Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
MỤC LỤC
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
A. LỜI MỞ ĐẦU
Môn tài chính quốc tế là môn học rất thiết thực và hữu ích. Môn học này
cung cấp kiến thức về môi trường tài chính quốc tế mà tại đó các công ty sẽ hoạt
động trong quá trình hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Môn học này trang bị cho
sinh viên kiến thức về các lý thuyết kinh điển trong tài chính quốc tế thể hiện mối
tương quan giữa các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất và tỷ giá; lựa chọn
các chính sách trong nhiều kịch bản kinh tế khác nhau. Các mô hình khủng hoảng
tài chính cũng được giới thiệu đến sinh viên thông qua các cuộc khủng hoảng xảy
ra trong vài thập niên trở lại đây.
Và kiến thức của môn học này là khá nhiều nhưng trong bài tiểu luận này tôi
sẽ đi sâu làm rõ hơn về “các yếu tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại và thực
trạng cán cân thương mại tại Việt Nam”. Nước ta là một nước đang phát triển nên
cán cân thương mại hàng hóa luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cán cân vãng lai. Nên
tôi đã chọn đề tài này để thấy được tầm quan trọng của cán cân thương mại đối với
nền kinh tế nói riêng và đời sống kinh tế - xã hội của nước ta nói chung.
Do kiến thức còn hạn chế, nên bài tiểu luận của em chắc chắn sẽ không tránh
khỏi những sai sót, mong được sự góp ý của cô để bài tiểu luận của em được hoàn
thiện hơn.
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 2
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ MÔN HỌC TÀI CHÍNH QUỐC TẾ.
1.1. Giới thiệu chung về môn học.
Môn học tài chính quốc tế cung cấp kiến thức về môi trường tài chính quốc tế
mà tại đó các công ty sẽ hoạt động trong quá trình hội nhập với nền kinh tế toàn
cầu. Môn học này trang bị cho sinh viên kiến thức về các lý thuyết kinh điển trong
tài chính quốc tế thể hiện mối tương quan giữa các biến số kinh tế vĩ mô như lạm
Chuyên đề này nói về các lý thuyết cân bằng trong tài chính quốc tế là chủ
yếu, bao gồm: lý thuyết ngang giá lãi suất – IRP và ngang giá lãi suất có phòng
ngừa- UIP, lý thuyết ngang giá sức mua – PPP. Hiệu ứng Fisher quốc tế – IFE.
Giải pháp mới cho câu đố ngang giá sức mua: thái độ quan ngại rủi ro, tính bất
định của tỷ giá hối đoái và luật một giá (A New Solution to the Purchasing Power
Parity Puzzles: Risk-Aversion, Exchange Rate Uncertainty and the Law of One
Price). Các chế độ tiền tệ và ngang giá lãi suất tồn tại yếu (Currency Regimes and
Weak Interest Rate Parity). Hàm ý của câu đố ngang giá lãi suất không phòng ngừa
(Implications for the Uncovered Interest Rate Parity Puzzle)
Chuyên đề 3: Các thị trường tài chính.
Nội dung chuyên đề này đề cập tới bốn loại thị trường tài chính: thị trường
giao ngay, thị trường giao sau, thị trường kỳ hạn và thị trường quyền chọn. Khái
niệm, đặc điểm phân biệt, ưu nhược điểm, cách giao dịch và mối quan hệ của các
thị trường.
Chuyên đề 4: Tỷ giá và tác động của chính phủ đối với tỷ giá
Chuyên đề này tìm hiểu về các chế độ tỷ giá, các nhân tố tác động đến tỷ
giá, can thiệp của chính phủ đối với tỷ giá, vai trò của sự biến động tỷ giá hối đoái
thực.
Chuyên đề 5: Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Chuyên đề này xoay quanh những nguyên lý cơ bản của lý thuyết bộ ba bất
khả thi, lý thuyết bộ ba bất khả thi trong kỷ nguyên mất cân bằng toàn cầu (sự thay
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 4
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
đổi của bộ ba bất khả thi sau mỗi cuộc khủng hoảng và những lựa chọn chính sách
của bộ ba bất khả thi).
