nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng nhân rộng của mô hình trình diễn khuyến nông tại tỉnh bắc giang giai đoạn 2008 – 2010 - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập trên giảng đường, thời gian thực tập tốt nghiệp là
cơ hội giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tê. Đồng
thời tạo điều kiện cho sinh viên có khả năng tự mình nghiên cứu, trau dồi và
bổ sung thêm kiến thức chuyên môn thực tế, rèn luyện tư cách đạo đức,
phẩm chất, tác phong của người cán bộ khuyến nông. Nhờ vậy trước khi ra
trường sinh viên sẽ được trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn cơ
bản để đáp ứng yêu cầu đặt ra của công tác khuyến nông đối với một kỹ sư
khuyến nông.
Được sự đồng ý của ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Khuyến Nông và Phát Triển Nông Thôn trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của Th.s Bùi Thị Minh Hà, em tiến
hành nghiên cứu đề tài: ”Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng
nhân rộng của mô hình trình diễn khuyến nông tại tỉnh Bắc Giang giai
đoạn 2008 – 2010”
Trong thời gian thực tập em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt
tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Khoa Khuyến
Nông và Phát Triển Nông Thôn, các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên nói chung là những người hướng dẫn học, truyền đạt những
kiến thức và tạo điều kiện cho em nghiên cứu đề tài này. Đặc biệt cho em
gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Th.s Bùi Thị Minh Hà đã tận tình hướng dẫn em
trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Đồng thời qua đề tài em xin cảm ơn cán
bộ của Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Giang và các cán bộ khuyến nông
của các huyện các xã trên địa bàn của tỉnh đã rất tận tình giúp đỡ em hoàn
thành đề tài này.
Do thời gian có hạn và năng lực của bản thân còn hạn chế, chắc chắn đề
tài không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy cô giáo bổ
sung để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2011

TBKT: Tiến bộ kỹ thuật
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có 72% dân số sống ở các vùng nông thôn với
54% lao động xã hội để sản xuất ra những sản phẩm lương thực, thực phẩm
thiết yếu cung cấp cho toàn bộ xã hội, trong đó sản xuất nông nghiệp chiếm
37- 40% giá trị sản phẩm xã hội và luôn giữ được vị trí quan trọng, nền nông
nghiệp nước ta ngày càng phát triển. (www.tapchicongsanorg.vn)
Trong những năm gần đây thế giới biết đến Việt Nam như là một đất
nước đang tiến hành công cuộc đổi mới, trong đó có sự đóng góp đáng kể
của ngành nông nghiệp phát triển nông thôn.
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp, các tổ chức
đoàn thể và nhân dân, ngành nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc lựa chọn
giống, cơ cấu cây trồng phù hợp đã làm tăng năng suất và chất lượng của
cây trồng. Nếu như từ năm 1998 trở về trước, Việt nam là một nước thiếu
lương thực trầm trọng phải nhận viện trợ hoặc nhập khẩu lương thực thì hiện
nay đã trở thành nước xuất khẩu có thứ bậc trên thế giới: Đứng thứ nhất về
xuất khẩu hạt điều, hạt tiêu đen…Đứng thứ hai về xuất khẩu gạo, cà phê…
Ngoài ra còn xuất khẩu nhiều loại nông sản khác như rau, quả, thịt lợn…Đời
sống của đại bộ phận nông dân ngày càng được cải thiện .
Có được những thành công như vậy không thể không nói tới vai trò tích
cực của công tác khuyến nông. Với vai trò tích cực của mình, công tác
khuyến nông ngày càng phát huy và mở rộng khắp các vùng trong cả nước,
đồng thời được củng cố không ngừng nâng cao phù hợp với tình hình mới.
Nghị định 13/CP do chính phủ ban hành ngày 2/3/1993 quyết định
thành lập hệ thống khuyến nông. Từ đó, khuyến nông luôn đảm nhận vai trò
của mình là đào tạo, rèn luyện tay nghề cho nông dân, cung cấp kiến thức kỹ
thuật, những kinh nghiệm về sản xuất…Khuyến nông cũng đã thực hiện rất

