1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Luận văn
Ngày nay, giải quyết sự nghèo đói đang là một trong tám mục tiêu của thiên
nhiên kỷ là mối quan tâm toàn cầu. Các nhà nghiên cứu lo ngại rằng sự gia tăng và
kéo dài nghèo đói chính là nhân tố gây nên những tệ nạn xã hội phức tạp và hậu quả
khó lường. Trong khi đó, những chính sách của nhà quản lý đóng vai trò hết sức
quan trọng góp phần tích cực vào công tác xóa đói giảm nghèo. Điều quan trọng
hiện nay là làm thế nào để biết được những nhân tố nào ảnh hưởng tới sự ngèo đói
và các phương thức quản lý để làm cơ sở trong công tác xóa đói giảm nghèo. Đây
chính là vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam.
Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức
tại Bangkok (Thái Lan) tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói, Việt
Nam thừa nhận định nghĩa này như sau:
“Nghèo là thực trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các
nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tuỳ
theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
Thực trạng nghèo đói trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo
động. Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (World Bank), nguy cơ đối với
người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trưởng kinh
tế tiếp tục suy giảm trong năm 2009 sẽ đẩy thêm 53 triệu người rơi vào tình trạng
nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên liệu và
thực phẩm tăng cao. Suy thoái kinh tế dự kiến mỗi năm sẽ đe dọa mạng sống của
thêm 200.000-400.000 trẻ em trong giai đoạn năm 2009-2015, theo đó sẽ có 1,4-2,8
triệu trẻ em có thể bị tử vong nếu khủng hoảng tiếp diễn.
Bên cạnh đó, số lượng, hình thức, mức độ ngèo đói và những biện pháp áp dụng
của các quốc gia khác nhau nhằm hạn chế sự nghèo đói cũng khác nhau và không
đồng nhất. Đây cũng chính là một hạn chế của công tác xóa đói giảm nghèo trên
phạm vi toàn cầu.
Trạch, tỉnh Quảng Bình.
3
- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói của ngư dân tại huyện
Quảng Trạch trong những năm gần đây.
- Đề xuất và gợi ý một số chính sách quản lý đối với những cơ quan hữu quan
trong thời gian tới giúp ngư dân ven biển huyện Quảng Trạch sớm thoát nghèo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hộ ngư dân nghèo ven biển vùng bãi
ngang huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ ngư dân ven biển huyện Quảng
Trạch, tỉnh Quảng Bình gồm các xã: Quảng Đông, Quảng Phú, Cảnh Dương, Quảng
Hưng, Quảng Xuân, Quảng Phúc
- Thời gian: Từ tháng 9/2009 đến tháng 4/2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn sẽ thực hiện các phương pháp nghiên cứu
như: phương pháp thu thập dữ liệu (sơ cấp, thứ cấp), phương pháp phân tích-tổng
hợp, phương pháp chuyên khảo, phương pháp định lượng với sử dụng các phần
mềm thống kê chuyên dụng: Excel, SPSS…
Phương pháp thu thập dữ liệu (sơ cấp, thứ cấp): thực hiện tổng hợp các báo
cáo, số liệu thống kế và phỏng vấn các hộ dân thuộc các xã ven biển huyện Quảng
Trạch trong phạm vi nghiên cứu với các tiêu chí chủ yếu như: tuổi, giới tinh, tôn
giáo, thu nhập từ ngành nghề, chi tiêu, việc làm, trình độ văn hóa, sở hữu tài sản đất
đai, vốn sản xuất. Phương pháp này tạo ra cơ sở dữ liệu sơ cấp để xây dựng mô hình
kinh tế lượng nhằm phân tích tình trạng nghèo, nguyên nhân dẫn đến nghèo và đề
xuất hướng giải quyết.
Phương pháp chuyên khảo: để nghiên cứu các tài liệu có tính chất lý luận về
nghèo đói, các mô hình đã được các tác giả đi trước nghiên cứu về nghèo đói.
nghèo cho các xã ven biển từ việc nghiên cứu thực trạng của khu vực này đồng thời
trình bày những hạn chế của mô hình kinh tế lượng trong nghiên cứu.
5
Chương 1- TỔNG QUAN VỀ NGHÈO ĐÓI
1.1. Khái niệm về nghèo đói
Báo cáo của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về phát triển
con người có ba quan điểm khác nhau về nghèo đói:
- Quan điểm thu nhập (tiêu dùng).
