HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Đinh Vương Long
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU NĂNG ĐỊNH TUYẾN
TRONG MẠNG WMN Chuyên ngành: Kĩ thuật điện tử
Mã số: 60.52.70 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2013
Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG Người hướng dẫn khoa học: ………………PGS. TS Nguyễn Quốc Bình …………
Phản biện 1: ……………………………………………………………………………
Phản biện 2: …………………………………………………………………………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công
nghệ Bưu chính Viễn thông
2 nghiên cứu lý thuyết bài toán định tuyến trong mạng WMN cùng với các yếu tố ảnh
hưởng tới hiệu năng định tuyến trong mạng WMN. Chương 3 khảo sát hiệu năng một số
giao thức định tuyến thông qua mô phỏng trên nhiều kịch bản với các yếu tố đầu vào khác
nhau. Từ kết quả thu được, đưa ra các kiến nghị trong các trường hợp cụ thể.
Do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức bản thân, luận văn không thể tránh khỏi
các khiếm khuyết. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, các học viên quan
tâm để luận văn được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Quốc Bình đã hướng dẫn em hoàn thành
luận văn này.
2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ WMN
Mạng hình lưới không dây (WMN) đã nổi lên như là một công nghệ chủ chốt dể cung
cấp các dịch vụ cho các mạng không dây thế hệ kế tiếp: mạng băng rộng tại nhà, các mạng
cộng đồng, mạng doanh nghiệp v.v WMN đang nhận được sự quan tâm lớn như là phương
tiện để cung cấp các dịch vụ không dây băng rộng tin cậy với chi phí đầu tư thấp và vùng
phủ mở rộng [22].
Trong [1] đã định nghĩa: “Một mạng hình lưới không dây WMN là một mạng truyền
thông được tạo thành từ các nút vô tuyến được tổ chức theo cấu trúc hình lưới”.
Chương này của luận văn sẽ trình bày các khái niệm cơ bản về WMN bao gồm kiến
trúc chung hệ thống, các ứng dụng của WMN. Sau đó tổng hợp các hướng đề xuất cải thiện
hiệu năng mạng trên từng lớp cụ thể.
1.1. Kiến trúc và đặc điểm của WMN
1.1.1. Kiến trúc của mạng WMN
Một mạng WMN bao gồm các bộ định tuyến hình lưới không dây WMR (wireless
Mesh Bộ định tuyến) và các nút khách hình lưới không dây WMC (wireless WMC). Kiến
trúc của mạng WMN có thể được chia làm 3 nhóm chính dựa trên tính năng của nút và
phương thức truyền thông [6].
a. Kiến trúc phân cấp: các mạng WMN có cơ sở hạ tầng
Kiến trúc được trình bày ở hình 1.1, nơi các đường đứt và liền mô tả các đường
thực hiện thông qua mạng WMN.
• Giới hạn về công suất tiêu thụ phụ thuộc vào kiểu nút. Các WMR thường không
hạn chế nghiêm ngặt về công suất tiêu thụ. Tuy nhiên, WMC cần phải các giao thức hiệu
quả về năng lượng.
• Sự tương thích và khả năng tương thích với các mạng không dây hiện có. Ví dụ các
mạng WMN được xây dựng dựa trên các công nghệ 802.11, cần được tương thích với các
chuẩn trong trường hợp hỗ trợ khả năng hình lưới và khách WiFi thông thường. WMNs
4
cũng cần thiết hoạt động tốt với các mạng không dây khác như WiMAX, Zig- Bee và mạng
di động tế bào.
1.2. Ứng dụng của WMN
1.2.1. Mạng tại nhà băng rộng
Mạng gia đình băng rộng hiện nay trong thực tế là các mạng WLAN theo chuẩn
IEEE 802.11. Tuy nhiên, đối với các mạng này vẫn tồn tại một vấn đề về việc chọn vị trí
cho các điểm truy nhập vì ngay cả với một ngôi nhà nhỏ cũng có rất nhiều vị trí mà điểm
truy nhập tại đó không phủ sóng hết được. Công nghệ mạng WMN như trong hình vẽ 1.4 có
thể giải quyết vấn đề này.
