296 Dự báo những tác động cơ bản đến các doanh nghiệp thương mại khi Việt Nam gia nhập WTO - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU

1. Ý NGHĨA CHỌN ĐỀ TÀI
Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là nhiệm vụ quan trọng nhất của
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong thời gian qua thực hiện
chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hợp
tác đa phương và song phương. Nước ta đã trở thành thành viên của nhiều Tổ chức
quốc tế như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế
Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), đã ký Hiệp
định thương mại song phương với nhiều nước thuộc các Châu lục khác nhau, trong
đó đặc biệt là Hiệp định thương mại với Hoa Ký. Đây là bản Hiệp định mà thông
qua đó, Việt Nam cam kết thực hiện quan hệ thương mại trên cơ sở những chuẩn
mực pháp luật quốc tế và của WTO.
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới đang là đòi hỏi cấp bách hiện nay,
vấn đề này đã được kề cập trong văn kiện Đại hội IX của Đảng “Tiếp tục mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương, đa dạng hoá; chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương
như AFTA, BTA, tiến tới gia nhập WTO”. Tại Hội nghị lần thứ IX, Ban chấp hành
trung ương khoá IX cũng nhận định “Tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
thực hiện có hiệu quả những cam kết và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, chuẩn bị
tốt những điều kiện trong nước để sớm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
WTO”
Thực tế cho thấy việc gai nhập WTO là xu thế khách quan phù hợp với tiến
trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng trên thế giới,
phù hợp với xu thế phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam hiện nay và những năm
đầu của thế kỷ 21. Hiện nay đã có 148 nước gia nhập WTO, 20 nước đang tiến hành
đàm phán gia nhập, điều đó cho thấy WTO ngày càng có vai trò quan trọng trong sự
phát triển của kinh tế, thương mại thế giới và có sức hấp dẫn hơn đối với các nền
kinh tế của các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu.
Việt Nam gia nhập WTO là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa có thới

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài giới hạn trong phạm vi đối tượng ngiên cứu và thời gian nghiên cứu
* Về đối tương nghiên cứu
- Tổ chức thương mại thế giới WTO
- Trung Quốc
- Nhật Bản
- Việt Nam
- Các doanh nghiệp thương mại Việt Nam: là những doanh nghiệp chủ yếu
thực hiện các hoạt đọ6ng thương mại (thông qua các hoạt động mua bán trên thị
trường, doanh nghiệp thương mại vừa làm dịch vụ cho người bán, vừa làm dịch vụ
cho người mua và đáng ứng lợi ích của chính mình là có lợi nhuận)
* Về thời gian nghiên cứu
- WTO: từ thời điểm WTO kế thừa GATT trên cơ sở Hiệp định thành lập
WTO năm 1994
- Việt Nam: 2001-2004
- Các doanh nghiệp thương mại Việt Nam: từ 2000-2003
4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUNA ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ
ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời gian qua, đã có khá nhiều bài viết, tham luận ngắn (từ 3 đến 4
trang) đăng trên tạp chí hay phát biểu tạo một số hội thảo xoay quanh một số vấn đề
nâng cao năng lực các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập,…Tuy nhiên, những
bài viết này chỉ nếu lên một số khía cạnh nhất định. Năm 2005, Nhà xuất bản Lao
động- Xã hội đã phát hành quyển sách “Nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh
nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả là TS. Nguyễn
Vĩnh Thanh. Đề tài này, như tên gọi của nó là nghiên cứu và đưa ra các giải pháp
nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại, nhưng không đi sâu nghiên
cứu những tác động thuận lợi vá không thuận lợi đến các doanh nghiệp khi Việt
Nam gia nhập WTO. Ngoài ra, cũng có hai đề tài của hai nhóm sinh viên thuộc
nhóm ngành Khoa Học Xã Hội tham gia giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu Khoa
học”, đó là “Giải pháp nâng cao tính cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam trong