- Quan điểm nhu cầu cơ bản.
- Quan điểm khả năng phát triển tiềm năng con người.
a. Báo cáo phát triển liên hợp quốc (UNDP) 1997 cho rằng có 3 quan điểm
khác nhau:
Quan điểm về thu nhập là một cách hiểu hẹp nhất, một người được cho là vô
sản nếu như mức thu nhập của anh ta dưới một ngưỡng xác định.
Quan điểm nhu cầu cơ bản: Quan điểm này không xuất phát từ mức thu nhập
mà xuất phát từ khả năng mà xã hội có thể cung cấp cho người dân để họ ngăn ngừa
nghèo đói. Nghĩa là thu nhập của họ không nhiều, họ có thể tự mình sản xuất một
phần sản phẩm nào đấy, còn các nhu cầu khác sẽ được thỏa mãn nhờ các dịch vụ
miễn phí của Nhà nước như y tế, giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc…
Quan điểm khả năng phát triển tiềm năng con người: Người dân không thể có
được khả năng thỏa mãn một cách đầy đủ mọi nhu cầu căn bản của mình như: ăn,
mặc, ở…Ngoài ra, họ còn bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và
giáo dục, tham gia vào các hoạt động đoàn thể và không được thỏa mãn cả nhu cầu
về văn hóa xã hội…Tóm lại là sự lựa chọn của họ bị hạn chế. Áp dụng quan điểm
tiếp cận này cho phép định nghĩa nghèo đói như là một sự thiếu vắng hàng loạt nhu
cầu cơ bản và hạn chế sự lựa chọn của con người. Quan điểm này nó bao trùm 2
quan điểm trên. Nghĩa là cả mức thu nhập và hạn chế khả năng con người thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của mình. Cách nhìn vấn đề từ quan điểm phát triển con QUAN ĐIỂM THU
NHẬP
QUAN ĐI
ỂM KHẢ NĂNG
PHÁT TRI
ỂN TIỀM NĂNG
QUAN
ĐI
ỂM
NHU C
ẦU C
Ơ
Hình 1.1. Các quan điểm về nghèo đói
7
1.2. Các phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đói
1.2.1. Phương pháp dựa vào chi tiêu
Theo Sarah Bales (2001) thì tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói đó là
mức chi tiêu (hay thu nhập) để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người.
Ngân hàng thế giới (WB 2007), Cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay trong
đo lường phúc lợi kinh tế đó là dựa vào chi tiêu hay thu nhập của hộ gia đình nếu
chúng ta chia đều cho các thành viên của hộ thì được chỉ tiêu chi tiêu hay thu nhập
bình quân đầu người.(WB 2005) thì các nước phát triển sử dụng thu nhập để xác
định nghèo đói vì nó mang tính ổn định cao hơn, đối với các nước đang phát triển thì
dùng chỉ tiêu chi tiêu vì dễ thấy và dễ dàng hơn.
Nội dung của phương pháp này dựa vào các cuộc điều tra về thông tin chi tiết
giai đoạn 2011-2015)
Chuẩn nghèo ở thành thị: 500.000 đ/người/tháng
Nông thôn: 400.000 đ/người/tháng.
Tuy nhiên phương pháp này cũng mắc phải một số nhược điểm như tâm lý
của người dân không muốn khai thật về mức thu nhập của mình. Theo Alderman
(1994) & Paxson (1993), ở các nước kém phát triển thu nhập của hộ thường biến
động theo mùa vụ trong khi chi tiêu dùng tương đối ổn định theo các năm vì thế chi
tiêu của hộ là con số phản ánh mức sống của hộ tốt hơn so với thu nhập. Hình
1.
2.
Đường
thu
nhập
và
chi
tiêu
trong
năm
mặt nữa là những hộ bị coi là không chăm chỉ lao động hoặc không có trách nhiệm
xã hội hiếm khi nhận được sự giúp đỡ, trên thực tế thì con cái của những hộ này chịu
sự thiệt thòi rất lớn từ các phân loại này.
Trên cơ sở những phân tích trên, đề tài sử dụng chỉ tiêu "chi tiêu bình quân
để đánh giá sự nghèo đói của các hộ ngư dân ven biển huyện Quảng Trạch và đồng
thời tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự nghèo đói này.