1.2.2. Mạng cộng đồng
Trong một kịch bản mạng cộng đồng, truy nhập Internet thường dựa trên công nghệ
cáp quang hoặc công nghệ DSL (Digital Subcriber Line). Thành phần cung cấp khả năng
truy nhập không dây được kết nối tới cáp hoặc modem DSL. Phương pháp truy nhập mạng
này có một số nhược điểm. Các mạng WMN sẽ khắc phục được những nhược điểm trên
bằng việc sử dụng các kết nối hình lưới linh hoạt giữa các ngôi nhà.
1.2.3. Mạng đô thị
Sử dụng WMN trong khu vực đô thị có một số ưu điểm. Tốc độ truyền dẫn lớp vật lý
của một nút của mạng WMN lớn hơn nhiều so với tốc đô một nút trong bất cứ mạng di động
nào. Ví dụ một nút chuẩn IEEE 802.11g có thể truyền ở tốc độ 54Mbps. Hơn nữa, việc
truyền tin giữa các nút không cần thành phần lõi hữu tuyến.
1.2.4. Một số ứng dụng khác
vào các cơ chế cần có tại lớp MAC và PHY để cho phép kết nối hình lưới, đồng thời cung
cấp một khung làm việc để mở rộng và liên điều hành giữa các thiết bị trong WPAN. Các
mạng hình lưới dựa trên chuẩn IEEE 802.15 đem lại một số lợi điểm chính yếu như: mở
rộng vùng phủ, tăng độ tin cậy và kéo dài thời gian hoạt động mạng.
1.3.3. WMN dựa trên chuẩn 802.16
Để đưa ra tiêu chuẩn hóa cho truy nhập không dây băng rộng trong mạng đô thị,
nhóm làm việc IEEE 802.16 được thiết lập năm 1999. Tiêu chuẩn ban đầu IEEE 802.16
được thiết kế để điều hành trong băng tần cấp phép (10-66 GHz) và phát triển cấu trúc điểm
– đa điểm PMP (Point to Multipoint), nơi mỗi một trạm cơ sở BS (Base Station) phục vụ
một số thiết bị đầu cuối trong vùng phủ. Tuy nhiên, kiến trúc này yêu cầu tầm nhìn thẳng
giữa các thiết bị do giới hạn của lượng nhiễu đa đường có thể cho phép tại tần số cao. Để
hoạt động trong môi trường không có tầm nhìn thẳng thực sự, 802.16a được mở rộng vào
năm 2003. Tiêu chuẩn 802.16a hoạt động tại vùng tần số 2-11GHz, cho phép các truyền
6
thông không có tầm nhìn thẳng và các chức năng kết nối hình lưới được bổ sung vào chế độ
kết nối điểm - đa điểm PMP.
1.4. Các yêu cầu hiệu năng của các mạng WMN
Các công nghệ không dây
Được thúc đẩy bởi sự phát triển nhanh của chất bán dẫn, các công nghệ vô tuyến, lý
thuyết thông tin, các thiết bị không dây đang trải qua một cuộc cách mạng thực sự. Hiện
nay, rất nhiều tiếp cận đã được đề xuất nhằm tăng dung lượng cũng như sự linh hoạt của các
hệ thống không dây. Chẳng hạn như việc sử dụng các anten có hướng, anten thông minh,
các hệ thống MIMO, các hệ thống đa kênh đa sóng (multi-radio/multi-channel).
Khả năng mở rộng
Truyền thông đa điểm là kiểu truyền thông phổ biến trong các mạng WMN. Đối với
các mạng sử dụng kiểu truyền thông này luôn gặp vấn đề khi mở rộng. Khi kích thước mạng
tăng, hiệu năng mạng sẽ suy giảm đáng kể. Nguyên nhân là do độ tin cậy của các kết nối
đầu cuối đến đầu cuối giảm mạnh khi kích thước mạng tăng lên. Với kiến trúc tùy biến
trong các mạng WMN, các phương pháp đa truy nhập tập trung như TDMA và CDMA khó
1.5. Kết luận chƣơng
Trong chương này tác giả đã đưa ra các nhìn khá đầy đủ về mạng WMN, bao gồm
kiến trúc mạng, đặc điểm, ứng dụng và các tiêu chuẩn đã được đưa ra . Mạng WMN có thể
cung cấp các ứng dụng như: mạng băng rộng tại nhà, các mạng cộng đồng, mạng doanh
nghiệp, giao thông, y tế v.v. với phạm vi phủ sóng rộng hơn so với các mạng tùy biến và các
mạng Wifi. Bài toán hiệu năng chung của mạng cũng được giới thiệu thông qua các yêu cầu
hiệu năng cụ thể.
