Bộ Khoa học và công nghệ
viện chiến lợc và chính sách khoa học và công nghệ
______________________________________
báo cáo tổNG HợP
Đề tài CP Cơ sở:
Nghiên cứu CáC YếU Tố ảNH HƯởNG TớI
HOạT ĐộNG NC&PT CủA DOANH NGHIệP
Chủ nhiệm đề tài: HOàNG VĂN TUYêN
2.2.3 Nên chọn in-house R&D hay hợp tác R&D? 20
2.3 Kinh nghiệm nước ngoài 22
2.3.1 Tổng hợp kinh nghiệm nướ
c ngoài 22
2.3.2 Nhận xét kinh nghiệm nước ngoài 27
CHƯƠNG III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỚNG TỚI HOẠT ĐỘNG R&D CỦA DOANH NGHIỆP 28
3.1 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 28
3.1.1 Quy mô doanh nghiệp 28
3.1.2 Nguồn lực của doanh nghiệp 30
3.1.3 Sở hữu của doanh nghiệp 31
3.1.4 Chiến lược và kế hoạch của doanh nghiệp 33
3.1.5 Ban lãnh đạo doanh nghiệp 33
3.1.6 Tập thể doanh nghiệp 34
3.2 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 34
3.2.1 Chính sách vốn cho hoạt động R&D của doanh nghi
ệp 34
3.2.2 Chính sách đối với trang thiết bị phục vụ R&D của doanh nghiệp 37
3.2.3 Ưu đãi thuế cho hoạt động R&D của doanh nghiệp 37
3.2.4 Tín dụng cho hoạt động R&D của doanh nghiệp 38
3.2.5 Chính sách nhân lực KH&CN 40
3.2.6 Sở hữu trí tuệ (SHTT) 41
3.2.7 Cơ sở hạ tầng KH&CN quốc gia 42
3.2.8 Ngành nghề doanh nghiệp 44
3.2.9 Vị trí địa lý của doanh nghiệp 44
3.2.10 Áp lực cạnh tranh 44
3.2.11 Quản lý nhà nước về KH&CN 45
3.2.12 Xu thế phát tri
ển KH&CN 45
3.2.13 Một số cơ chế khuyến khích khác của nhà nước cho R&D doanh nghiệp 46
3.2.14 Môi trường các thể chế chính sách 46
doanh nghiệp tiến hành hoạt động R&D phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trong các
nghiên cứu trước đây thì các học giả hoặc chỉ tập trung vào các yếu tố bên trong doanh
nghiệp (như quy mô doanh nghiệp, nguồn lực và định hướng của doanh nghiệp, v.v ) hoặc
chỉ tập trung vào các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp (ngành nghề doanh nghiệp hoạt động,
môi trường thế chế hỗ trợ, v.v ). Gần đây, ở Việt Nam cũng đã có một số công trình
nghiên cứu liên quan ít nhiều đến vấn đề này, đặc biệt là các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới
công nghệ của doanh nghiệp (vừa và nhỏ). Tuy nhiên, một bức tranh tổng thể về các yếu tố
kể cả bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động R&D của doanh nghiệp hoặc chưa
được xem xét và phân tích một cách sâu sắc hoặc còn mờ nhạt trong các tài liệu trên. Xét
theo giác độ đó, vấn đề nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động R&D của doanh
nghiệp là cần thiết.
3
CHƯƠNG I. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan đến hoạt động R&D của
doanh nghiệp Việt Nam
Thời gian qua, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu được thực hiện về những chủ đề ít
nhiều có liên quan đến hoạt động R&D của doanh nghiệp, chủ yếu là các nghiên cứu về
ĐMCN của doanh nghiệp. Phần này sẽ xem xét và tổng hợp một số nghiên cứu đã qua cũng
như những kết luận rút ra từ những nghiên cứu đó, từ đó làm nảy sinh những luận điểm, gợi
suy cho nghiên cứu của đề tài.