- Học hỏi kinh nghiệm thực tế, cách tổ chức trong công việc để đạt
được hiệu quả cao.
- Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng cũng như phương pháp khoa
học.
1.4.2. Ý nghĩa trong sản xuất
- Nghiên cứu được tác động của các yếu tố tới khả năng nhân rộng của
các mô hình trình diễn khuyến nông.
-Từ những kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng những mô hình
trình diễn sau có hiệu quả và có khả năng nhân rộng cao.
Phần 2
TỒNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Khái niệm và vai trò của mô hình trình diễn
2.1.1.1. Khái niệm mô hình trình diễn
Mô hình hoặc hình mẫu theo nghĩa rộng thường là hình của một vật thể
để tham khảo hay làm theo. Mô hình là sự trừu tượng hóa hay đơn giản hóa
hệ thống. Trên thực tế hệ thống rất phức tạp, mô hình đơn giản hơn hệ thống
nhưng phải đảm bảo các thuộc tính, chức năng của hệ thống ( không nhất
thiết phải có đầy đủ các thuộc tính của hệ thống). Nói cách khác mô hình là
phương tiện để tách ra khỏi hệ thống hoạt động khách quan nào đấy cần
nghiên cứu. Trong mô hình không cần phản ánh tất cả các đặc điểm của hệ
thống, đó là sự trừu tượng hóa của hệ thống (Đỗ Kim Chung, 2005)
Sử dụng mô hình trình diễn là một trong những loại hình truyền thông
có tác động mạnh và có hiệu quả trong khuyến nông.
Tùy theo mục đích tuyên truyền mà người ta thiết kế xây dựng loại mô
hình trình diễn cho phù hợp.
- Phù hợp về quy mô: Mỗi mô hình đều có một quy mô tối thiểu đảm
bảo đạt hiệu quả tốt về năng suất cũng như chất lượng.
- Phù hợp về mùa vụ: Các giống cây trồng vật nuôi đều có một mùa vụ
sinh trưởng phát triển nhất định. Khi triển khai mô hình các cán bộ khuyến

Việc thử nghiệm và chứng minh thường được tiến hành tại các cơ quan
nghiên cứu (do các nhà khoa học tiến hành) hoặc ngay tại đồng ruộng (do
các nhà nghiên cứu, các cán bộ khuyến nông cùng với nông dân thực hiện).
Đôi khi việc thử nghiệm và chứng minh chỉ đơn thuần do nông dân tự mày
mò tiến hành. Trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp hầu hết các kỹ thuật mới
đòi hỏi phải được thử nghiệm và chứng minh bởi các nông dân ngay trên
đồng ruộng (hay trang trại) của họ trước khi khuyến cáo như là kỹ thuật đã
được cải tiến cho vùng.
Giai đoạn của quá trình chứng minh các kỹ thuật được gọi là “trình diễn
kết quả”.
Trình diễn kết quả là một kênh thông tin truyền thông hữu hiệu, nó đưa
ra những bằng chứng chứng tỏ rằng một kỹ thuật đã được cải tiến, đã được
cán bộ khuyến nông ủng hộ và có thể áp dụng tại địa phương. Dưới sự
hướng dẫn của cán bộ khuyến nông, nông dân (được chọn làm mô hình) hay
còn gọi là cộng tác viên tiến hành thực hiện trình diễn.
Trình diễn kết quả có thể bao gồm một kỹ thuật đơn lẻ như sử dụng một
loại phân bón (ví dụ NPK) trong việc trồng lúa hoặc gồm nhiều kỹ thuật kết
hợp với nhau (ví dụ kỹ thuật canh tác trên đất dốc).
Nguyên tắc của trình diễn kết quả là phải bố trí một lô thử nghiệm kỹ
thuật mới bên cạnh lô áp dụng kỹ thuật cũ, truyền thống nhằm tạo ra được
những chứng cứ để có thể đối chiếu, so sánh một cách dễ dàng. (Nguyễn
Mạnh Hà, 2007).
• Trình diễn phương pháp
Trình diễn phương pháp là một cuộc trình diễn ngắn, thực hiện bởi các
cán bộ khuyến nông hay các cộng tác viên. Mục đích của trình diễn phương
pháp là truyền đạt thông tin về kỹ năng hay cách tốt nhất để thực hiện một
kỹ thuật.
Trong khi trình diễn, cán bộ khuyến nông hướng dẫn các cộng tác viên
chuẩn bị, diễn giải từng bước trong quá trình thực hiện. Các học viên quan
sat, lắng nghe và đặt câu hỏi (trong khi diễn giảng hoặc cuối buổi) nhằm làm

