Chương 1
THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ DUNG LƯỢNG
1.1. Lịch sử phát triển của thông tin di động
1.1.1. Lịch sử tiến hóa của thông tin di động
1895 lần đầu tiên trong lịch sử nhà bác học Guglielmo Marconi đã
thực hiện một cuộc liên lạc giữa một máy vô tuyến đặt ở trên bờ với một chiến
hạm ở ngoài biển với khoảng cách 18 dặm (tương đương 28.8 Km). 1901 vẫn
là G. Marconi đã thực hiện liên lạc vô tuyến giữa Cornwall (thuộc Châu Âu)
và New Forland (thuộc Mĩ) tức là giữa hai bờ Đại Tây Dương. Đến 1902 thì
liên lạc giữa hai bờ Đại Tây Dương đã được thiết lập.
1935 nhà bác học người Mĩ là Amstrong đã phát minh ra phương pháp
điều chế tần số (FM: Frequency Modulator) có tính chống nhiễu cao, từ đây
liên lạc bằng vô tuyến bắt đầu phát triển với tốc độ khá cao.
1946 lần đầu tiên trong lịch sử viễn thông thế giới tại Mĩ đã triển khai
cùng lúc trên 25 thành phố một hệ thống thông tin di động có tên là MTS
(Mobile Telephone System), hệ thống này sử dụng phương pháp điều chế
tần số FM, chỉ làm việc được ở chế độ đơn công hoặc bán song công. Hệ
thống sử dụng một máy phát có công suất lớn và đặt trên một Antenna cao,
sử dụng phương pháp chuyển mạch nhân công, số cuộc gọi đồng thời rất ít
(chỉ có 3 cuộc).
1947 nhà khoa học D.H.Ring làm việc tại phòng thí nghiệm Bell Labs
thuộc hãng AT&T của Mĩ đã đề xuất ra khái niệm tế bào (Cell). Ý tưởng của
D.H.Ring là chia vùng phủ sóng rộng lớn thành nhiều vùng nhỏ hơn và thay
việc sử dụng một máy phát có công suất lớn với một Antenna cao bằng việc
sử dụng nhiều máy phát có công suất nhỏ hơn, với Antenna thấp hơn. Mỗi
1
vùng nhỏ được gọi là một tế bào (Cell). Các tần số sử dụng được chia thành
một nhóm các tần số khác nhau và phân cho các tế bào, sau khi phân hết tần
số cho các tế bào thì có thể tái sử dụng lại tần số. Các máy phát nhỏ sẽ được
nối với nhau qua trung tâm chuyển mạch, máy di động MS (Mobile Station)
có thể di chuyển thoải mái từ Cell này sang Cell khác mà không bị gián đoạn
đó chủ yếu lại sử dụng chuyển mạch kênh nên hiệu quả sử dụng vô tuyến còn
thấp. Người ta đã tiến hành cải tiến các hệ thống 2G này thành các hệ thống
2.5G với mục đích tăng cường tốc độ truyền số liệu, sử dụng chuyển mạch
gói. Các hệ thống 2.5G đã nâng tốc độ truyền số liệu lên tới 115.2 Kbps với
GPRS của GSM hoặc 384 Kbps của EDGE.
Các hệ thống thông tin di động 2G mặc dù đã được số hóa tuy nhiên
đây vẫn chỉ là các hệ thống băng hẹp tốc độ truyền số liệu chưa cao, chưa đáp
ứng được yêu cầu của người dùng để tăng cường truyền số liệu cho thông tin
di động, từ năm 1992 liên minh viễn thông quốc tế (ITU: Internertional
Telecommunication Union ) đã bắt đầu nghiên cứu để tìm ra một hệ thống tiên
tiến hơn các hệ thống 2G hiện có. Cho đến năm 2000 đã đưa ra tiêu chuẩn
IMT 2000 cho hệ thống thông tin di động thế hệ 3.
Ý tưởng ban đầu của ITU là muốn xây dựng một hệ thống 3G chung
cho tất cả các mạng di động, tuy nhiên do ngay từ xuất phát điểm ban đầu đã
có nhiều chuẩn di động khác nhau nên việc xây dựng một chuẩn chung cho
các mạng di động không thực hiện được. Trên thực tế có nhiều chuẩn 3G khác
nhau, nhưng có hai tiêu chuẩn đã được chấp thuận cho IMT – 2000 là W –
CDMA được xây dựng từ 3GPP và CDMA 2000 được xây dựng từ 3GPP2.