1.1.1 Tổng quan chung
Trong khuốn khổ của Chương trình 98A “đồng bộ hoá cơ chế đổi mới quản lý KH&CN
trong các năm 1985-1990”, đề tài 98A-02-05 hoàn thiện cơ chế kích thích đổi mới kỹ thuật
trong các biện pháp quản lý sản xuất (Vũ Cao Đàm, 1989) đã có những nghiên cứu bổ ích
về vấn đề này. Nghiên cứu này đã đề cập khá toàn diện đến nhiều vấn đề liên quan đến
chính sách tài chính cho KH&CN như chính sách giá, khẩu hao, tạo vốn, lợi nhuận, tiền
lương và tiền thưởng.
thiết lập, cạnh tranh không lành mạnh; các chính sách của nhà nước còn nhiều bất cập và
chưa đồng bộ. Vấn đề nhân lực (đào tạo, tuyển dụng và đãi ngộ) đối với hoạt động
KH&CN nói chung và R&D nói riêng đã được đề cập trong một số nghiên cứu (Trần Xuân
Định, 1991-1995; Ngô Quý Việt, 1998; Trần Chí Đức, 1999, 2000; Nguyễn Thị Anh Thu,
2000, 2005; Hoàng Xuân Long, 2004 và một số nghiên cứu khác). Những nghiên cứu này
đã đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện và thay đổi chính sách phát triển nguồn nhân lực
KH&CN nói chung và tất nhiên kể cả hoạt động KH&CN trong các doanh nghiệp Việt
Nam.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Hồng Việt (2001) về một số giải pháp khuyến khích
DNV&N ĐMCN theo hướng thân môi trường cũng đã đề cập đến một số yếu tố ảnh hưởng
đến hoạt động ĐMCN của các DNV&N gồm: (i) các yếu tố bên trong doanh nghiệp (yếu tố
kỹ thuật, yếu tố con người, yếu tố quản lý tổ chức, yếu tố thông tin và khả năng tài chính);
(ii) các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như thị trường, môi trường kinh doanh, các chính
sách của chính quyền và cộng đồng. Ngoài chính sách liên quan đến môi trường, các chính
sách liên quan đến thị trường, dịch vụ hỗ trợ là những biện pháp cần thiết để kết nối hiệu
quả hơn những yếu tố bên trong và bên ngoài cho đổi mới của doanh nghiệp. Ngoài ra còn
những ưu đãi về thuế, tín dụng cũng là những biện pháp bên ngoài khuyến khích doanh
nghiệp ĐMCN.
5
Nghiên cứu của Trần Ngọc Ca (2000) “nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một
số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động ĐMCN và NC-TK trong các cơ sở sản xuất
ở Việt Nam” đề cập về 2 mảng chính sách (tài chính và nhân lực) ảnh hưởng đến ĐMCN
của doanh nghiệp. Các kết quả của nghiên cứu này chỉ ra:
- Về chính sách tài chính, bên cạnh những điểm tích cực của những chính sách này cũng
cho thấy có sự chưa phù hợp của môi trường chính sách với nhu cầu của hoạt động ĐMCN
trong doanh nghiệp;
- Về chính sách nhân lực: thứ nhất là các chính sách về giáo dục đào tạo nhân lực, mặc dù
đã có những thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của tình hình mới và có những đóng góp đáng
kể nhưng còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế như cơ cấu đào tạo, trình độ ngành nghề đào tạo
phổ biến nên cũng làm giảm hiệu lực.
Một kết quả nữa trong nghiên cứu này là tác giả đã nhấn mạnh sự “bất bình đẳng” giữa
doanh nhiệp nhà nước (DNNN) và DNV&N trong các lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực
KH&CN nói riêng. Theo tác giả thì các DNNN ở Việt Nam nhận được nhiều ưu ái hơn các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác ở một số nội dung này nhưng lại gặp khó
khăn ở một số nội dung khác. Cũng từ nhận định này tác giả cho rằng nhà nước không nên
có những cơ chế chính sách về KH&CN khuyến khích ĐMCN riêng cho các DNV&N có
vốn nhà nước mà phải nhắm tới mọi loại hình doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài.
Về vấn đề mối quan hệ giữa loại hình doanh nghiệp và hoạt động KH&CN trong các loại
hình doanh nghiệp khác nhau cũng đã có một số tác giả khác đề cập đến. Những biểu hiện
thực tế của sự khác nhau trong hoạt động KH&CN giữa DNNN và doanh nghiệp ngoài nhà
nước (DNNNN) đã được tác giả Hoàng Xuân Long (2002) liệt kê như: Số hợp đồng
KH&CN với viện/trường của DNNNN thấp hơn khá nhiều so với DNNN; Số đề tài nghiên
cứu được hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) ở DNNN lớn hơn nhiều so với
DNNNN; Việc thu hút lao động có trình độ KH&CN vào các DNNN khó khăn hơn
DNNNN.