CHƢƠNG 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI HIỆU NĂNG ĐỊNH
TUYẾN TRONG MẠNG WMN
Một trong các trở ngại lớn nhất đối với các bài toán thiết kế và cải thiện hiệu năng
mạng hình lưới không dây WMN xuất phát từ các đặc điểm kiến trúc mạng và các đặc tính
cố hữu của kênh truyền vô tuyến như: sự biến động của cấu hình, tính không ổn định của
kênh truyền, chất lượng liên kết, các mô hình truyền lan và xuyên nhiễu phức tạp, v.v. Một
loạt các thách thức đối với bài toán hiệu năng đã được chỉ ra trong chương 1 gồm: dung
lượng và thông lượng mạng, khả năng mở rộng, kỹ thuật định tuyến, chất lượng dịch vụ,
bảo mật và khả năng liên điều hành và tích hợp.
Trong đó, rất nhiều các nghiên cứu cải thiện hiệu năng mạng tập trung vào vấn đề
cải thiện các giao thức định tuyến, trên tất cả các khía cạnh như: thuật toán định tuyến,
tham số định tuyến và các thủ tục định tuyến.
8
2.1. Thuật toán định tuyến trong mạng WMN
2.1.1. Thuật toán định tuyến vector khoảng cách (distance vector)
Phương pháp này gán một con số, gọi là giá (hay trọng số), cho mỗi một liên kết giữa
các nút trong mạng. Các nút sẽ gửi thông tin từ điểm A đến điểm B qua tuyến có tổng chi
phí thấp nhất (là tổng các giá của các kết nối giữa các nút được dùng). Khi một nút khởi
động lần đầu, nó chỉ biết các nút kề trực tiếp với nó, và chi phí trực tiếp để đi đến đó (thông
tin này, danh sách của các đích, tổng chi phí của từng nút, và bước kế tiếp để gửi dữ liệu
đến đó tạo nên bảng định tuyến, hay bảng khoảng cách).
2.1.2. Thuật toán định tuyến trạng thái liên kết (link-state)
dd
(2.1)
Trong đó:
f
d
: xác suất gói tin chuyển thành công theo hướng đi.
r
d
: xác suất gói tin chuyển thành công theo ngược lại.
c. Tham số thời gian mong đợi ETT
Tham số thời gian mong đợi ETT (Expected Transmission Time) là tham số cải thiện
của ETX nhằm bổ sung để tính toán cho các liên kết có băng thông khác nhau và các gói tin
có kích thước khác nhau [5].
d. Tham số thời gian truyền dẫn mong đợi trọng số tích lũy WCETT
Tham số WCETT (Weighted cumulative ETT) là tham số cải thiện từ ETT với sự bổ
sung đặc tính phân tập kênh [5].
Tham số định tuyến phản ánh nhiễu iAWRE
iAWARE (Interference AWARE) là tham số định tuyến nhằm phản ánh ảnh hưởng
do biến động tỉ lệ lỗi liên kết, sự khác biệt tốc độ truyền dẫn cũng như của nhiễu liên luồng
và nội luồng [20]. iAWARE xác định thời gian trung bình bận của đường truyền do nhiễu từ
các lân cận. iAWARE của một đường dẫn p được xác định qua công thức dưới đây:
1
1
1 max
n
ij
jk
Chất lượng liên kết
10
Bảo toàn thứ tự
Nhiễu
*
*
+
: Phản ánh đặc tính; : không phản ánh đặc tính;
#: chưa xác định; *: chỉ phản ánh nhiễu liên luồng;
+: gồm cả nhiễu ngoại.
2.3. Các giao thức định tuyến trong WMN
Để có thể đưa ra một giao thức định tuyến hiệu quả cho các mạng WMN, trước hết
chúng ta cần có cái nhìn sơ bộ về các giao thức định tuyến đã có, so sánh và phân tích ưu
nhược điểm các giao thức định tuyến này.