Chuyên đề 6: Khủng hoảng tài chính.
Chuyên đề này tìm hiểu khái niệm, đặc điểm và hình thức biểu hiện các cuộc
khủng hoảng tài chính bao gồm: khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng,
khủng hoảng nợ và khủng hoảng kép.
1.3. Lựa chọn chuyên đề môn học
ngoài, dó đó ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô. Để đánh giá sức chịu đựng của
cán cân tài khoản vãng lai thường sử dụng các chỉ số như là chỉ số xuất khẩu/GDP,
chỉ số nợ/ xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu/ tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu, tỷ lệ
mức lãi xuất trả nợ trên mức tăng xuất khẩu. Thông thường các chuyên gia thường
dùng chỉ số nợ/ xuất khẩu để đánh giá tình trạng của cán cân tài khoản vãng lai.
Thứ tư: thể hiện mức tiết kiệm, đầu tư và thu nhập thực tế. Mối quan hệ giữa
cán cân thương mại với tiết kiệm và đầu tư.
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 6
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại.
Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại: xuất khẩu, nhập khẩu, tỷ
giá hối đoái và các chính sách của chính phủ.
2.3.1. Xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại
quốc gia khác vì xuất khẩu của nước này là nhập khẩu của nước kia. Do vậy nó
chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của quốc gia bạn hàng. Chính vì thế
trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
2.3.2. Nhập khẩu.
Nhập khẩu có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí còn tăng nhanh hơn.
Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên,
nghĩa là cứ có một đồng GDP tăng thêm thì người dân có xu hướng dùng 0,3 đồng
cho nhập khẩu. Ngoài ra nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản
xuất trong nước và sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối
so với nước ngoài thì nhập khẩu tăng lên và ngược lại.ví dụ: nếu giá xe đạp sản
xuất tại Việt Nam tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu
hướng tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng
tăng.
2.3.3. Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng
tới giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa trên thị trường
Xuất khẩu ròng làm tăng lượng tài sản của nền kinh tế. Ngoài ra, trạng thái
của cán cân thương mại có tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế, ví dụ nếu thặng
dư sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm mới, tăng
tích lũy quốc gia dưới dạng ngoại hối, tạo uy tín và tiền đề để đồng nội tệ tự do
chuyển đổi.
2.4.2. Tác động tiêu cực.
Cán cân thương mại thâm hụt kéo dài nhiều năm, đồng thời với việc phải cắt
bớt nhập khẩu như là một phần của những biện pháp tài chính và tiền tệ khắc khổ.
Kết quả là làm giảm tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng tình trạng
thất nghiệp.
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 8
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Tuy nhiên, tình trạng cán cân thương mại thặng dư hay thâm hụt trong ngắn
hạn chưa nói lên trạng thái thực của nền kinh tế, vấn đề là ở chỗ thâm hụt cán cân
thương mại ở mức có thể đảm bảo mức chịu đựng của cán cân tài khoản vãng lai
và nợ nước ngoài.
2.5. Thực trạng cán cân thương mại tại Việt Nam những năm gần đây.
2.5.1. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2011.
Trong hai năm liên tiếp 2000 - 2001, cán cân thương mại Việt Nam ở trạng
thái thặng dư, hoạt động xuất khẩu khởi sắc và đạt được những kết quả hết sức khả
quan. Từ năm 2002 trở lại đây, cán cân thương mại Việt Nam lại rơi vào tình trạng
thâm hụt. Nguyên nhân không phải do sự giảm sút trong xuất khẩu mà do nhập
khẩu tăng quá nhanh. Kim ngạch nhập khẩu tăng từ 17,76 tỷ USD năm 2002 lên đến
mức kỷ lục 97,4 tỷ USD vào năm 2011. Tương tự, kim ngạch xuất khẩu cũng tăng
lên nhanh chóng nhưng nhìn chung cho cả giai đoạn, kim ngạch nhập khẩu luôn
vượt trội so với kim ngạch xuất khẩu dẫn đến cán cân thương mại vẫn thường xuyên
trong trạng thái thâm hụt. (Bảng 1)
Bảng 1. Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000-2011
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Kim
sơ chế có giảm đi (năm 2011 là 38,87% kim ngạch xuất khẩu so với mức 55,78%
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 9
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
năm 2000), xuất khẩu nhóm hàng chế biến có tăng lên (năm 2011 là 59,92% kim
ngạch xuất khẩu so với mức 44,17% năm 2000) nhưng tạo ra giá trị gia tăng thấp
và tỷ trọng nhóm hàng chế biến vẫn ở mức thấp so với các nước láng giềng (Tổng
cục Thống kê, 2011).