3
Các nước châu Âu đã ngiên cứu và cho ra hệ thống W – CDMA khởi
nguồn từ đề án CDMT (Code Division Multiple Testbed: Phòng thí nghiệm
đa truy nhập theo mã) và FRAMES (Future Radio Multiple Access Scheme:
Sơ đồ đa truy nhập vô tuyến tương lai), các dự án này cũng đã tiến hành thử
nghiệm các hệ thống W – CDMA để đánh giá chất lượng của hệ thống. Sau đó
các công tác chuẩn hóa chi tiết được thực hiện ở 3GPP (Third Gerneration
Partnership Project: Đề án của các đối tác thề hệ 3) bao gồm các thành viên
sau: ETSI (châu Âu), TTA (Hàn Quốc), ARIB (Nhật Bản), T1P1 (Mĩ).
Lịch trình nghiên cứu phát triển của CDMA 2000/ 3GPP2 (Third
Gerneration Partnership Project 2: Đề án thứ hai của các đối tác thề hệ 3) gồm
các nước sau: TIA, T1P1 (Mĩ), TTA (Hàn Quốc), ARIB, TTC (Nhật Bản).
ở Nhật, Mỹ … tuy nhiên trên thế giới trong đó có Việt Nam vẫn đang sử dụng
các mạng thế hệ hai (2G), và thế hệ hai cộng (2.5G). Các hệ thống thông tin di
động này đều đã sử dụng công nghệ số. Tuy nhiên đây vẫn là các hệ thống băng
hẹp tốc độ truyền dẫn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng.
Tại Việt Nam cho đến thời điểm này đã có tới 7 nhà khai thác viễn
thông trong đó có 5 mạng GSM hoạt động trên các băng tần GSM 850, GSM
900, GSM 18000 (Mobile phone, Vina phone, Viettel, cả 3 mạng này đều hoạt
động trên hai băng tần GSM 900 và GSM 1800; còn HT mobile hoạt động
trên băng e - GSM 850 và một mạng rất trẻ nữa là G-tel đăng kí hoạt động trên
băng GSM 1800). Hai mạng CDMA là EVN telecom (sử dụng băng tần 450),
S-phone (sử dụng băng tần 800). Các mạng này hầu hết là đang ở giai đoạn
hai cộng (2.5G).
Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của người sử dụng trong nước các
nhà mạng đang đua tranh để dành được tấm vé triển khai 3G mà các phương
tiện thông tin đại chúng đang rầm rộ đưa tin trong giai đoạn gần đây. Đặc biệt
hơn đã xác định được chính xác 4 tấm vé 3G cho các nhà khai thác viễn thông
bao gồm: Viettel, Mobile Phone, Vina Phone và liên doanh EVN Telecom với
HT Mobile. Mặc dù thất bại trong việc thi tuyển 3G do sinh sau đẻ muộn
nhưng G-TEL đã quyết định liên doanh với Vina Phone để cũng khai thác 3G.
Như vậy việc đi lên 3G ở Việt Nam là một tất yếu, trong một tương lai không
xa người dùng sẽ được sử dụng các tiện ích mà nó đem lại. Ở Việt Nam số nhà
khai thác viễn thông sử dụng công nghệ GSM chiếm đa số (với 5 nhà khai
6
thác) do vậy khi triển khai 3G chắc chắn hầu hết các mạng sẽ lựa chọn chuẩn
UMTS sử dụng kĩ thuật trải phổ W-CDMA.
1.2 Giới thiệu kĩ thuật trải phổ và ứng dụng trong CDMA
1.2.1. Kĩ thuật trải phổ
Với các hệ thống thông tin không sử dụng kĩ thuật trải phổ CDMA thì
độ rộng băng tần là một vấn đề được quan tâm chính. Ở các hệ thống này
người thiết kế hệ thống luôn mong muốn sao cho sử dụng càng ít độ rộng băng
tần số. Mẫu nhẩy tần có dạng giả ngẫu nhiên.
iii) Trải phổ nhẩy thời gian (TH/SS: Time Hopping/ Spread Spectrum).
Trong hệ thống này một khối các bít số liệu được nén và được phát ngắt quãng
trong một hay nhiều khe thời gian trong một khung chứa một số lượng lớn các
khe thời gian. Một mẫu nhẩy thời gian sẽ xác định các khe thời gian nào được
sử dụng để truyền dẫn trong mỗi khung.