Giao thức định tuyến vector khoảng cách theo yêu cầu AODV
AODV là một giao thức định tuyến theo yêu cầu phổ biến nhất [16]. Các tuyến được
thiết lập theo yêu cầu, và chỉ các tuyến hoạt động mới được duy trì. Điều này làm giảm
thiểu được tiêu đề định tuyến, nhưng vẫn có nhược điểm về trễ của một giao thức định
tuyến theo yêu cầu.
2.3.3. Các giao thức định tuyến lai ghép
Các giao thức định tuyến lai ghép được đề xuất để tổ hợp các đặc tính ưu điểm của
các giao thức định tuyến theo bảng và theo yêu cầu. Thông thường, các giao thức định tuyến
lai ghép MANET được sử dụng trong kiến trúc phân cấp. Các giao thức định tuyến theo
bảng và theo yêu cầu được triển khai trong các cấp thích hợp. Một số ví dụ về giao thức
định tuyến lai ghép: giao thức định tuyến vùng ZRP, giao thức định tuyến trạng thái liên kết
phân cấp dựa trên vùng ZHLS và giao thức định tuyến tùy biến lai ghép HARP v.v
2.4. Các mô hình chuyển động
Hiệu năng chung của bất kỳ một giao thức định tuyến nào cũng phụ thuộc vào
khoảng thời gian tồn tại kết nối giữa hai nút hoặc nhiều hơn. Chúng ta gọi tham số trung
bình trên toàn mạng này là “số tuyến kết nối trung bình” [3]. Sự chuyển động của các nút
ảnh hưởng đến số tuyến kết nối trung bình, và kéo theo ảnh hưởng đến hiệu năng của các
thuật toán định tuyến.
Hình 2.1: Mối quan hệ giữa mô hình chuyển động và hiệu năng định tuyến
Các mô hình chuyển động ngẫu nhiên được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong các
công cụ mô phỏng có thể kể đến [21]: random waypoint (điểm đường ngẫu nhiên); random
walk (bước ngẫu nhiên); random direction (hướng ngẫu nhiên).
12
2.4.1. Mô hình chuyển động điểm đường ngẫu nhiên (Radom Waypoint)
Mô hình chuyển động điểm đường ngẫu nhiên có các khoảng thời gian dừng ngẫu
nhiên T
pause
bên cạnh tốc độ
[0,V
max
], sự di chuyển của mỗi nút với vector vận tốc
cos , sinv t t v t t
sẽ chỉ diễn
ra trong một khoảng thời gian cố định “t
const
” hoặc một quãng đường cố định “d
const
”. Khi
chuyển động theo quy tắc trên tới biên của phạm vi mô phỏng, nút sẽ di chuyển ngược trở
lại với góc
t
hoặc
t
. Mô hình chuyển động bước ngẫu nhiên là quá trình không
nhớ, thông tin của trạng thái quá khứ không được dùng cho các quyết định trong tương lai
(hình 2.3).
2.4.3. Mô hình chuyển động hưỡng ngẫu nhiên (Random Direction)
Yếu tố ngẫu nhiên duy nhất trong mô hình này là hướng di chuyển. Một nút chọn
một hướng ngẫu nhiên để di chuyển giống như trong mô hình chuyển động bước ngẫu
nhiên. Nút sau khi chọn được hướng sẽ di chuyển theo hướng đó cho tới biên của phạm vi
13
mô phỏng; dừng lại một khoảng thời gian cho trước, sau đó chọn một hướng khác và tiếp
tục lặp lại quá trình trên (hình 2.4).
chống lại việc kẻ tấn công thay đổi địa chỉ MAC nguồn trong các khung dữ liệu được truyền
đi. Điều này có thể được những kẻ tấn công sử dụng theo nhiều cách khác nhau.
Tấn công truyền lại (replay attack)
Kiểu tấn công này thường được biết đến là kiểu tấn công man-in-the-middle, có thể
được thực hiện bởi cả nút bên ngoài và nút bên trong. Một nút tấn công bên ngoài (không
phải nút trong mạng WMN) có thể nghe trộm thông tin quảng bá giữa hai nút trong mạng
(nút A và nút B) như được mô tả trong hình 2.5.
2.5.3. Tấn công lớp mạng
Tấn công Rushing
Là một phương pháp tấn công từ chối dịch vụ hiệu quả đối với các giao thức định
tuyến theo yêu cầu, gồm cả chính các giao thức được thiết kế cho bảo mật. Nút tấn công
chuyển tiếp các gói tin một cách nhanh chóng bằng cách bỏ qua một vài thủ tục định tuyến.