Về thị trường xuất khẩu, Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào một nhóm nhỏ
các quốc gia gồm EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ. Năm 2000, tỷ trọng
xuất khẩu vào các thị trường này lần lượt là EU (19,64%), ASEAN (18,08%), Nhật
Bản (17,78%), Trung Quốc (10,61%), Mỹ (5,06%). Ðến năm 2011, Mỹ đã trở
thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam vào 5 thị trường lớn trên đã lên đến trên 71,03%, riêng Mỹ chiếm 17,4%
(Tổng cục Thống kê, 2011). Việc tập trung vào một số thị trường làm cho xuất khẩu
của Việt Nam rất dễ rủi ro khi có những biến động bất lợi từ các thị trường này.
Trong những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009, xuất khẩu Việt Nam đã trải
qua một thời gian lao đao khi các nước và khu vực trên thu hẹp nhập khẩu do tác
động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Bảng 2. Cơ cấu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam phân theo nhóm hàng 2000-2011
(Đơn vị: %)
Nhóm hàng 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Tư liệu sản xuất
Máy móc, thiết bị,
dụng cụ, phụ tùng
Nguyên, nhiên, vật
liệu
93,8
30,6
63,2
92,1
-
-
sHàng tiêu dùng
Lương thực
Thực phẩm
Hàng y tế
Hàng khác
6,2
0,0
1,9
2,2
2,1
7,9
3,0
2,0
3,0
7,9
0,0
2,5
1,8
3,6
7,8
0,0
2,4
1,6
3,8
6,7
0,0
2,4
1,4
-
Vàng phi tiền tệ 2,2 4,2 2,1 3,4 0,5 1,2 1,8
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
Về mặt hàng nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập tư liệu sản xuất. Tư liệu sản
xuất chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong kim ngạch nhập khẩu, lên đến 90%
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 10
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
(bảng 2). Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nhập khẩu tư liệu sản
xuất quá lớn là cơ cấu công nghiệp Việt Nam còn mất cân đối và thiếu tính bền
vững, đặc biệt là sự yếu kém của các ngành công nghiệp hỗ trợ. Thêm vào đó, phần
lớn các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là mặt hàng gia công, bởi thế khi xuất
khẩu tăng cũng đồng nghĩa với nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu cũng tăng theo.
Trong số các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam thời gian qua, đứng đầu là
mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; tiếp theo là mặt hàng xăng dầu.
Ngoài ra, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu khá lớn là: máy vi tính, sản
phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép; vải các loại, chất dẻo; nguyên phụ liệu dệt may,
da giày (Tổng cục Hải quan, 2009, 2010, 2011). Kim ngạch nhập khẩu các mặt
hàng này tăng nhanh qua các năm đã ảnh hưởng tới trạng thái cán cân thương mại
và cán cân vãng lai.
Ngoài ra, bảng 2 cho thấy nhập khẩu hàng tiêu dùng tuy chiếm tỷ trọng nhỏ
(khoảng 7% - 9%) nhưng danh mục hàng hóa lại đa dạng dẫn đến việc quản lý
nhập khẩu, hạn chế nhập siêu trở nên phức tạp hơn. Thêm vào đó, trong cơ cấu
nhập khẩu hàng tiêu dùng trước đây đã có nhập khẩu thực phẩm, vốn đã bất hợp lý
với một quốc gia có lợi thế cạnh tranh nông nghiệp như Việt Nam, giờ đây lại xuất
hiện nhiều hàng tiêu dùng xa xỉ, tuy tỷ trọng còn nhỏ trong kim ngạch nhập khẩu
nhưng cũng chiếm đến 50% tỷ trọng hàng tiêu dùng (nằm trong khoản mục hàng
khác của bảng 2) khiến cho tình trạng nhập siêu càng thêm trầm trọng.