Ngoài ra còn có các hệ thống lai ghép từ các hệ thống nói trên:
- Hệ thống nhẩy tần/chuỗi trực tiếp (FH/DS: Frequency Hopping/
Direct Sequence).
- Hệ thống nhẩy tần/thời gian (TFH: Time Frequency Hopping).
- Hệ thống nhẩy thời gian/chuỗi trực tiếp (TH/DS: Time Hopping/
Direct Sequence).
- Hệ thống nhẩy thời gian – tần số/chuỗi trực tiếp (TFH/DS: Time
Frequency Hopping/ Direct Sequence).
Các hệ thống trải phổ nêu trên tùy vào mục đích sử dụng sẽ có những
ưu nhược điểm riêng. Việc trình bày cụ thể từng phương pháp sẽ rất dài dòng
8
tuy nhiên với hệ thống UMTS sẽ sử dụng kĩ thuật trải phổ chuỗi trực tiếp
DS/SS và cụ thể phương pháp này như thế nào sẽ được trình bày ở phần dưới.
Nhưng trước khi xét cụ thể hệ thống DS/SS ta cần tìm hiểu về nguyên lí
CDMA trước.
1.2.2 Đa truy nhập phân chia theo mã CDMA
Đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA: Code Division Multiple
Access) là phương pháp mà ở đó nhiều người sử dụng có thể sử dụng chung
một tài nguyên vô tuyến, hay nói cách khác là tất cả mọi người dùng đều phát
trong băng tần RF (Radio Frequency), mọi người dùng khác nhau được phân
biệt với nhau nhờ sử dụng các mã trực giao.
Trong hệ thống sử dụng kĩ thuật trải phổ chuỗi trực tiếp DS/SS mỗi
người sử dụng khác nhau sẽ được gán một mã giả ngẫu nhiên hay giả tạp âm
(PN: Pseudo Noise) có thuộc tính tương quan chéo thấp, do vậy nhiều người có
10
Hình 1.3. Mô hình trải phổ và giải trải phổ DS/SS.
1.3 Thông tin di động thế hệ 3 và UMTS
1.3.1 Giới thiệu các hệ thống 3G
1.3.1.1 Các tiêu chí của thông tin di động thế hệ 3
Sử dụng dải tần quy định quốc tế 2GHz như sau :
- UL : 1885-2025 GHz.
- DL : 2110-2200 GHz.
Là hệ thống thông tin di động toàn cầu có tính tích hợp cao :
- Tích hợp các mạng thông tin vô tuyến và hữu tuyến.
- Tương tác cho mọi loại hình dịch vụ viễn thông.
Sử dụng khai thác trong các môi trường khác nhau :
- Indoor trong nhà.
- Outdoor ngoài đường.
- Di chuyển.
- Vệ tinh.
Có thể hỗ trợ các dịch vụ như :
- Đảm bảo chuyển mạng quốc tế.
- Đảm bảo các dịch vụ đa phương tiện đồng thời như thoại, data.
11
Dễ dàng hỗ trợ các dịch vụ mới xuất hiện : môi trường hoạt động của
IMT-2000 được chia làm 4 khu cơ bản với tốc độ bít R
b
khác nhau như sau.
- Khu vực 1 : indoor, ô pico, R
b
≤ 2 Mbps.
- Khu vực 2 : outdoor, ô micro, R
b
≤ 384 Kbps.
phương tiện
- Video: 384 Kbps
- Hình động: 384 Kbps- 2 Mbps
- Hình chuyển động thời gian thực: ≥ 2 Mbps
Internet Internet đơn
giản
- Truy cập WEB: 384 Kbps- 2 Mbps
Internet thời
gian thực
- Truy cập Internet : 384 Kbps- 2 Mbps
Internet đa
phương tiện
- Website đa phương tiện thời gian thực: ≥ 2 Mbps
1.3.1.2 Các công nghệ sử dụng trong thông tin di động thế hệ 3
► W-CDMA
12
Có các tính năng cơ sở sau:
- Sử dụng kĩ thuật trải phổ DS/CDMA băng rộng, với độ rộng
băng là 5 MHz.
- Lớp vật lí linh hoạt tích hợp tất cả các tốc độ bít trên một sóng
mang.
- Hệ số tái sử dụng tần số bằng 1.
Ngoài ra công nghệ này còn có các tính năng tăng cường sau:
- Phân tập phát.
- Hỗ trợ Antenna thích nghi.