Rushing attack khai thác cơ chế khám phá tuyến của các giao thức định tuyến theo yêu cầu.
Trong các giao thức này, nút nguồn tràn lụt các bản tin RREQ để tìm tuyến tới nút đích.
Tấn công wormhole
Trong một tấn công wormhole, hai hoặc nhiều hơn hai nút thông đồng với nhau bằng
cách thiết lập một đường hầm sử dụng kết nối có dây hoặc kết nối không dây tốc độ cao ở
băng tần khác.
Hình 2.6: Mô tả tấn công wormhole
Tấn công lỗ đen (blackhole attack)
Là một kiểu tấn công khác dẫn đến DoS trong các mạng WMN. Nó cũng lợi dụng
ccow chế khám phá tuyến của các giao thức định tuyến theo yêu cầu. Trong một tấn công lỗ
đen, nút tấn công luôn trả lời bản tin RREQ, mặc dù có thể nó không có tuyến hợp lệ tới nút
đích. Do nút này không kiểm tra bảng định tuyến của nó nên nó luôn là nút đầu tiên trả lời
bản tin RREQ. Khi đó, phần lớn dữ liệu của các nút lân cận của nút tấn công sẽ hướng trực
tiếp tới nút nà, gây ra hiện tượng mất gói tin và DoS.
15
là trễ đầu cuối,
access
d
là trễ truy nhập phương tiện,
prop
d
là trễ lan
truyền và
proc
d
là trễ xử lý. Nếu có N nút trong mạng, trễ trung bình được tính bằng cách lấy
trung bình tất cả các gói tin, cặp nguồn đích và cấu hình mạng.
Thông lượng
Tốc độ dữ liệu được truyền từ một nút này sang nút khác trên một mạng truyền thông
được biết đến là thông lượng. Đơn vị là bit/s.
Tải mạng
Khi có nhiều lưu lượng đi trên mạng,việc điều khiển lưu lượng trong mạng sẽ trở nên
khó khăn. Khi đó mạng đang mang tải trên nó và được biết đến là tải mạng.
Jitter
16
Biến đổi về thời gian của một tín hiệu có chu kỳ hay sự nhảy của tín hiệu trong miền
thời gian gọi là jitter.
Tỉ lệ mất mát gói tin
Xảy ra khi một gói tin dữ liệu không thể đến được nút đích trên mạng. Khi một nút
nguồn gửi gói tin dữ liệu tới nút đích mà nút không nhận được gói tin dữ liệu đó thì được
gọi là mất mát gói tin. Nếu QoS được đảm bảo trong mạng truyền thông thì tỉ lệ mất mát gói
tin trong mạng sẽ thấp hơn.
Tiêu đề định tuyến
Khi kích thước mạng tăng kéo theo lưu lượng định tuyến tăng theo. WMN là mạng
giao thức này được cấu hình theo khuyến nghị của RFC và được thể hiện trong các bảng
3.3, 3.4 và 3.5 .
3.3.2. Kết quả mô phỏng và thảo luận
Các mô phỏng được thực hiện với thời gian 30 phút. Kết quả được trình bày dưới
dạng đồ thị thể hiện sự biến động của các tham số hiệu năng theo thời gian (phút).
- Ảnh hưởng của mật độ nút
Tham số hiệu năng dùng để so sánh là trễ đầu cuối và trễ truy nhập phương tiện. Ta
lần lượt so sánh hiệu năng của 3 giao thức định tuyến trong các kịch bản 10 nút, 20 nút và
40 nút.
Kết quả ở hình 3.2 cho thấy khi mật độ nút thay đổi thì trễ của giao thức AODV ồn
định nhất, hầu như không có nhiều thay đổi, ổn định ở 1.2ms. Nói cách khác, hiệu năng giao
thức AODV ít bị ảnh hưởng bởi số lượng nút trong mạng. Trong khi đó, trễ của giao thức
DSR tăng lên khi số lượng nút tăng lên, từ 5ms trong kịch bản 10 nút đến hơn 11ms trong
kịch bản 40 nút. Ngược lại, trễ của giao thức OLSR lại có xu hướng giảm khi số lượng nút
tăng lên, giảm từ 0.8ms trong kịch bản 10 nút xuống còn hơn 0.5ms trong kịch bản 40 nút.