tin cho cán bộ khuyến nông và cơ quan nghiên cứu. Qua trực tiếp làm việc
với dân, cán bộ khuyến nông có cơ hội học hỏi cách thực hành hay nhằm cải
thiện quy trình triển khai thử nghiệm.
2.1.1.3. Các bước xây dựng mô hình trình diễn
Quá trình xây dựng mô hình trình diễn bao gồm 7 bước với sự tham gia
tích cực của người dân vào tất cả các hoạt động của mô hình. Tuy nhiên hình
thức và mức độ tham gia ở mỗi bước có khác nhau. Theo tác giả Thomas và
cộng sự tiến trình xây dựng mô hình có thể tóm tắt như sau:
Bước 1. Đánh giá sự cần thiết phải xây dựng mô hình trình diễn tại địa
phương
- Thành phần tham gia: Rất rộng rãi, bao gồm nhiều tầng lớp ( lãnh đạo
địa phương, cán bộ kỹ thuật và nông dân; các nhóm đối tượng khác nhau tại
cộng đồng giàu, nghèo, già, trẻ…); giới ( nam, nữ), ban quản lý dự án…
- Nội dung: Đánh giá thực trạng về kinh tế - xã hội của địa phương
Tình hình sản xuất có liên quan tới việc xây dựng mô hình:
+ Các phương pháp canh tác đang áp dụng.
+ Các khó khăn trong sản xuất
+ Các khó khăn trong việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
+ Các kinh nghiệm của địa phương.
- Công cụ sử dụng để đánh giá:
+ Thu thập số liệu thứ cấp
+ Phỏng vấn cá nhân, nhóm
+ Họp dân
Ghi chú: Thông qua các nội dung trên mà đánh giá được sự cần thiết
phải xây dựng mô hình, nghĩa là trả lời được các câu hỏi sau:
Xác định được những số liệu nào cần được chuyển giao? Kỹ thuật đó có
phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của địa
phương không?
Những kỹ thuật đó nhằm giải quyết vấn đề gì cho sản xuất? Sự mong
muốn của người dân về các kỹ thuật mới này như thế nào?

+ Họp dân để bình bầu theo tiêu chuẩn
+ Đi thực địa để chọn địa điểm.
Bước 4. Xây dựng kế hoạch và các nội dung hoạt động
- Mục đích: Quyết định nội dung và tiến trình thực hiện.
- Thành phần tham gia: Tổ chức kỹ thuật và các hộ thực hiện mô hình.
- Cán bộ kỹ thuật giúp dân lựa chọn được các giải pháp kỹ thuật thích
hợp để giải giải quyết các vấn đề đã được xác định.
- Kế hoạch và nội dung hoạt động được xác định dựa trên: Hiện trạng,
mục tiêu, và nhu cầu của dân đối với việc chuyển giao kỹ thuật mới.
- Dân tham gia lập kế hoạch hoạt động cụ thể như sau:
+ Thời gian: Khi nào bắt đầu, thực hiện, kết thúc, đánh giá…
+ Khối lượng công việc cụ thể cho từng họat động.
+ Xác định rõ nguồn lực: Của hộ và hỗ trợ của dự án.
Bước 5. Tổ chức thực hiện mô hình và giám sát đánh giá định kỳ.
- Chỉ đạo để thực hiện theo kế hoạch đã đề ra.
- Tổ chức tập huấn: Những lưu ý khi tập huấn:
+ Từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
+ Nội dung phù hợp với nhu cầu của người dân, dễ hiểu.
+ Chỉ tập huấn nội dung mới khi nông dân đã làm tốt các nội dung đã
tập huấn trước.
+ Dùng nhiều tranh ảnh, hình vẽ, băng hình…
- Hỗ trợ kỹ thuật sau tập huấn: Thường xuyên theo dõi kiểm tra để:
+ Giúp dân làm được theo nội dung đã học.
+ Điều chỉnh các kỹ thuật dân không thể áp dụng được họăc áp dung
không đúng.
- Giám sát, đánh giá định kỳ:
Ai giám sát? Ban quản lý, cán bộ kỹ thuật, dân, cộng đồng. Cách làm:
Phỏng vấn, họp nhóm, họp dân.
Đánh giá, giám sát cái gì?
+ Đánh giá chung: Mô hình có đạt được mục tiêu đề ra hay không?