- Hỗ trợ các cấu trúc thu tiên tiến.
W-CDMA là chuẩn thông tin di động thế hệ 3 do châu Âu đề xuất và đi
lên từ GSM có lớp vật lí linh hoạt trong việc hỗ trợ các loại hình dịch vụ khác
nhau đặc biệt là các dịch vụ tốc độ bít thấp và tốc độ bít trung bình, sử dụng
nhiều công nghệ tiên tiến do đó nó được sử dụng rất rộng rãi.
- Giảm nhiễu giao thoa nội ô bằng cách sử dụng tách tín hiệu đa
người dùng trong một khe trên cùng sóng mang.
- Hệ số tái sử dụng tần số bằng 3.
- Có tính năng nhẩy tần.
- Triệt nhiễu giao thoa giữa các ô.
- Hỗ trợ Antenna thích nghi.
- Hoạt động ở chế độ TDD.
- Gián kênh động.
14
Hệ thống này có nhược điểm là máy thu phức tạp nên giá thành của
thiết bị đầu cuối sẽ tăng và không thích hợp cho dùng công cộng.
► OFDMA
Có các tính năng cơ sở sau:
- Hoạt động với nhẩy tần chậm kết hợp với ghép kênh TDMA
và OFDMA.
- Mỗi tín hiệu OFDMA có khe băng tần 100 KHz.
- Tốc độ cao đạt bằng cách ấn định một số khe băng để tạo nên
băng rộng.
- Phân tập thực hiện bằng cách chia thông tin cho các khe băng
ở các sóng mang khác nhau.
Các tính năng tăng cường như sau:
- Phân tập phát.
- Tách tín hiệu đa người sử dụng để loại bỏ nhiễu.
- Hỗ trợ Antenna thích nghi.
Hệ thống này có nhược điểm là ở đường lên, đường bao của tín hiệu
tổng bị thay đổi cho nên khó thiết kế bộ khuếch đại công suất.
Tuy nhiên kĩ thuật này cùng được đề xuất sử dụng trong hệ thống
Wimax.
► ODMA
Đây thực chất là một phương thức chuyển tiếp chứ không thuần túy là
1.3.2.2 Mô hình tổng quát của hệ thống viễn thông di động toàn cầu UMTS
Do UMTS là sự phát triển từ GSM thế hệ 2 sang thông tin di động thế
hệ 3 cho nên một yêu cầu cơ bản của nó là phải tận dụng triệt để các cơ sở vật
chất sẵn có, bên cạnh việc khai thác hiệu quả các tiện ích mà nó đem lại thì
cũng phải đáp ứng tốt và tốt hơn nữa các dịch vụ cơ bản sẵn có của nó để có
thể đáp ứng được với nhiều loại hình người sử dụng có mức thu nhập khác
nhau. Dưới đây là một mô hình của mạng UMTS chồng lấn lên GSM do
3GPP phát hành.
Hình 1.5. Mô hình mạng UMTS do 3GPP phát hành 1999.
Có thể thấy mạng chia làm 2 phần :
- Mạng lõi (NC-Network Core): gồm các trung tâm chuyển mạch
di động (MSC-Mobile Switching Centrer), các nút hỗ trợ chuyển mạch gói
17
phục vụ (SGSN-Serving General Packet Service Support Node), các kênh
thoại và các kênh số liệu chuyển mạch gói được kết nối với các mạng ngoài
qua các trung tâm chuyển mạch kênh, nút chuyển mạch gói cổng (GMSC-
Gateway Mobile Switching Centrer) và điểm hỗ trợ GPRS cổng (GGSN-
Gateway GPRS Support Node). Để kết nối trung tâm chuyển mạch kênh với
mạng ngoài cần có thêm phần tử làm chức năng tương tác mạng (IWF). Ngoài
ra mạng lõi không thể thiếu được các cơ sở dữ liệu cần thiết cho mạng di động
như bộ ghi định vị thường trú (HLR), trung tâm nhận thực (AUC), bộ ghi
nhận dang thiết bị (EIR).
- Mạng truy nhập vô tuyến UTRAN: gồm bộ điều khiển mạng vô tuyến
(RNC-Radio Netwwork Controller) đóng vai trò như bộ điều khiển trạm gốc
(BSC) ở các mạng thông tin di động, nút B đóng vai trò như trạm thu phát gốc
(BTS) ở các mạng thông tin di động và thiết bị đầu cuối người sử dụng (UE-
User Equipment).