1.3. Tổng quan về nghèo đói trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghèo đói trên thế giới
Trong số hơn 6 tỷ người trên Trái đất thì có 2,8 tỷ người sống dưới mức 2
USD một ngày và 1,2 tỷ người sống dưới mức 1 USD, 44% số này sống ở khu vực
Nam Á. Trong khi ở các nước giàu, trung bình trong 100 đứa trẻ sinh ra chỉ có chưa
đến một trẻ không sống được đến tuổi thứ 5 thì ở những nước nghèo tỷ lệ này là gần
10
20 trẻ. Tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng ở các nước phát đang phát triển lên tới 50%
còn ở những nước giàu có chưa đến 5%.
Bảng 1.1. Nghèo đói theo thu nhập, phân theo vùng trong một số năm,
giai đoạn 1990-2005
Số người sống dưới 1USD một ngày (triệu người)
Vùng
1990 1996 1998 2005
Đông Á và Thái Bình Dương
trừ Trung Quốc
45245
265,1
287,3
WB đã đưa ra
chuẩn nghèo
mới thu nhập
dưới 1,25
USD/ngày
Số người sống dưới 1USD một ngày (%)
Vùng
1990 1996 1998 2005
Đông Á và Thái Bình Dương 27,6
14,9
15,3
Châu Âu và Trung Á 1,6
5,1
5,1
Mỹ Latinh và Trung Á 16,8
15,6
15,6
Trung Đông và Bắc Phi 2,4
1,8
Trung Đông và Bắc Phi 3,6 16,9
Nam Á 40,3 73,9
Nam Sahara châu Phi 50,9 72,9
Nguồn: Ngân hàng thế giới
11
Qua bảng 1.2 ta thấy khu vực nghèo nhất thế giới đó là vùng Nam Sahara
châu Phi và Nam Á có số người sống dưới 2 USD/ngày lên trên 70%. Khu vực có tỷ
lệ nghèo ít nhất đó là Châu Âu và Trung Á có số người sống dưới 2 USD/ngày là
8,9%.
Nghèo đói ở những khu vực khác nhau cũng có những mức độ khác nhau
(Hình 1.3). Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB) thì với tỷ lệ 1,25
USD/ngày, châu Phi – vùng Sahara là khu vực rộng lớn duy nhất, nơi tình trạng
nghèo đói vẫn suy giảm không đáng kể về tỷ lệ (50.9% vào năm 2005, thấp hơn so
với 57.6% vào năm 1990, 58% vào năm 1996) và tăng về số lượng (384 triệu người
vào năm 2005 cao hơn so với 202 triệu vào năm 1981).
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, châu Phi là châu lục có tỉ lệ thanh niên
thất nghiệp cao nhất thế giới (25,6% ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi). Thất
nghiệp là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra nạn nghèo đói của ”lục địa
Đen” và ảnh hưởng tiêu cực đến các chương trình và các kế hoạch phát triển, với tỉ
lệ tăng 10% mỗi năm. 32 trong số 38 nước nghèo nhất thế giới là thuộc châu Phi. Số
tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỉ USD. Tuổi thọ trung bình ở châu Phi thấp nhất thế
giới, 45 tuổi. Chỉ có 58% số người dân châu Phi được dùng nước sạch.
Từ vài thập kỷ nay, tỉ lệ mù chữ tại châu Phi gia tăng, chiếm khoảng 40% số
dân châu Phi ở độ tuổi 15 và chiếm hơn 50% số phụ nữ ở độ tuổi 25. Từ nhiều năm
nay, châu Phi đã phải gánh chịu một vấn đề kinh niên là vấn đề người tị nạn. Theo
các con số chính thức, tại châu Phi có hơn 7 triệu người tị nạn và hơn 20 triệu người
không có nhà cửa do hàng loạt các cuộc xung đột và nội chiến gây ra và đã để lại
một hậu quả nặng nề về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng và kinh tế bị đình trệ.