CHƯƠNG 1: WTO VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ NHỮNG TÁC ĐỘNG
CƠ BẢN ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
THÀNH VIÊN WTO
Ở chưng này, tác giả trình bày tổng quan về WTO như lịch sử hình thành,
nguyên tắc hoạt động và kinh nghiệm đối phó những tác động của một số nước
thành viên WTO có điều kiện tương đồng như Việt Nam, từ đó luận văn rút ra bài
học cho việt nam và những ưu đãi mà WTO dành cho các nước đang phát triển như
Việt Nam
CHƯƠNG 2: DỰ BÀO NHỮNG TÁC ĐỘNG CƠ BẢN ĐẾN CÁC
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Nội dung chương này, tác giả trình bày sự cần thiết của việc gia nhập WTO,
tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam. Ngoài ra, luận văn cũng trình bày về tình
hình hoạt động thương mại của Việt Nam và các doanh nghiệp thương mại Việt
Nam, đánh giá những mặt còn tồn tại của các doanh nghiệp thương mại và dự báo
những tác động cơ bản đến các doanh nghiệp thương mại khi Việt Nam là thành
viên chính thức của WTO
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ CÁC DOANH
NGHIỆP TỒN TẠI VÀ ĐỨNG VỮNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Từ những thành tựu và các mặt tồn tại của các doanh nghiệp thương mại cũng
như dự báo những tác động thuận lợi và không thuận lợi đến các doanh nghiệp
thương mại khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, đồng thời dựa
vào quan điểm gai nhập WTO của Việt Nam, tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải
pháp nhằm tận dụng thời cơ, hạn chế thách thức để Việt Nam nói chung và các
doanh nghiệp thương mại Việt Nam nói riêng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát
triển bền vững.
các Hiệp định về thuế quan và thương mại. Hiệp định của GATT bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 1/1/1948 và đến hết năm 1994. Từ khi ra đời đến khi chuyển sang
WTO, GATT đã thực hiện 8 vòng đàm phán thương mại lớn về mậu dịch và thuế
quan (xem phụ lục 1: Tóm tắt các vòng đàm phán của GATT). Các vòng đàm phán
càng về sau càng tăng cả về quy mô, thời gian, số nước tham gia và lĩnh vực đàm
phán nên GATT với tư cách là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang
tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp. Do đó ngày 15/4/1994 tại Marrakesh các
thành viên GATT đã ký ký Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT.
WTO là một thể chế pháp lý của hệ thống thương mại đa phương, WTO đưa ra
các nghĩa vụ có tính nguyên tắc để Chính phủ các nước thiết lập khuôn khỗ các luật
lệ và quy định thương mại trong nước phù hợp với nền thương mại thế giới.
Chỉ 10 năm sau khi thành lập đến nay WTO đã có tới 148 nước thành viên
chính thức, các thành viên WTO chiếm 85% tổng thương mại hàng hóa và 90%
thương mại dịch vụ toàn cầu.
Hiện nay WTO đang khởi động vòng đàm phán mới (Doha) nhằm tự do hóa
thương mại toàn cầu toàn diện và sâu sắc hơn. Lúc đó các nước muốn đàm phán gia
nhập WTO sẽ phải chịu những điều kiện ràng buộc cao hơn hiện nay. Vì vậy, nhiều
nước đang đẩy mạnh nhanh đàm phán để gia nhập trước khi Vòng đàm phán Doha
kết thúc.
* Sự khác biệt giữa WTO và GATT
- GATT là một loạt các quy định, Hiệp định đa biên mang tính tạm thời,
không có nền tảng về thể chế. Còn WTO với các Hiệp định của mình mang tính
thường trực lâu dài. Với tư cách là một tổ chức quốc tế, WTO có nền tảng pháp lý
vững chắc.
- Các quy định của GATT được áp dụng cho thương mại hàng hoá. Còn
WTO bao gồm thương mại hàng hoá, dịch vụ và các khía cạnh liên quan đến
thương mại như đầu tư, sở hữu trí tuệ.
- WTO có các thành viên còn GATT chỉ có các bên ký kết (vì GATT chỉ là
một Hiệp định)

quan đến việc thực hiện và Giải thích Hiệp định của WTO và các Hiệp định thương
mại đa phương và nhiều bên.
- WTO lập ra cơ chế để xem xét, kiểm soát chính sách thương mại của các
quốc gia thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và
tuân thủ các quy định của WTO.
- WTO thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế- thương mại quốc tế
khác như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới trong việc hoạch định những
chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển của kinh tế toàn cầu.