Riêng về UE, thực chất đây chính là các MS. Do mạng UMTS là sự
phát triển kế tiếp của mạng GSM/GPRS cho nên thông thường máy di động
phải hỗ trợ đồng thời cả hai mạng này. Giao diện giữa UE và mạng được gọi
nhau trên toàn bộ đường truyền từ đầu cuối đến đầu cuối.
1.4 Khái niệm dung lượng và nhu cầu tăng dung lượng
1.4.1 Khái niệm dung lượng
Với các hệ thống thông tin di động thông thường người ta hay quan tâm
đến số cuộc gọi đồng thời có thể thực hiện được hay tốc độ truyền số liệu là
bao nhiêu Kbps. Ở các hệ thống FDMA (Frequency Division Multiple
19
Access), TDMA (Time Division Multiple Access) thì số người sử dụng cực
đại phụ thuộc vào số kênh vật lí mà nhà cung cấp có, tức là số người sử dụng
cực đại không thể lớn hơn được số khe thời gian hay số băng tần.
Xét với hệ thống GSM/GPRS dung lượng của hệ thống phụ thuộc vào
số kênh sóng mang mà hệ thống đó có, mỗi một kênh sóng mang được chia
làm 8 khe thời gian được gọi là TS (Time Slot: Khe thời gian) và mỗi một
người sử dụng dịch vụ thoại sẽ được cấp một khe thời gian để thực hiện truyền
tin; còn đối với dịch vụ truyền số liệu thì tốc độ chuyền số liệu phụ thuộc vào
số khe thời gian mà người sử dụng được cấp thông qua hệ thống đặt chỗ
Slotted Aloha và hệ thống hỗ trợ cả đặt chỗ cả đơn và đa khe. Nếu như số liệu
cần truyền là ít thì người sử dụng được cấp một khe thời gian, nêu nhiều hơn
thì được cấp 2 khe và cuối cùng là nó có thế cấp tới 8 khe thời gian mà hệ
thống có. Như vậy là có tồn tại một giới hạn cứng với các hệ thống GSM dung
lượng của hệ thống nói ở trên là chưa kể đến việc tái sử dụng tần số, hay việc
phải mất mát các khe thời gian cho việc truyền các kênh quảng bá.
Còn với hệ thống CDMA thì lại khác, số người sử dụng cực đại không
phải là một con số rõ ràng mà nó phụ thuộc vào tỉ số SNR. Khi số người sử
dụng càng tăng thì chất lượng của tín hiệu giảm dần cho đến khi không thể
tiếp nhận được nữa.
Hệ thống UMTS mặc dù là sự phát triển kế tiếp của hệ thống
GSM/GPRS nhưng việc tính toán dung lượng của hệ thống hoàn toàn khác
biệt. Dung lượng của hệ thống UMTS sẽ được tính toán có phần nào đó rất
giống với hệ thống DS/CDMA. Để xét dung lượng của hệ thống UMTS trước
nghệ EDGE với nhà cung cấp dịch vụ là Mobile Phone, nhưng hiệu quả đạt
được không cao . Do vậy, vấn đề lớn nhất của nó là ở chỗ là không có nhiều
thiết bị đầu cuối hỗ trợ chuẩn này và giá thành lại khá cao . Trong khi đó với
một số tiền tương tự người ta có thể sử dụng các dịch vụ truyền số liệu với tốc
độ cao hơn rất nhiều lần. Mục tiêu chính của EDGE là tăng cường các khả
năng cho qua số liệu của mạng GSM/GPRS nó vẫn sử dụng độ rộng băng tần
là 200 KHz và 8 khe thời gian nhưng vấn đề là ở chỗ thay vì sử dụng sơ đồ
điều chế khóa chuyển pha Gauss cực tiểu ở GSM (thực chất đây chính là 4–
PSK ) sang sơ đồ điều chế 8– PSK nhờ vậy mà tốc độ của EDGE có thể tăng
lên tới 384 Kbps. Tốc độ như trên là cao, song nó chưa đạt được yêu cầu dung
lượng của hệ thống 3G (2Mbps).
Như vậy có thể thấy việc thay đổi phương pháp điều chế đã làm tăng
hiệu quả sử dụng phổ tần hay nói cách khác nó đã làm tăng dung lượng của hệ
thống lên đáng kể. Nếu nhìn xa hơn có thể thấy việc sử dụng các phương pháp
điều chế nhiều trạng thái như là 32–QAM, 64–QAM, 256–QAM, … thì hiệu
quả sử dụng phổ còn cao hơn nữa. Hiện nay đã có sơ đồ điều chế 1024–QAM
(ở trong phòng thí nghiệm, chưa có ở dạng thương phẩm), ở đây không xét
đến những nhược điểm mà các phương pháp điều chế nhiều trạng thái đem lại.