này?
- Cách tiến hành:
+ Kiểm tra tại thực địa
+ Tổ chức hội thảo để tổng kết.
Bước 7. Tổ chức nhân rộng
- Tổ chức các hội nghị đầu bờ
- Giúp đỡ cho chủ hộ các nội dung để chia sẻ kinh nghiệm.
- Dùng phương thức “ nông dân chuyển giao cho nông dân”.
2.1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá
Để đánh giá về một mô hình chúng ta có thể dựa vào các chỉ tiêu sau:
Năng suất, tổng sản lượng, tổng giá trị, giá thành, thu nhập và mức lãi của
các sản phẩm sản xuất ra. Tùy loại cây trồng, vật nuôi mà có các chỉ tiêu
đánh giá khác nhau.
Để có một cái nhìn tổng thể và có một kết quả đánh giá toàn diện ta
nên đồng thời tiến hành đánh giá các chỉ tiêu cùng một lúc.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong giai đoạn hiện nay nhiều quốc gia có những nghiên cứu và ứng
dụng thành công trong giống cây trồng, vật nuôi và các biện pháp kỹ thuật
tiên tiến. Không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, lấy đó làm
cơ sở cho việc phát triển toàn bộ nền kinh tế nước nhà.
Nhờ các mô hình sản xuất tiên tiến mà ngày nay tại Mỹ không có gì lạ
khi nhìn thấy những người nông dân lái máy kéo với các cabin lắp điều hoà
nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh
và rất đắt tiền. Công nghệ sinh học đưa đến việc phát triển những loại giống
chống được bệnh và chịu hạn. Định kỳ các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các
sản phẩm mới và những phương pháp mới để phục vụ nuôi trồng thông qua
việc kết hợp với cơ quan khuyến nông để tiến hành các mô hình trình diễn.
Có được sự thành công nhanh chóng như vậy là do sự phù hợp giữa tiến bộ
khoa học kỹ thuật với trình độ dân trí của người nông dân.[11]

được ăn trái cây mùa đông ngay giữa mùa hè và ngược lại [14].
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước về xây dựng mô hình trình diễn
Năm 2009 – 2010 là năm nông nghiệp nước ta có nhiều chuyển biến
tích cực. Những mô hình trồng trọt, chăn nuôi tiếp tục mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho bà con nông dân. Những mô hình cũ không chỉ duy trì mà
còn tăng thêm về số lượng và chất lượng, đặc biệt là bước đột phá ở những
mô hình mới tạo ra bước ngoặt, nâng cao năng suất của ngành nông nghiệp
trong thời gian qua.
Nhằm giúp nông dân nắm vững những yêu cầu cơ bản trong sản xuất rau đạt
tiêu chuẩn an toàn, vụ Đông xuân 2010, Trung tâm Chuyển giao KHCN
huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai thực hiện thành công mô hình
sản xuất rau an toàn tại xã Tượng Sơn.
Với quy mô 2,25 ha, mô hình đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác cải
tiến và ứng dụng một số giống mới có giá trị kinh tế như: dưa chuột, bí xanh,
cà tím, ớt chỉ thiên, rau mồng tơi được trồng theo quy trình sản xuất rau
an toàn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.
Trong quá trình thực hiện cán bộ kỹ thuật đã trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn cụ
thể từ khâu làm đất, xử lý đất trước khi trồng, chọn giống, kỹ thuật chăm
sóc, chọn thời vụ phù hợp để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho cây sinh trưởng
phát triển. Giống được chọn là giống tốt, sạch bệnh, dùng nguồn nước sạch
không bị nhiễm các chất độc hại, không bón phân chuồng tươi, sử dụng phân
vi sinh giúp cho đất được cải tạo, giảm bớt lượng bón đạm hóa học tránh
tích lũy nitrat và giảm sâu bệnh.
Cây dưa chuột có đặc điểm sinh trưởng phát triển khoẻ, thân lá to, màu
xanh, nhiều nhánh, nhiều hoa cái, dễ đậu quả. Mỗi nách lá ra 1 quả. Vỏ quả
màu xanh sáng, thịt quả dày, ăn giòn, ngon, đặc biệt là không bị đắng đầu
như một số giống dưa khác, bảo quản được lâu, phù hợp với người tiêu
dùng. Đặc tính mới của giống dưa này rất quí và chịu được thời tiết nắng
nóng >300
0