Sau khi phân tích các đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, những khó khăn
vướng mắc của các doanh nghiệp này trong quá trình phát triển KH&CN (vốn, năng lực
công nghệ, kỹ thuật, trình độ lao động và quản lý, thiếu thông tin kiến thứ
c, v.v ), tác giả
Lê Nguyên Lương (2006) đưa ra một nhóm các giải pháp chính sách thúc đẩy các doanh
nghiệp này phát triển KH&CN. Nhóm các giải pháp này gồm: Xác định nhiệm vụ
KH&CN: Ứng dụng kết quả KH&CN; Hỗ trợ dịch vụ KH&CN; Đào tạo nguồn nhân lực
KH&CN; Các ưu đãi về thuế.
7
Đã có một số nghiên cứu về vấn đề liên kết, liên doanh giữa khu vực nghiên cứu, đào tạo và
khu vực doanh nghiệp (Nguyễn Văn Học, 1998; Hoàng Xuân Long, 1999; Nguyễn Thanh
Thịnh; Nguyễn Việt Hoà, 2004 và một số người khác). Các nghiên cứu này đều nhận định
8
trường hiện nay tác tác động đến hành vi đầu tư vào KH&CN của doanh nghiệp; (ii) nguồn
thông tin đối với doanh nghiệp (các DNNN có lợi thế nguồn thông tin hơn các DNNNN);
chi tiêu quốc gia cho KH&CN còn thấp; doanh nghiệp thiếu cộng tác với các tổ chức
KH&CN; tách biệt giữa yếu tố KT-XH với các chính sách; cam kết và nhận thức của doanh
nghiệp; năng lực đổi mới và năng lực KH&CN của doanh nghiệp còn yếu; cơ chế chính
sách CGCN phức tạp dẫn đến doanh nghiệp hạn chế chuyển giao; thiếu liên kết và hợp tác
giữa tổ chức R&D và doanh nghiệp xuất phát từ sự thiếu tinh thần trách nhiệm đối với xã
hội; thiếu quyết đoán, thiếu sự thoả hiệp, thiếu tinh thần hợp tác, thiếu sự sẵn sàng giúp đỡ,
nhiều sự né tránh bất hợp tác; thiếu sự tác động kịp thời của nhà nước; và cuối cùng là thiếu
ngôn ngữ giao tiếp, đàm phán và ký kết.
Nghiên cứu của Cao Thu Anh (2007) “nghiên cứu đánh giá chính sách hỗ trợ về tài chính
cho hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp theo Nghị định 119”, tác giả đã sử dụng Nghị định
119 như một trường hợp điển hình khi phân tích, đánh giá chính sách tài chính cho hoạt
động ĐMCN của doanh nghiệp. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình tuyến tính (đầu tư cho
KH&CN sẽ dẫn tới ĐMCN và ĐMCN sẽ dẫn tới nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả
sản xuất-kinh doanh và cuối cùng là tăng năng suất) để phân tích chính sách tài chính theo
tinh thần Nghị định 119. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra: Thứ nhất, khung lý thuyết đưa
ra trong Nghị định 119 còn có những chỗ hổng căn bản bởi vì đầu tư cho KH&CN (thường
là cung cấp các trợ cấp cho hoạt động R&D), một hình thức của ĐMCN, không phải lúc
nào cũng dẫn đến ĐMCN bởi vì những rủi ro có thể xảy ra khi thực hiện hoạt động R&D và
các nguyên nhân khác. Thứ hai, các khuyến khích về tài chính không phải là nhân tố quyết
định việc ĐMCN của doanh nghiệp. Các khuyến khích về tài chính sẽ mang lại những
thành công nếu các điều kiện khác cho ĐMCN sẵn có. Thứ ba, Nghị định 119 sử dụng công
cụ thuế và các tài trợ về R&D để thúc đẩy đầu tư cho hoạ
t động KH&CN không hấp dẫn
đối với các doanh nghiệp bởi vì tính không linh hoạt của các khuyến khích về thuế và quy
trình khó khăn khi doanh nghiệp xin tài trợ. Thứ tư, trong trường hợp các doanh nghiệp
Việt Nam, các khuyến khích về tài chính không hấp dẫn đối với các doanh nghiệp có số
hoạt động KH&CN của doanh nghiệp?