Về thị trường nhập khẩu, châu Á (đặc biệt là các nước ASEAN và APEC)
vẫn chiếm đa số do lợi thế về khoảng cách, chất lượng và giá cả hàng hóa phù hợp.
Năm 2000, ASEAN là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 28,45%
tiếp tục cải thiện trong năm 2014 nhờ những cơ hội mới (tất nhiên, cả những thách
thức mới) khi tiếp tục ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA)
mới.
* Nguyên nhân thặng dư cán cân thương mại từ năm 2012 đến quý 1 năm
2014.
Thứ nhất: Sản xuất phục hồi, hàng tồn kho giảm.
Theo đó, xuất nhập khẩu của nước ta thời gian qua đã có bước phát triển
đáng kể, quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá đều đạt và vượt các chỉ
tiêu đặt ra. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả năm 2013 ước đạt khoảng 132
tỷ USD, tăng 15,3% so với năm 2012, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch của Quốc hội
đề ra (là 126,1 tỷ USD, tăng 10%). Mặc dù trong năm, xuất khẩu gặp nhiều khó
khăn như giá xuất khẩu một số mặt hàng giảm, thị trường xuất khẩu tại một số địa
bàn bị thu hẹp , song nhờ thích ứng tốt, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã đạt
kim ngạch xuất khẩu cao, vượt mục tiêu đề ra, như: dệt may, da giày, gỗ và sản
phẩm gỗ, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện Điều này đã phản ánh năng
lực sản xuất hàng xuất khẩu của nền kinh tế ngày càng được mở rộng, cơ cấu hàng
xuất khẩu từng bước đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng các sản phẩm qua chế
biến.
Sản xuất công nghiệp đang trên đà phục hồi, nhất là công nghiệp chế biến,
chế tạo. Năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp dự kiến cả năm tăng 5,6% so với
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 13
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
cùng kỳ, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái (năm 2012 tăng 4,8% so với năm
2011), thể hiện được sự cố gắng của toàn ngành, nhất là của đội ngũ các doanh
nhân Việt Nam. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Trong lĩnh vực công nghiệp đã tập trung phát triển các ngành có hàm
lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng; sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ
trợ, công nghiệp chế biến nông-lâm-thuỷ sản được quan tâm hỗ trợ phát triển. Tỷ
trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 60,2% năm 2010 lên khoảng 78% năm
2013. Tình hình hàng tồn kho, hàng ứ đọng trong doanh nghiệp nhìn chung đã có
tốc độ tăng trưởng bình quân của kim ngạch xuất khẩu là
20,02%/năm trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu đạt mức tăng trưởng 21,27%/năm.
Xuất khẩu của Việt Nam tuy tăng trưởng tương đối cao nhưng không vững chắc,
thành phần xuất khẩu của Việt Nam chưa đa dạng và phụ thuộc nhiều vào nguồn
nguyên liệu đầu vào nhập từ nước ngoài và một số mặt hàng chủ lực với giá trị gia
tăng thấp. Tình trạng đó dẫn đến kết quả tất yếu là cán cân thương mại rơi vào trạng
thái thâm hụt.
Thứ hai, nhu cầu nhập khẩu và chi phí nhập khẩu tăng cao.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi. Việc đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khiến cho nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết
bị, phụ tùng để mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp, các ngành đều tăng mạnh.
Trong cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2011, nhóm hàng tư
liệu sản xuất luôn chiếm tỷ trọng rất cao, trên 90%. Bên cạnh đó, sau khi Việt Nam
gia nhập WTO, việc dỡ bỏ các rào cản thương mại đã khuyến khích đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam tăng lên, các loại hàng tiêu dùng của nước ngoài đồng loạt đổ bộ vào
chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Lượng hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu cũng tăng
mạnh so với trước đó.