năng suất lúa được nâng lên, an ninh lương thực được bảo đảm.[13]
Vụ xuân 2010, toàn huyện gieo cấy được 2.405 ha lúa lai các loại, trong đó
riêng giống lúa Syn6 chiếm tới 66,3%, tương đương với 1.595 ha, năng suất
bình quân đạt 75,5 tạ/ha. Các giống lúa hàng hoá như: Nếp BM9603, Nếp
N97 cũng được đưa vào trồng đại trà cho năng suất trung bình đạt gần 55
tạ/ha. Tiếp nối thành công của những năm trước, năm 2010 Trạm xây dựng
đựơc 13 mô hình trồng trọt về các giống lúa lai mới như: Q.ưu số 8, BTE-1,
CNR 02… và các giống lúa thuần: XT28, X33, XT27… bước đầu cho kết
quả khả quan; riêng giống BTE-1 cho năng suất trung bình đạt 73 tạ/ha, chất
lượng gạo thơm ngon hơn các giống lúa lai khác nên vụ xuân 2011 tiếp tục
được mở rộng; mô hình giống cà chua ghép trên gốc cà tím cho năng suất
đạt 1 tấn/sào, doanh thu 10 triệu đồng/sào.
Trong năm 2010, Trạm phối hợp với Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư
tỉnh triển khai được 6 mô hình chăn nuôi, nhiều mô hình cho kết quả khả
quan như: mô hình thâm canh cá rô phi đơn tính, cho năng suất đạt 10
tấn/ha. Mô hình chăn nuôi bò sữa đạt hiệu quả kinh tế cao, hiện nay toàn
huyện có 274 con, trong đó có 200 con bò đã cho khai thác sữa, sản lượng
sữa đạt 2,5 tấn/ngày, doanh thu đạt 200 triệu đồng ngày.
Trạm cũng đã thực hiện các mô hình sind hóa đàn bò, phối giống bò thịt
nhằm nâng cao thể chất cũng như sản lượng thịt của vật nuôi. Ngoài ra, để
chủ động sản xuất, Trạm còn thường xuyên phối hợp với các công ty giống
cây trồng cung ứng nguồn giống bảo đảm chất lượng cho bà con. Trạm
cung ứng được 73.329 tấn lúa lai các loại và hơn 3,5 tấn ngô giống.
Nhằm khuyến khích bà con nông dân tăng cường ứng dụng cơ giới hoá vào
sản xuất nông nghiệp, Trạm thường xuyên phối hợp với Trung tâm Khuyến
nông - Khuyến ngư tỉnh tổ chức chuyển giao máy gặt đập liên hợp, giàn gieo
mạ rải hàng cho các địa phương. Trạm cung ứng được 1 máy gặt đập liên
hợp cho xã Tân Chi và 5 giàn gieo mạ rải hàng cho các xã Lạc Vệ, Hiên
Vân, Minh Đạo.
Cùng với việc triển khai tốt các mô hình, Trạm còn phối hợp với các đơn vị

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới
khả năng nhân rộng của 3 mô hình.
+ Mô hình nuôi gà ATSH tại xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang
+ Mô hình trồng lúa chất lượng cao thực hiện tại xã Tân Thịnh, huyện Lạng
Giang
+ Mô hình trồng lạc gối vụ tại xã Bình Sơn, huyện Lục Nam
3.1.3. Nội dung nghiên cứu
- Tổng hợp kết quả hoạt động xây dựng mô hình trình diễn tại tỉnh
Bắc Giang trong năm 2008 và khả năng nhân rộng của các mô hình đã được
lựa chọn cho tới năm 2010.
- Nghiên cứu các yếu tố tác động tới khả năng nhân rộng của mô hình
trình diễn bao gồm: Các yếu tố tự nhiên, các yếu tố kinh tế, các yếu tố xã
hội, các yếu tố thuộc phương pháp xây dựng mô hình của cán bộ khuyến
nông.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng nhân rộng của
các mô hình trình diễn.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.2.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Số liệu về các mô hình trình diễn tại tỉnh Bắc Giang.
- Các số liệu liên quan đến các mô hình được chọn để nghiên cứu.
Các số liệu trên được thu thập thông qua các tài liệu thống kê, các báo cáo
tổng kết của Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Giang., Trạm khuyến nông
các huyện và các xã có mô hình nghiên cứu trong đề tài.
3.2.1.2. Điều tra thu thập số liệu sơ cấp
- Đối tượng điều tra: Cán bộ khuyến nông Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc
Giang, trạm khuyến nông 2 huyện Lạng Giang, Lục Nam
- Phương pháp chọn mẫu điều tra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status