Điều này có thể giải thích như sau: khi số lượng nút mạng tăng lên, mức độ kết nối của
mạng cũng tăng lên và do đó trễ của giao thức định tuyến theo bảng như OLSR sẽ thấp hơn.
18
- Ảnh hưởng của mô hình chuyển động
Kết quả trong hình 3.3 cho thấy trễ của 2 giao thức AODV và OLSR ít bị ảnh hưởng
bởi các mô hình chuyển động khác nhau. Giá trị trễ trung bình tại thời điểm cuối mô phỏng
của OLSR là 0.3 ms và của AODV là 0.6ms. Trễ của DSR cho thấy sự dao động lớn nhất,
thay đổi trong khoảng từ 4ms đến 5ms. OLSR
AODV
DSR
Hình 3.2: Trễ của các giao thức OLSR, AODV, DSR với các mật độ nút khác nhau
thức đều tăng lên đáng kể. Giá trị cụ thể của tham số hiệu năng trung bình tại thời điểm cuối
mô phỏng được trình bày trong bảng 3.7.
Bảng 3.7: Giá trị trễ và lƣu lƣợng bị hủy bỏ
Trễ trung bình (s)
Lưu lượng bị hủy bỏ trung bình (b/s)
AODV
OLSR
AODV
OLSR
Normal
0.0105
0.0066
28192
500
2 attackers
0.168
0.076
157240
25000
4 attackers
0.401
0.153
303194
64070
6 attackers
0.503
0.344
470004
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Mạng không dây hình lưới WMN hứa hẹn là công nghệ mạng chủ chốt cho mạng
không dây thế hệ kế tiếp với rất nhiều ứng dụng khả thi. Tuy nhiên, để được ứng dụng trong
thực tiễn, WMN còn có rất nhiều khía cạnh kể cả về giải pháp kỹ thuật và công nghệ cần
phải tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Một trong các trở ngại lớn nhất đối với các bài toán
thiết kế và cải thiện hiệu năng mạng hình lưới không dây WMN xuất phát từ các đặc điểm
kiến trúc mạng và các đặc tính cố hữu của kênh truyền vô tuyến như: sự biến động của cấu
hình, tính không ổn định của kênh truyền, chất lượng liên kết, các mô hình truyền lan và
xuyên nhiễu phức tạp, v.v Trong hàng loạt các vấn đề đối mặt, hiệu năng định tuyến luôn
nhận được sự quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu, thiết kế và triển khai công nghệ.
Kết quả mô phỏng được tiến hành cho thấy giao thức định tuyến OLSR cho hiệu
năng tốt nhất theo khía cạnh trễ và thông lượng. Giao thức DSR cho hiệu năng kém nhất,
giao thức AODV cho thấy sự ổn định về mặt hiệu năng với sự biến đổi của cấu hình mạng.
Hiệu năng định tuyến của các giao thức đặt dưới một hình thức tấn công đều có sự suy giảm
rõ rệt. Tuy nhiên, mức độ suy giảm phụ thuộc vào từng hình thức tấn công và vị trí tấn
công. Kết quả đã đã chỉ ra các giao thức định tuyến kế thừa từ mạng tùy biến không dây
chưa đáp ứng được các yêu cầu QoS trong các mạng WMN và cần phải có các nghiên cứu
tiếp theo để nâng cao hơn nữa hiệu năng.
Một số hướng nghiên cứu tiếp theo để cải thiện hiệu năng định tuyến của WMN có
thể kể đến: (i) xây dựng một giao thức định tuyến mới hoặc cải thiện các thủ tục để phù hợp
với đặc điểm của WMN; (ii) thiết kế tham số định tuyến phản ánh chính xác chất lượng liên
kết thay cho tham số định tuyến bước nhảy truyền thống thông qua giải pháp xuyên lớp; (iii)
thêm các cơ chế hoặc giao thức định tuyến hỗ trợ bảo mật.
Các công trình nghiên cứu của tác giả được gửi kèm trong phụ lục. Một lần nữa xin
gửi lời cám ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn, giảng viên cán bộ khoa sau đại học, gia
đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.