Thứ ba, chính sách tỷ giá của Việt Nam.
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 15
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Chế độ tỷ giá của Việt Nam chưa đảm nhiệm được chức năng điều chỉnh cán cân
thương mại. Trong các năm 2006, 2007 và 2009, tốc độ nhập siêu ngày càng tăng
mạnh nhưng tỷ giá thì hầu như không thay đổi. Hơn nữa, việc Việt Nam tăng tỷ trọng
nhập khẩu ở những thị trường mà đồng bản tệ tăng giá so với đồng USD cũng là một
trong những tác nhân gây ra tình trạng thâm hụt cán cân thương mại. Do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Chính phủ Mỹ đã chuyển sang
chính sách đồng USD yếu dẫn đến việc đồng EUR, JPY và CNY tăng giá so với USD.
Trong khi Mỹ là thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam thì thị trường
nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam lại là các nước Ðông Nam Á, Nhật Bản, Trung Quốc
và EU, do đó, khiến Việt Nam bị thiệt một khoản đáng kể khi thanh toán trên thị trường
may mặc, đồ uống, hoa quả… đồng thời hạn chế và kiểm soát chặt chẽ việc nhập
khẩu các mặt hàng xa xỉ.
- Kiểm soát việc nhập khẩu của các doanh nghiệp theo hướng hạn chế tối đa việc
cho phép nhập khẩu hàng tiêu dùng theo phương thức vay trả chậm (thông qua
phương thức thanh toán L/C trả chậm), một trong những nguyên nhân khiến nhập
siêu tăng cao. Các cơ quan, Bộ, ngành chức năng cần kiểm tra chặt chẽ việc nhập
khẩu theo các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các dự án hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA). Ðối với các dự án FDI, việc kiểm tra này là nhằm tránh tình
trạng nhập khẩu gian lận. Với các dự án ODA, giải pháp này nhằm giúp cho các
nguồn vốn vay có thể tái tạo nguồn ngoại tệ, đảm bảo khả năng thanh toán trong
tương lai.
- Áp dụng các rào cản phi thuế quan đối với hàng nhập khẩu. Khi Việt Nam là
thành viên WTO, phải cam kết không tăng thuế vượt mức đã cam kết đối với phần
lớn các mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu. Cam kết này được gọi là cam kết “ràng
buộc thuế quan”. Trên thực tế, từ sau Vòng đàm phán Uruguay, các thành viên WTO
đã cam kết ràng buộc tới 98% số dòng thuế đối với hàng công nghiệp và 100% đối
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 17
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
với hàng nông nghiệp. Như vậy, số dòng thuế ngoại lệ là rất ít. Mặt khác, qua nhiều
vòng đàm phán căng thẳng, mức thuế suất đối với hàng công nghiệp chỉ còn trung
bình 3,8%. Với các sản phẩm nông nghiệp thì các nước phát triển và đang phát triển
đều phải cắt giảm thuế quan tương ứng 36% và 24%. Do đó, để vừa thực hiện đúng
cam kết không tăng thuế, vừa đạt được mục tiêu điều tiết nhập khẩu, Việt Nam có
thể áp dụng các rào cản phi thuế quan. Trong khuôn khổ WTO, trong một chừng
mực nào đó, các biện pháp phi thuế quan có thể được phép áp dụng, nếu nó tuân
theo những tiêu chí của WTO và không được gây cản trở hay bóp méo thương mại.
- Ðặc biệt, trong vòng vài năm trở lại đây nhập siêu với Trung Quốc ngày càng cao
(chiếm tỷ lệ trên 80% trong “giỏ nhập siêu”) là một thách thức trong bài toán giảm
nhập siêu của Việt Nam. Việt Nam cần tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa,
an toàn thực phẩm đối với hàng nhập từ Trung Quốc và tăng cường công tác quản lý
cho những bạn có câu trả lời hay.