1.1.3 Những nguyên tắc hoạt động của WTO
1.1.3.1 Không phân biệt đối xử: Nguyên tắc này thể hiện qua hai quy chế
- Quy chế đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): là quy chế mỗi nước thuộc WTO
phải giành cho sản phẩm nhập khẩu từ một quốc gia thành viên khác đối xử không
kém ưu đãi hơn so với sản phẩm nhập khẩu từ một quốc gia thứ ba.
- Quy chế đối xử quốc gia (NT): Là quy chế mà mỗi nước thành viên WTO
không giành cho sản phẩm nội địa (do các doanh nghiệp trong nước sản xuất)
những ưu đãi hơn so với sản phẩm nước ngoài (sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm
do các doanh nghiệp có vốn nước ngoài sản xuất) về các lĩnh vực như ưu đãi về
thuế, các điều kiện vệ sinh, kinh doanh,…
1.1.3.2 Thương mại ngày càng thuận lợi, tự do hơn thông qua đàm phán
Với nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước phải xây dựng lộ trình các giảm thuế và
các biện pháp phi quan thuế theo thỏa thuận đã thông qua ở các vòng đàm phán
song phương và đa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá
thương mại. Trong trường hợp này, mỗi nước phải xây dựng môi trường cạnh tranh
lành mạnh, bình đẳng giữa các sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu.
1.1.3.3 Xây dựng môi trường kinh doanh dễ dự đoán
Với nguyên tắc này chính phủ của các nước thành viên thuộc WTO không thay
đổi cơ chế chính sách kinh tế, trong đó có hàng rào thương mại một cách tuỳ tiện,
gây khó khăn cho các doanh nghiệp và nhà nhập khẩu trong việc thực hiện các
chính sách kinh doanh dài hạn của mình.

nếu thành viên là các nước đang phát triển xuất hiện tình trạng mất cân đối cán cân
thanh toán quốc tế thì có thể áp dụng biện pháp hạn chế số lượng xuất, nhập khẩu.
* Hiệp định về tự vệ
Khi một loại hàng hoá nào đó nhập khẩu với số lượng lớn tạo ra những tổn hại
nghiêm trọng hoặc đe doạ nghiêm trọng đến ngành sản xuất sản phẩm tương tự
trong nước thì nước đó có thể thực thi các biện pháp tự vệ. Theo Hiệp định này,
WTO cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp tự vệ tối đa là 4
năm. Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn 1 lần đối với các nước phát triển
thời gian không quá 4 năm tiếp theo và đối với các nước đang phát triển không quá
6 năm. Như vậy tổng thời gian mà nước đang phát triển có thể áp dụng là 10 năm
* Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SDM)
Các nước kém phát triển và các nước đang phát triển có thu nhập quốc dân
dưới 1000 USD không cần phải hủy bỏ trợ cấp xuất khẩu cấm sử dụng, các nước
đang phát triển khác thì có thể huỷ bỏ dần dần loại trợ cấp này trong khoảng thời
gian 8 năm.
* Hiệp định về các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại
(TRIMs)
Hiệp định quy định, thời kỳ quá độ 2 năm đối với các nước phát triển, nhưng
đối với các nước đang phát triển là 5 năm và các nước kém phát triển là 7 năm. Sau
khi hết thời kỳ quá độ sẽ được quyết định thông qua kết quả của cuộc đàm phán
* Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu (ILP)
Theo Hiệp định này, các nước đang phát triển có thể kéo dài thời hạn 2 năm về
giấp phép tự động có liên quan trong trình tự cấp phép nhập khẩu
* Hiệp định về trị giá hải quan (CVA)
Thời kỳ quá độ mà các nước đang phát triển thực hiện Hiệp định này là 5 năm.
Hiệp định cũng yêu cầu các nước phát triển cung cấp viện trợ về kỹ thuật và bồi
dưỡng nhân viên cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển
* Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)
Các nước đang phát triển cũng có thể dựa vào tình hình kỹ thuật và kinh tế- xã
hội của mình để định ra những pháp quy, tiêu chuẩn và trình tự đánh giá đạt tiêu