Châu Phi đang phải đối mặt với nạn hạn hán kinh niên và bị thiếu nước sạch
Báo cáo của "Sodexho Foundation", một tổ chức từ thiện chuyên theo dõi về
nạn nghèo đói ở Mỹ, cho biết, nạn nghèo đói ở nước này trong nhiều năm qua không
giảm mà còn có chiều hướng tăng. Theo thống kê, trong năm 2005, toàn nước Mỹ có
khoảng 35 triệu người thường xuyên không đủ ăn, phải sống dựa vào các nguồn từ
thiện. Trong 90 tỉ USD chi cho người nghèo hàng năm, tới 66,7 tỉ USD dành cho y
tế và chữa bệnh; 14,5 tỉ USD chi dưới các dạng tem phiếu hoặc các suất ăn từ thiện
hàng ngày; 9,2 tỉ USD bị thiệt hại do năng suất lao động giảm.
Tổ chức từ thiện Finn Care của Anh công bố một nghiên cứu cho thấy
khoảng 12,5 triệu người Anh, tức 20% dân số nước này, đang sống dưới mức nghèo
đói (theo chuẩn của Anh). Đây là thực tế đáng ngạc nhiên bởi Anh là một trong 8
nước có nền công nghiệp phát triển nhất của thế giới. Hơn 140 triệu người ở châu Á
bị đẩy vào tình trạng cực kỳ nghèo đói trong năm 2009 khi nạn thất nghiệp gia tăng
do suy thoái kinh tế toàn cầu. Đó là cảnh báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
trong bản báo cáo mang tên The Fallout in Asia được công bố ngày 18/2/2010.
Theo nhận định của ông Kuroda (Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á
(ADB), khoảng 620 triệu người ở châu Á sống dưới mức 1USD/ngày. Ít nhất một
nửa và trong số này lần lượt sống ở Ấn Độ và Trung Quốc - 2 nước có nền kinh tế
đang phát triển mạnh.
Nghèo đói đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và
phát triển của thế giới và nhân loại. Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một chỉnh thể
thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất ấy. Toàn cầu
hóa đã trở thành cầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng
trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác.
Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi "nghèo đói đã trở thành một
vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng
gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo
động và chiến tranh không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới. Bởi,
những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong
thể để hội nhập.
15
Vì vậy, một mặt việc xóa đói giảm nghèo là trách nhiệm của chính phủ từng
nước; mặt khác, các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), Chương trình phát triển của Liên Hợp
Quốc (UNDP) Giữ vai trò quan trong giúp các quốc gia giảm bớt gánh nặng nghèo
đói.
Biện pháp đầu tiên thường được sử dụng là chu cấp các khoản vay có gắn với
các điều kiện giải ngân theo các chương trình xóa đói giảm nghèo. Đây được đánh
giá là một biện pháp trực tiếp và có nhiều yếu tố tích cực nếu quá trình tổ chức thực
hiện hạn chế được lãng phí và tham nhũng của các quan chức trung gian.
Tiếp theo đó là những nỗ lực của các quốc gia công nghiệp phát triển, Hội
nghị thượng đỉnh Rio năm 1992 đã đề ra một công ước chung, theo đó viện trợ phát
triển cho các quốc gia nghèo thuộc thế giới thứ ba cần phải chiếm 0,7% tổng sản
phẩm xã hội của các quốc gia công nghiệp phát triển với mục tiêu đóng góp vào việc
giảm số người nghèo trên thế giới. Tính đến cuối thế kỷ XX, quốc gia dẫn đầu về
thực hiện Công ước này là Hà Lan và Thụy Điển, họ chi tới trên 0,8% GDP. Các
nước khác như Anh đã chi trong năm 1999 là 0,24%, sang năm 2000 tăng lên
0,31%. Sau đó là Thụy sỹ 0,34%, Pháp 0,33%, riêng Cộng Hòa Liên bang Đức năm
1998 đã chi 0,4% GDP cho viện trợ phát triển, nhưng đến đầu thế kỷ XXI Chính phủ
Đức lại giảm xuống mức thấp nhất từ trước tới nay còn 0,27%.
Biện pháp tiếp theo là gián tiếp, thường tập trung vào các giải pháp dãn nợ,
giảm nợ đối với các quốc gia rơi vào cảnh nghèo đói đến mức mất khả năng trả nợ.