• Cô đã dành những buổi để sửa bài và giải đáp thắc mắc cho lớp khi giữa
và cuối học kỳ. Điều đó đã giúp chúng em khái quát và củng cố được
kiến thức của mình.
• Cô đã làm cho môn học trở nên nhẹ nhàng và dễ hiểu bằng các sơ đồ
cây, biểu đồ và bài giảng ngắn gọn, xúc tích
Bằng cách dạy của cô, em và tất cả các bạn đều hào hứng khi học môn tài chính
quốc tế.
- Cách làm tiểu luận mới
• Lớp được chia nhóm và làm tiểu luận với những cách khác nhau.Mục
đích là để các thành viên trong nhóm có thể học được cách làm việc
nhóm và làm tiểu luận theo các cách trực quan, sinh động, dễ hiểu nhất.
Không đi theo lối mòn cũ thụ động khi thuyết trình bài tiểu luận mỗi
nhóm đã có những ý tưởng sáng tạo độc đáo nhờ sự gợi ý và chỉ dạy
của cô Nguyễn Thị Phương.
*Theo ý kiến đóng góp của em,em mong muốn có nhiều buổi chúng em được thực
hành không chỉ đóng vai là một doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà còn có thể là một
phòng ban của một ngân hàng hay một doanh nghiệp đa quốc gia
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 19
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
3.2. Giáo trình và tài liệu học tập.
Do môn tài chính quốc tế mới có giáo trình mới nên việc tiếp cận còn gặp
nhiều khó khăn do cách viết của giáo trình mang hơi hướng giáo trình nước ngoài
và kiến thức thì rất nhiều. Nhưng được sự giúp đỡ của giáo viên dạy- Th.S.
Nguyễn Thị Phương chúng em đã được tiếp cận giáo trình một cách nhanh chóng
và được cô chia lại mục lục một cách dễ hiểu theo cấp độ của môn học và bám sát
chương trình.
3.3. Cơ sở vật chất.
3.3.1.Thuận lợi.
- Phòng học khang trang, bàn ghế sạch sẽ, đầy đủ, thoáng mát.
đích thực của việc nhập siêu dai dẳng , thâm hụt cán cân thương mại một cách
đáng báo động và ngày một lớn như hiện nay. Điều quan trọng là phải biết nhìn
nhận điểm yếu, thách thức và qua đó kết hợp với những cơ hội, điểm mạnh vốn có
để xây dựng những cơ chế, biện pháp phù hợp. Rõ ràng, qua thực trạng và những
giải pháp đã nêu ở trên, ta nhận thấy rõ để hạn chế nhập siêu không phải là việc
làm có thể làm một cách riêng lẻ mà phải có sự kết hợp khôn khéo và đồng bộ giữa
các giải pháp một cách hợp lí thì mới mong nhận được kết quả như mong muốn.
Trên đây là một vài ý kiến đóng góp của em về đề tài : các yếu tố ảnh hưởng
tới cán cân thương mại và thực trạng cán cân thương mại tại Việt Nam. Trong đề
tài còn rất nhiều thiếu xót, chúng em kính mong nhận được sự chỉ bảo và nhận xét
từ cô để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn. Một lần nữa em xin trân thành cảm ơn
Giảng viên Th.S Nguyễn Thị Phương đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành
đề tài này. Em xin trân thành cảm ơn c
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trang http://tailieu.vn/doc/tieu-luan-nguyen-nhan-thuc-trang-va-giai-
phap-chu-yeu-de-cai-thien-can-can-thuong-mai-cua-viet-nam-
1696300.html
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 22
Chuyên đề môn học GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
2. Cổng thông tin điện tử Chính phủ (2011), “Tình hình kinh tế - xã hội 12
tháng năm 2011”.
3. Hiệp hội Ngân hàng (2010), “Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010 và
triển vọng năm 2011”.
4. Giáo trình tài chính quốc tế-đại học kinh tế tp.Hồ Chí Minh
SVTH: TRỊNH THỊ MINH – DHTN7THTrang 23