Như vậy có thể nói rằng mặc dù đã có một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, nhưng còn
rất ít nghiên cứu đề cập đến tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài (không chỉ chính
sách KH&CN) ảnh hưởng
đến hoạt động R&D của doanh nghiệp. Chính vì vậy nghiên cứu
này nhằm đi vào phân tích tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động R&D của doanh
nghiệp.
10
1.2 Những vấn đề đặt ra cho đề tài
1.2.1 Những vấn đề đặt ra
Trên cơ sở những phân tích vừa nêu ở trên, có thể thấy rằng vấn đề R&D cũng như ĐMCN
của các doanh nghiệp ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết
vấn đề này dưới các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập
trung vào nội dung ĐMCN của doanh nghiệp và chủ yếu là một số các yếu tố bên ngoài ảnh
hưởng đến hoạt động ĐMCN của doanh nghiệp như chính sách tài chính, thuế, tín dụng và
nhân lực KH&CN. Chính vì vậy đề tài này với mục đích đi sâu hơn vào hoạt động R&D
của doanh nghiệp (với cách tiếp cận hoạt động R&D có thể có tác dụng không chỉ với tư
cách là cội nguồn của các ý tưởng sáng tạo mà còn là phương tiện giải quyết vấn đề mà có
thể cần đến ở bất cứ thời điểm nào trước khi doanh nghiệp quyết định thực hiện đổi mới).
Cụ thể một số câu hỏi nghiên cứu sẽ được làm rõ trong quá trình nghiên cứu:
- Các loại hoạt động R&D của doanh nghiệp và vai trò của hoạt động R&D đối với doanh
nghiệp ra sao?
- Có thể rút ra những bài học gì thông qua kinh nghiệm nước ngoài nghiên cứu về các yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động R&D của doanh nghiệp?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng tới hoạt động R&D của doanh nghiệp Việt Nam: các yếu tố bên
trong doanh nghiệp (các yếu tố nội tại doanh nghiệp như qui mô doanh nghiệp, nguồn lực
doanh nghiệp, sở hữu, chiến lược của doanh nghiệp ) và các yếu tố bên ngoài doanh
một đề tài cấp cơ sở, sự hạn chế về nguồn lực nên đề tài không thể điều tra diện rộng để có
thể kiểm chứng về mặt thống kê (định lượng) tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
R&D của doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này. Chính vì vậy đề tài chủ
yếu dùng các phương pháp phân tích định tính, nghiên cứu theo hướng phát hiện các yếu tố
ảnh hưởng tới hoạt động R&D của doanh nghiệp điều tra.
Nội dung nghiên cứu của đề tài thể hiện trong các chương:
- Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra cho đề tài (Chương 1):
Chương này sẽ tổng quan lại những nghiên cứu gần đây về chủ đề liên quan đến các
yếu tố ảnh hưởng hoạt động KH&CN và ĐMCN của doanh nghiệp, những nội dung đã
làm được và một số nội dung cần tiếp tục nghiên cứu trong các đề tài này sẽ là những
vấn đề đặt ra cho đề tài này.
- Những vấn đề lý thuyết (Chương 2): Chương này mô tả các khía cạnh khác nhau về
hoạt động R&D và vai trò của hoạt động này đối với doanh nghiệp, các hình thức tiến
hành hoạt động R&D của doanh nghiệp (tiến hành ngay tại doanh nghiệp –in-house
hoặc hợp tác tiến hành các dự án R&D với viện nghiên cứu/ trường đại học/ doanh
nghiệp khác hoặc kết hợp cả hai hình thức). Đồng thời, chương này đưa ra kinh nghiệm
12
của một số nước xét về mặt cơ chế chính sách của nhà nước khuyến khích doanh nghiệp
tiến hành hoạt động R&D và ĐMCN.
- Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động R&D của doanh nghiệp (Chương 3): Chương này
phân tích tổng quát tất cả các yếu tố (bên trong và bên ngoài doanh nghiệp) xem là có
thể ảnh hưởng tới hoạt động R&D của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp Việt Nam.