Trong số các sự kiện liên quan đến sự việc này, trước hết phải kể đến các hội nghị
thường niên của WB va IMF về xử lý nợ cho các nước nghèo, các câu lạc bộ như
Câu lạc bộ Pari, Câu lạc bộ Luân Đôn Chẳng hạn ở hội nghị ở Washington (thắng
10 năm 1996) đã quết định giảm ít nhất 5,6 tỉ USD nợ của khoảng 20 nước nghèo
nhất trên thế giới, và đến những năm gần đây con số giảm nợ đã tăng lên đến hàng
chục tỉ USD.
17
1.3.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo một số nước
Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia rất thành công trong việc xóa đói giảm nghèo, từ
những năm sau cuộc cải cách 1978, Trung Quốc đã giảm tỷ lệ nghèo một cách
ngoạn mục thông qua những chính sách cải cách đặc biệt và tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao. Theo chuẩn nghèo của quốc gia thì số người nghèo đã giảm từ 200 triệu vào
năm 1981 xuống còn 28 triệu vào năm 2002. Mặt khác, dùng chuẩn nghèo theo thu
nhập 1 USD/ngày của Ngân hàng thế giới, số người nghèo đã giảm từ khoảng 490
triệu người xuống còn 88 triệu người trong cùng giai đoạn. Tỷ lệ nghèo đã giảm từ
49% năm 1981 xuống còn 6,9% năm 2002.
Trung Quốc đã đạt được thành quả giảm nghèo thần tốc như vậy chủ yếu là
nhờ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. GDP thực tăng trung bình 9,4% trong giai
đoạn 1979-2003. Sự tăng trưởng nhanh này là kết quả của những cải cách liên tục và
sự thay đổi cơ cấu chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, từ
nông nghiệp sang dịch vụ, mở cửa thương mại quốc tế và trao đổi công nghệ. Nghèo
đói ở Trung Quốc là hiện tượng ở nông thôn, do sự di cư từ nông thôn ra thành thị bị
hạn chế nên việc phát triển nông thôn là yếu tố quan trọng nhất để giảm nghèo.
Trung Quốc đã tập trung cải cách về thể chế ở nông thôn như việc sở hữu đất, sản
xuất và giá thu mua vì thế tỷ lệ nghèo ở Trung Quốc giảm một nữa từ 49% xuống
còn 24% theo chuẩn 1 USD/ngày, số người nghèo ở nông thôn năm 1978 là 250
triệu người giảm xuống còn 125 triệu người vào năm 1985.
Điểm đáng chú ý là vào năm 1994, Chính phủ Trung Quốc ban hành
”Chương trình 8-7” (Chương trình giảm nghèo quốc gia) với mục tiêu đem phần lớn
của 80 triệu người nghèo còn lại lên trên đường nghèo của Chính phủ trong 7 năm từ
1997-2000. Thực chất chương trình 8-7 nhằm vào các khu vực nghèo, nhấn mạnh
Trước những năm 60, Hàn Quốc có xuất phát điểm là rất nghèo nàn về tài
nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ khi thực hiện chính sách và chiến lược phát
triển kinh tế theo hướng xuất khẩu. Các chính sách phát triển ấy đã hứa hẹn rằng
nghèo đói sẽ được loại bỏ trong quá trình tăng trưởng GNP. Kết quả là Hàn Quốc đã
đạt được tăng trưởng cao kỷ lục khoảng 9%/năm trong suốt thời kỳ 1962-1988. Và
19
nếu căn cứ vào chuẩn nghèo tuyệt đối của năm 1988 được áp dụng cho các hộ nông
dân là 5525 USD/năm/hộ thì tỷ số hộ nghèo đói năm đó đã giảm xuống còn 6,5% so
với 33,7% năm 1967.
Thế nhưng do phát triển kinh tế quá nhanh nên bức tranh nghèo đói tương đối
lại hoàn toàn khác, chuẩn nghèo đói tương đối áp dụng cho các hộ nông dân năm
1988 ở Hàn Quốc là 7324 USD/năm/hộ. Tỷ lệ nghèo đói tương đối trong nông thôn
tính cho năm 1988 là 17,9% với 31,6% năm 1970. Điều đó chứng tỏ tăng trưởng
kinh tế thực sự đã làm giảm tỷ lệ số hộ thuộc diện nghèo đói ở nông thôn. Tuy vậy,
chuẩn nghèo ở Hàn Quốc lại phân biệt khá rõ giữa các vùng thành phố lớn, thành
phố vừa và nhỏ và vùng nông thôn. Chuẩn nghèo ở vùng nông thôn chỉ bằng 80%
chuẩn nghèo ở thành phố lớn và bằng 90% chuẩn nghèo ở thành phố vừa và nhỏ.