Trong cơ chế Giải quyết tranh chấp thương mại của WTO, Cơ quan giải quyết
tranh chấp của WTO (DSB) đã dành một số ưu đãi cho các nước đang phát triển khi
sử dụng cơ chế này như:
- Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Tổng Giám đốc WTO làm trung
gian hoà Giải trong trường hợp có tranh chấp với các nước phát triển
- Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có một thành viên là
công dân của một nước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển có liên quan
không yêu cầu như vậy
- Thời gian để Giải quyết tranh chấp với các nước đang phát triển có thể
được kéo dài hơn so với quy định chung
- Các nước phát triển cần có Thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện pháp trả
đũa đối với bên thua kiện là nước đang phát triển
1.2 KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG CƠ BẢN CỦA
MỘT SỐ QUỐC GIA KHI GIA NHẬP WTO
Trong phần này đề tài sẽ nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước đã đạt được
thành công đáng kể trong việc có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp thương mại nói riêng đối phó với những tác động cơ bản
khi hội nhập kinh tế quốc tế cũng như gia nhập WTO. Nguyên nhân để tác giả chọn
lọc nghiên cứu kim nghiệm của Trung Quốc và Nhật Bản là vì:
- Trung Quốc định hướng theo con đường xã hội chủ nghĩa; Trung Quốc
cũng đã có thời kỳ theo nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện nay đang tích
cực trong việc chuyễn đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường đồng thời các nước phát triển, cụ thể là Mỹ vẫn chưa thừa nhận Trung Quốc
có nền kinh tế thị trường; mặt khác nước ta có hơn ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ
nên cũng đã bị ảnh hưởng ít, nhiều về phong tục tập quán, văn hóa, xã hội. Do đó,
hai nước Việt Nam và Trung Quốc tình hình đất nước tương tự giống nhau, cùng
chung một ý tưởng và mục tiêu phát triển, nên có nhiều kinh nghiệm có thể tham
khảo lẫn nhau
- Nhật Bản đã từng là nước có nền kinh tế nông nghiệp, phong kiến lạc hậu
và kép mình hàng ngàn năm. Từ giữa những năm 80, Nhật Bản đã từng bước mở

đặc khu cũng có được quyền tự chủ cao, không chịu sự trực tiếp của chính quyền
trong quá trình vận hành. Theo đó, chủ các doanh nghiệp thương mại hoàn toàn chủ
động, tự quyết định phương thức kinh doanh, quản lý nhân công, điều hành nguồn
vốn và tự chịu lãi về các hạng mục kinh doanh của mình. Đây là bước đột phá trong
việc cải cách, đổi mới cơ chế quản lý của Trung Quốc theo hướng rộng mở hơn.
Với những quy chế thông thoáng đó, việc sớm hình thành các đặc khu kinh tế đã
tạo ra nơi tập đợt cho các doanh nghiệp thương mại tăng khả năng cạnh tranh để
chuẩn bị vho việc gia nhập WTO của Trung Quốc vào năm 2002.
Những thành công mà các đặc khu kinh tế gặt hái trong quá trình giao lưu và
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế theo phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá,
có thể khẳng định rằng đặc khu kinh tế Trung Quốc là một mô hình hướng ngoại
hiệu quả, góp phần quan trọng vào mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế nhất là việc gia
nhập WTO.
* Hỗ trợ cho các doanh nghiệp thương mại mở rộng thị trường, tăng
cường xuất khẩu hàng hoá ra thị trường thế giới
- Trung Quốc khuyến khích các hình thức liên doanh liên kết với nước ngoài
để tăng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp thương mại
- Trung Quốc đặc biệt chú trọng dịch vụ xúc tiến xuất khẩu, đẩy mạnh đào
tạo, học tập kinh nghiệm quản lý, nâng cao trình độ thương mại quốc tế không
những các doanh nghiệp thương mại kinh doanh tại Trung Quốc mà còn các doanh
nghiệp thương mại Trung Quốc đang hoạt động kinh doanh tại nước ngoài
- Tạo dựng vào hoàn thiện hệ thống hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp
thương mại bằng chích sách như: cân bằng thu chi quốc tế, tỷ giá hối đoái hợp lý,
chế độ cắt giảm và hoàn thuế hợp lý, lập quỹ khai thác thị trường nước ngoài và quỹ
rủi ro, bảo hiểm và tái bảo hiểm xuất khẩu, đảm bảo tín dụng bên mua và bên bán
- Hỗ trợ cho các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và
nhỏ vượt qua các rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu như Chính phủ tăng
cường quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới để được hưởng những nhượng bộ
trong buôn bán, đồng thời nghiên cứu kỹ các hàng rào bảo hộ ngày càng tinh vi của
các nước để tư vấn và hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại tìm cách đối phó.

