002 3,680 3,770 0.98 15,130 -90
Q2 2002 4,140 4,490 0.92 15,237 -350
Q3 2002 4,510 3,200 1.41 15,321 1,310
Q4 2002 4,560 5,248 0.87 15,374 -688
Q1 2003 4,465 4,694 0.95 15,429 -229
Q2 2003 4,880 6,050 0.81 15,467 -1,170
Q3 2003 5,300 3,900 1.36 15,520 1,400
Q4 2003 4,989 6,220 0.80 15,617 -1,231
Q1 2004 5,272 5,890 0.90 15,715 -618
Q2 2004 5,900 7,330 0.80 15,733 -1,430
Q3 2004 6,660 7,780 0.86 15,750 -1,120
Q4 2004 6,750 8,400 0.80 15,763 -1,650
Q1 2005 6,814 7,994 0.85 15,797 -1,180
Q2 2005 7,700 9,600 0.80 15,844 -1,900
Q3 2005 8,350 9,350 0.89 15,875 -1,000
Q4 2005 8,570 9,600 0.89 15,905 -1,030
Q1 2006 8,400 9,150 0.92 15,917 -750
Q2 2006 9,800 11,100 0.88 15,961 -1,300
Q3 2006 10,360 11,950 0.87 16,014 -1,590
Q4 2006 10,360 12,150 0.85 16,071 -1,790
25
Q1 2007 10,100 10,900 0.93 16,020 -800
Q2 2007 11,950 14,150 0.84 16,069 -2,200
Q3 2007 12,750 15,350 0.83 16,182 -2,600
Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob.
C -65340.50 7739.438 -8.442538 0.0000