Nhìn chung, tỷ lệ các hộ nghèo tương đối vùng nông thôn tuy có giảm những vẫn
còn chậm hơn so với tỷ lệ số hộ nghèo tuyệt đối, hố ngăn cách giàu nghèo có dãn ra
nhanh chóng nhưng nhìn chung cho năm 1993 thì hệ số Gini vẫn không quá lớn, chỉ
khoảng trên 0,31.
Trong những năm 90, Hàn Quốc đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong
công tác giảm nghèo, tỷ lệ nghèo đói ở thành thị đã giảm trung bình xuống còn 20%
một năm trong giai đoạn 1990-1997 và không có sự gia tăng bất bình đẳng. Nhưng
khi khủng hoảng nổ ra thì thất nghiệp và nghèo đói đã tăng lên nhanh chóng. Diện
nghèo đói ở khu vực thành thị đã tăng gấp đôi từ 9% năm 1997 lên đến 19,2% năm
1998. Thất nghiệp tăng từ 2,6% trong quý II năm 1997 lên tới đỉnh điểm là 8,7% vào
đầu năm 1999. Mức lương thực tế giảm 20,7%, chính sách tài khóa mở rộng năm
1998 và 1999 đóng vai trò thiết yếu để ngăn chặn suy thoái kinh tế. Chi tiêu cho bảo
Điều này cho thấy một trong những nhân tố nhằm giảm nghèo của
Bangladesh mà Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng cần học hỏi đó là
việc cấp tín dụng cho người nghèo để có những vốn liếng nhất định phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông thường tại Việt Nam, những hộ nghèo không
có tài sản nên không thể thế chấp từ các tổ chức tín dụng, nên sử dụng chính sách tín
dụng này đối với người nghèo cũng là giải pháp hay cần học tập. 21
1.3.3. Tình hình nghèo đói ở Việt Nam
Thời gian vừa qua, Việt Nam được biết đến là quốc gia có thu nhập thấp nhất
trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nhưng thành tựu giảm nghèo của Việt Nam
lại là một trong những nước thành công nhất trong phát triển kinh tế và xóa đói giảm
nghèo. Khoảng gần 2 thập kỷ trước (năm 1993), Việt Nam có hơn 58% dân số sống
dưới mức chi tiêu bình quân đáp ứng cho nhu cầu lương thực và phi lương thực cơ
bản nhất. Năm năm sau đó tỷ lệ nghèo giảm xuống còn 37%, đến năm 2002 tỷ lệ này
tiếp tục giảm còn 28,9%, năm 2006 là 16% và đến năm 2008 tỷ lệ nghèo chỉ còn
14,5% (xem bảng 1.3). Tỷ lệ nghèo đói đo lường bằng chuẩn nghèo lương thực thực
phẩm, giảm từ 24,9% năm 1993 xuống còn 10,9% năm 2002 và 6,9% năm 2008.
Nếu dùng chuẩn USD $1 PPP, Việt Nam đã vượt xa Mục tiêu Phát triển Thiên niên
kỷ ”giảm 50% tỷ lệ người dân có thu nhập dưới mức USD $1 PPP/ngày trong giai
đoạn 1990-2015”. Tỷ lệ này đã giảm được trên 9 lần từ 39,9% xuống còn 4,1% năm
2008.
Bảng 1.3 cho thấy việc giảm nghèo diễn ra ở tất cả các nhóm dân cư, thành
thị, nông thôn, nhóm đa số, nhóm dân tộc thiểu số, và ở các vùng địa lý. Tỷ lệ nghèo
ở khu vực thành thị giảm từ 25,1% xuống 3,3% trong thời kỳ 1993-2008, còn tỷ lệ
nghèo ở khu vực nông thôn giảm từ 66,6% xuống còn 18,7% trong cùng kỳ.