công nghiệp chế tạo thông qua các biện pháp hỗ trợ ngành công nghiệp trong nước
phát triển như:
+ Tăng đầu tư cho khoa học công nghệ, tạo ra nhiều sản phẩm mới, cải tạo sản
phẩm truyền thống, không ngừng điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản phẩm, tăng cường
khả năng cạnh tranh quốc tế cho các sản phẩm.
+ Chuyển đổi biện pháp bảo hộ công nghiệp. Sau khi gia nhập WTO, thuế
quan được giảm mạnh, hạn ngạch, giấy phép cũng được xoá bỏ triệt để, các biện
pháp phi thuế quan khác cũng chỉ áp dụng hạn chế trong phạm vi rất hẹp. Do đó,
Trung Quốc đã thay đổi các biện pháp bảo hộ mới, chủ yếu là áp dụng tiêu chuẩn
công nghệ và tiêu chuẩn môi trường nhằm ngăn chặn những sản phẩm gây ô nhiễm
nghiêm trọng, sản phẩm có chất lượng thấp,…thâm nhập vào thị trường trong nước
* Cải cách các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các doanh nghiệp
thương mại nhà nước nói riêng theo hướng nâng cao nội lực cho doanh nghiệp
để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường hoạt động kinh doanh ngày
càng gay gắt khi gia nhập WIO
Trung Quốc thực hiện việc cải cách cách doanh nghiệp nhà nước theo chủ
trương “nắm chắc lớn, buông lỏng nhỏ” đã thu được một số thành tựu khả quan,
năm 1998 số doanh nghiệp nhà nước đã giảm 40.000 doanh nghiệp so với trước đó
(chủ yếu do sáp nhập, phá sản hoặc giải thể), số doanh nghiệp giảm còn 238.000,
trong đó doanh nghiệp loại lớn tăng 2%, doanh nghiệp loại vừa giảm 12,6%, doanh
nghiệp loại nhỏ giảm 8,9% so với năm 1997
5
.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng đẩy mạnh cải cách động bộ tập trung chủ yếu ở
bốn lĩnh vực sau:
- Thực hiện những cải cách hành chính nhằm chuyển biến chức năng của
Chính phủ. Tách chức năng quản lí hành chính đối với tài sản Nhà nước ra khỏi
chức năng kinh doanh tài sản Nhà nước của Chính phủ, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống kinh doanh tài sản Nhà nước.
- Thúc đẩy và pháp luật hoá việc lưu động và chuyển nhượng quyền tài sản,