Khi đời sống của con người ngày càng tăng thì nhu cầu cho các dịch vụ
đa phương tiện tăng lên đáng kể. Song các ứng dụng băng hẹp GPRS, EDGE
tốc độ truyền số liệu đã khá cao nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu khách
hàng, bên cạnh đó dung lượng cho dịch vụ cơ bản là dịch vụ thoại vẫn còn hạn
chế do giới hạn cứng ở các hệ thống này. Một phương án tăng cường dung
lượng cho hệ thống GSM/GPRS đó là xin thêm tần số sóng mang. Vì thực tế
cho thấy ban đầu các hệ thống GSM ở Việt Nam đều sử dụng băng tần 900
MHz nhưng chỉ sau một thời gian ngắn đưa vào khai thác số lượng khách hàng
22
tăng quá nhanh cho nên các mạng đã phải dùng đến băng tần 1800 MHz, đấy là
chưa kể khi các mạng mới ra đời thì vấn đề phổ tần càng trở nên bức thiết.
Nhưng đó dù sao vẫn chỉ là ứng dụng băng hẹp chủ yếu cho dịch vụ thoại, còn
3G khác nữa), số lần truy nhập Internet trung bình và các số liệu tương tự
khác của thị trường cần phục vụ. Việc quy hoạch này hay được sử dụng bằng
các công cụ phần mềm quy hoạch và kết quả cuối cùng là phải đưa ra được số
trạm BTS, dự tính được lưu lượng, vị trí của các trạm BTS, bản đồ phủ
sóng Dung lượng và vùng phủ sóng sau khi quy hoạch phải được phân tích
chi tiết cho từng ô. Tuy nhiên sau khi mạng đi vào hoạt động sẽ cho thấy một
kết quả là không thể hoặc không tối ưu khi triển khai hệ thống giống như quy
hoạch. Lí do là các công cụ phần mềm và việc tính toán không thể lường hết
được các yếu tố đột biến như là xu thế của người dùng, sự thay đổi bất ngờ
thói quen của người sử dụng … Nếu như giai đoạn đầu việc phân tích dung
lượng cho một ô (có tính đến cả dự phòng cho tương lai) là đủ, thậm chỉ còn
thừa, nhưng một xu hướng tất yếu số người sử dụng chắc chắn sẽ tăng, điều
này cũng có thể thấy rõ trong các mạng 2G GSM ở nước ta, cho nên việc phải
tính đến các biện pháp tăng cường dung lượng cho hệ thống là điều cực kì cần
24
thiết nó ảnh hưởng đến niềm tin của người sử dụng, uy tín của nhà cung cấp
dịch vụ.
Do nội dung của đồ án là thực hiện nghiên cứu phương pháp tăng
cường dung lượng cho UMTS cho nên ở phần trình bày này học viên chỉ tập
trung vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới dung lượng của hệ thống UMTS.
Hệ thống UMTS sử dụng kĩ thuật trải phổ CDMA băng rộng cho nên tín hiệu
của người dùng sẽ chịu ảnh hưởng nhiều từ những người sử dụng khác được
gọi là nhiễu. Ta sẽ xét cụ thể các yếu tố ảnh hưởng tới dung lượng của hệ
thống ở phần dưới.
2.2 Quỹ đường truyền – ảnh hưởng của nhiễu
Quỹ đường truyền là cân đối toàn bộ công suất phát, cũng như khuếch
đại của các phần tử trên đường truyền với tổn hao gây ra do các phần tử đường
truyền cùng với dự trữ fading đường truyền để nhận được công suất thu tại
máy thu (độ dự trữ fading: là mức tín hiệu thu được có thể bị sụt đi so với mức
tín hiệu thu được khi không có fading trước khi hệ thống không còn làm việc
đáp ứng điều kiện này gọi là tổn hao cực đại cho phép. Tổn hao này cần phải
được xem xét ở cả đường xuống và đường lên. Như vậy, khi phân tích quỹ
đường truyền ở hệ thống UMTS ta cần quan tâm đến các thông số quan trọng
sau đây.
- Dự trữ nhiễu:
25