Tỷ lệ nghèo lương thực thực phẩm cũng giảm đi theo thời gian cho cả khu
vực thành thị và nông thôn, cũng như nhóm người Kinh và Hoa và nhóm dân tộc
Dân tộc thiểu số
53,9
86,4
31,1
75,2
23,1
69,3
13,5
60,7
10,3
52,3
8,9
50,3
Nghèo lương thực
Thành thị
Nông thôn
Kinh và Hoa
Dân tộc thiểu số
24,9
7,9
29,1
20,8
52
15
2,5
18,6
10,6
41,8
10,9
1,9
6,9
1,3
8,7
4,7
22,8
4,7
0,7
6,1
2,6
19,2
3,8
0,7
4,9
2,0
15,4
3,5
0,5
4,6
1,7
15,1
Ghi chú: Tỷ lệ nghèo được tính bằng tỷ lệ phần trăm dân số. Khoảng cách nghèo đo mức chênh lệch trung bình giữa chi tiêu của người
nghèo với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng nghèo.
Nguồn: Báo cáo các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 2010
Bảng 1.4. Tỷ lệ nghèo giữa các vùng
Tính theo phần trăm 1993 1998 2002 2004 2006 2008
Vùng núi phía Bắc
Đông Bắc
Tây Bắc
81,5
12,1
31,9
8,8
29,1
8,1
22,6
Duyên hải Nam Trung Bộ 47,2
34,5
25,2
19,0
12,6
13,7
Tây Nguyên 70,0
52,4
51,8
33,1
26,8
28,9
19,5
16,0
14,5
Nguồn: BCPTVN (2008)
23
Bảng 1.4 cho thấy xu hướng giảm nghèo ở một số vùng nhưng tốc độ giảm
nghèo và tỷ lệ nghèo thì khác nhau. Nhìn chung vùng núi phía Bắc là vùng nghèo
nhất nước tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Trong khoảng thời gian hơn
mười năm thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo Vùng núi phía Bắc đã đạt được
những kết quả vượt bậc tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 81,5% xuống còn 30,2%. Tuy nhiên,
ở vùng này vẫn thể hiện sự hạn chế ở khả năng giảm nghèo trong những năm qua,
nghèo về lương thực ít thay đổi.
Bảng 1.5. Tỷ lệ chi tiêu của các nhóm ngũ vị phân trong dân số
ĐVT: %
1993 1998 2002 2004 2006
2008
Nghèo nhất
Gần nghèo nhất
Trung bình
Tổng
100
100
100
100
100Giàu nhất/nghèo nhất
5
5,3
5,9
6,3
6Hệ số Gini cho chi tiêu
0,34
0,35
giảm 2/3 trong giai đoạn 1993-2002, mặt khác nếu mức giảm nghèo lại khiêm tốn
hơn nếu dùng chuẩn nghèo 2 đô-la/ngày. Sự tương phải giữa hai xu hướng này là do
một bộ phận lớn người dân Việt Nam không còn nghèo cùng cực nhưng tỷ lệ cận
nghèo còn nhiều và chắc chắn là chưa giàu.
Một so sánh quốc tế có ý nghĩa cần tính đến sự khác biệt về trình độ phát
triển giữa các nước, xét trên giác độ này thì Việt Nam cũng làm rất tốt. Bảng 1.6 cho
thấy những ước tính mới nhất về ngưỡng nghèo 1 đô-la/ngày ở một loạt nước có thể
so sánh với Việt Nam vì những nước này thuộc cùng khu vực hoặc là những nên
kinh tế mới nổi lên. Qua bảng ta thấy GDP tính theo đầu người theo đô la PPP, tuy
Việt Nam có tỷ lệ nghèo cao hơn Ma-lai-xia, Thái Lan và In-đô-nê-xia nhưng Việt
Nam lại giảm nghèo tốt hơn các nước giàu hơn như Trung Quốc, Ấn Độ và Phi-lip-
pin.
Bảng 1.6. Tỷ lệ so sánh được Việt Nam với một số quốc gia
Tên quốc gia
GDP tính theo đầu người theo
đô la PPP
Phần trăm dân số sống với
dưới 1 đô la PPP/1 ngày
Ma-lai-xia 8922 2,0
Thái lan 6788 2,0
Nga 7926 6,1
Sri-lan-ka 3447 6,6
In-đô-nê-xia 3138 7,2
Mê-xi-cô 8707 8,0
Bra-xin 7516 9,9
Việt Nam 2240 13,4
25
Mông cổ 1651 13,9
Phi-líp-pin 4021 14,6