lượng hoặc kiểm tra phần cơ bản của sản phẩm; kiểm tra đóng gói bao bì; kiểm tra
nguyên liệu chế tạo sản phẩm,…
- Nhật Bản cho phép thành lập cơ quan phi chính phủ hoạt động xúc tiến
tương mại- xuất khẩu, bao gồm hai nhóm:
+ Nhóm 1 là liên minh các doanh nghiệp thương mại và các tổ chức kinh tế
Nhật Bản. Chúng hoạt động phi lợi nhuận dựa trên cơ sở hội phí của các thành viên.
Tổ chức này có quy mô lớn, bao gồm cả Viện nghiên cứu, các Quỹ hợp tác phát
triển, chúng còn có thể đấu tranh, gây ảnh hưởng tới Chính phủ về định hướng
chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp thương mại
+ Nhóm 2 gồm các Phòng thương mại và công nghiệp, các hiệp hội ngành.
Chúng hoạt động trên cơ sở hội phí và lệ phí dịch vụ
1.2.2.2 Đối phó những tác động không thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt
động kinh trong môi trường cạnh tranh gay gắt
Để hạn chế những tổn thất cho các doanh nghiệp thương mại hoạt động trong
môi trường cạnh tranh gay gắt khi hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập
WTO nói riêng, Nhật Bản đã khuyến khích các doanh nghiệp thương mại liên kết
lại tạo thành một tập đoàn thương mại lớn, cạnh tranh lại các đối thủ mạnh trên thị
trường thế giới cũng trên sân nhà
Tập đoàn thương mại là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay
những ngành khác nhau ở phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một
“công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo chi phối hoạt động của các “công ty con” về mặt
tài chính và chiến lược phát triển
Tập đoàn thương mại là có quy mô lớn về vốn, lao động, doanh thu, và thị
phần. Họat động chủ yếu của tập đoàn thương mại là kinh doanh xuất nhập khẩu;
phân phối bán buôn, bán lẻ trong nước; buôn bán giữa các nước ở thị trường thế
giới và hoạt động đầu tư nhằm mục đích thương mại, chẳng hạn tập đoàn thương
mại Mitsui & Co của Nhật Bản,.…
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Những kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trên đều cần thiết nghiên cứu
và tham khảo, tuy nhiên việc vận dụng kinh nghiệm nào còn tùy thuộc vào điều kiện

thương mại đa phương. WTO đưa ra các nghĩa vụ có tính nguyên tắc để Chính phủ
các nước thiết lập khuôn khỗ, các luật lệ và quy định thương mại trong nước phù
hợp với nền thương mại thế giới. WTO là nền tảng của tiến trình phát triển các quan
hệ thương mại giữa các nước thông qua các cuộc thảo luận, thương lượng đàm phán
song phương và đa phương
Thành công của vòng đàm phán Uruguay rõ ràng WTO đã có vai trò tích cực
thúc đẩy tốc độ tăng trưởng toàn cầu hoá kinh tế về thương mại, đầu tư chiếm 95%
thương mại thế giới. Ngoài ra, WTO cho phép các thành viên áp dụng hệ thống các
hiệp định, điều khoản dựa trên tình hình đặc điểm riêng của nước mình nhằm bảo
hộ sản phẩm sản xuất trong nước. Do vậy, các thành viên căn cứ vào tình hình phát
triển và năng lực cạnh tranh của mình để thực hiện từng bước tự do hóa, cung cấp
cho các ngành trong các nước thành viên cơ hội điều chỉnh cơ cấu. Điều này lý giải
vì sao các nước phát triển và đang phát triển trong WTO vẫn còn giữ mức thuế quan
và các biện pháp phi quan thuế ở một mức nhất định hoặc mở cửa thị trường hàng
hoá dịch vụ bị hạn chế. Mức độ mở cửa thị trường hàng hoá dịch vụ giữa các thành
viên WTO có sự khác biệt tương đối lớn, các nước phát triển có mức độ tự do hoá
hơn so với các nước đang phát triển.
Việt Nam gia nhập WTO tương đối trễ khi số thành viên của tổ chức này đã
lên đến 148 nước, đó là một thiệt thòi lớn của Việt Nam. Tuy nhiên đó cũng chính
là một lợi thế cho các quốc gia nhập trễ như Việt Nam khi được thừa hưởng những
kinh nghiệm đi trước để lại trong việc đối phó với những tác động khi gia nhập
WTO, đặc biệt là kinh nghiệm của những nước có điều kiện kinh tế như Việt Nam.
Chẳng hạn như Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm đối phó những tác động cơ
bản đến các doanh nghiệp thương mại khi gia nhập WTO của Trung Quốc và Nhật
Bản về các vấn đề như hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại trong việc tiếp thu kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, tăng cường mở rộng thị trường xuất khẩu, đối phó những
tác động không thuận lợi đến các doanh nghiệp thương mại khi Chính phủ cam kết
cắt giảm thuế quan và tiến dần bãi bỏ rào cản phi thuế, về cải cách các doanh nghiệp
thương mại Nhà nước của Trung Quốc và biện pháp nâng cao sức mạnh tổng hợp
cho các doanh nghiệp thương mại ở Nhật Bản.

2.1 TIẾN TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM
2.1.1 Việt Nam gia nhập WTO - sự cần thiết và đòi hỏi khách quan
Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là nhiệm vụ quan trọng nhất của
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong thời gian qua thực hiện
chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hợp
tác đa phương và song phương đã đem lại những điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh tế đất nước như mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến, giải quyết các vấn đề xã
hội
Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO nên gặp
nhiều khó khăn bất lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế, giải quyết những tranh chấp
thương mại, chưa được hưởng quyền lợi đầy đủ về kinh tế, thương mại của một
thành viên WTO. Từ vụ kiện cá tra, cá basa, vụ kiện tôm của Hoa Kỳ và các nước
EU và gần đây là tình trạng tranh chấp thương hiệu đang đặt ra nhiều vấn đề cho
các nhà sản xuất và quản lý kinh tế. Do vậy việc gia nhập WTO đang là đòi hỏi cấp
bách hiện nay, vấn đề này đã được đề cập trong văn kiện Đại hội IX của Đảng,
“Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương đa dạng hóa,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện những cam kết trong quan hệ song
phương và đa phương như AFTA, BTA tiến tới gia nhập WTO”.
2.1.2 Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam: (6 giai đoạn)
* Giai đoạn 1: Nộp đơn xin gia nhập
Tháng 1-1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập tổ chức WTO.
* Giai đoạn 2: Gởi "Bị vong lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam"
đến Ban Thư Ký của WTO.
Tháng 9/1996 Việt Nam đã nộp “ Bị vong lục về Chế độ ngoại thương của
Việt Nam” cho Ban Thư Ký giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách
kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, các thông tin chi tiết về
chính sách liên quan đến thương mại hàng hóa, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ
* Giai đoạn 3: Minh bạch hoá chính sách thương mại

Hiện nay, Việt Nam ở giai đoạn 4 của tiến trình gia nhập WTO. Chúng ta đã
kết thúc đàm phán song phương với 21/27 đối tác, trong 6 đối tác còn lạ thì Hoa Kỳ,
Australia và New Zealand vẫn còn nhiều vấn đề cần phải đàm phán. Với sự nổ lực
của Chính Phủ và các cơ quan ban ngành có liên quan, chúng ta có quyền tin rằng
Việt Nam sẽ gia nhập WTO trước khi Vòng đàm phán Doha kết thúc.
* Giai đoạn 5: Hoàn thành Nghị định thư gia nhập (chưa tiến hành)
Một Nghị định thư nêu rõ các nghĩa vụ của Việt Nam khi trở thành thành viên
của WTO sẽ được hoàn tất dựa trên các thỏa thuận đã đạt được sau các cuộc đàm
phán song phương, đa phương
* Giai đoạn 6: Phê chuẩn Nghị định thư
30 ngày sau khi Chủ tích nước hoặc Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư, Việt
Nam chính thức trở thành thành viên của WTO
2.2 TÌNH HÌNH CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRƯỚC NGƯỠNG
CỬA VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
2.2.1 Khái quát hoạt động thương mại Việt Nam trước ngưỡng của hội nhập
WTO
2.2.1.1 Tình hình xuất nhập khẩu
Dưới tác động của công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế của Việt Nam, bối
cảnh quốc tế, ngoại thương của Việt Nam trong những năm qua đạt những thành
tựu to lớn trên nhiều mặt, trở thành động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Việt Nam.
* Về xuất khẩu
- Quy mô tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ngày gia tăng (Phụ lục 2). Kim ngạch
xuất khẩu năm 2004 đạt 26,5 tỷ USD, tăng 31,4%, đây là mức tăng cao nhất kể từ
năm 1997.
- Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng năm 2004 tăng do cả 2 yếu tố là
lượng tăng và giá tăng, điều mà không phải năm nào cũng có được, bởi vì có nhiều
năm lượng tăng thì giá giảm, giá tăng thì lượng giảm. Những mặt hàng có thống kê
được về lượng (có thể công lượng được với nhau) đã tăng cả về giá và lượngnhư
than đá, gạo, cao su,…còn nhiều sản phẩm lượng giảm nhưng giá tăng khá như dầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status