- Nghiên cứu thực tế ở Việt Nam (Chương 4): Chương này điểm qua về hoạt động
KH&CN của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung. Đồng thời chương này đi sâu phân
tích hai trường hợp là doanh nghiệp lớn về hoạt động R&D của các doanh nghiệp cũng
như các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động R&D của họ.
- Một số khuyến nghị, kết luận và đề xuất được trình bày trong phần cuối cùng của báo
cáo đề tài.
1.2.4 Khung phân tích của đề tài
- Qui mô doanh nghiệp,
- Nguồn lực của doanh nghiệp,
- Sở hữu của doanh nghiệp,
- Chiến lược và kế hoạch của
doanh nghiệp,
- Ban lãnh đạo doanh nghiệp và
- Tập thể doanh nghiệp
Các yếu tố bên ngoài:
- Chính sách vốn cho KH&CN,
- Chính sách đối với trang thiết bị phục
vụ R&D của doanh nghiệp,
- Ưu đãi thuế
- Tín dụng
- Chính sách nhân lực KH&CN,
- Sở hữu trí tuệ,
- Cơ sở hạ tầng KH&CN quốc gia,
- Ngành nghề doanh nghiệp,
- Vị trí địa lý của doanh nghiệp,
- Áp lực cạnh tranh,
- Quản lý nhà nước về KH&CN,
- Xu thế phát triển KH&CN,
- Một số cơ chế khuyến khích khác của
nhà nước cho R&D doanh nghiệp và
- Môi trường các thể chế chính sách.
14
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
2.1 Hoạt động R&D và vai trò của hoạt động R&D đối với doanh nghiệp
2.1.1 Hoạt động R&D và ĐMCN
từ trình độ thấp lên một trình độ cao hơn. Nội dung này thuộc phạm trù của chính
sách đổi mới (innovation policy). Đó là sự đổi mới công nghệ (ĐMCN) dựa trên kết
quả R&D các công nghệ của bản thân doanh nghiệp hoặc ký hợp đồng chuyển giao
công nghệ để nhận một công nghệ có trình độ cao hơn từ các doanh nghiệp khác
(chuyển giao ngang), hoặc nhận một công nghệ mới từ kết quả pilot của các tổ chức
R&D (chuyển giao dọc), hoặc thậm chí ký hợp đồng CGCN từ nước ngoài (bao
gồm cả chuyển giao dọc và chuyển giao ngang).
- “Mở mang công nghệ theo chiều rộng” chính là sự nhân rộng từ một dây chuyền
công nghệ của doanh nghiệp thành hai, ba hoặc nhiều dây chuyền công nghệ có
cùng chức năng và cùng trình độ như dây chuyền công nghệ ban đầu. Nội dung này
thuộc phạm trù của chính sách đối với sản xuất, nằm ngoài mối quan tâm của hệ
thống KH&CN của một số quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ.
Từ đây, trong nghiên cứu này khái niệm “R&D” được hiểu như là các hoạt động D và trước
D và với cách quy ước này thì doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động:
- Nghiên cứu cơ bản (tạo ra các lý thuyết) để mở rộng tri thức về các quá trình cơ bản
liên quan đến những gì doanh nghiệp sản xuất, nghiên cứu chiến lược (theo nghĩa là
nghiên cứu phù hợp với ngành sản xuất của mình nhưng không có ứng dụng cụ thể)
nhằm mở rộng phạm vi các dự án ứng dụng;
- Nghiên cứu ứng dụng (tạo ra các nguyên lý ứng dụng) nhằm cho ra những sáng chế
cụ thể hoặc những cải tiến đối với các kỹ thuật hiện có;
- Triển khai: Giai đoạn này gồm: thiết kế mẫu, triển khai và thử nghiệm, nghiên cứu
tiếp để cải tiến thiết kế hoặc chức năng kỹ thuật.
b) R&D và ĐMCN
Thuật ngữ R&D và ĐMCN thường được nhắc đến đồng thời trong các tài liệu nghiên cứu
về đổi mới.
Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ (SP&QTCN) bao gồm các sản phẩm và qui trình
mới về công nghệ được thực hiện và cải tiến công nghệ đáng kể trong sản phẩm và qui
16
trình. Một đổi mới SP&QTCN được thực hiện nếu nó đưa được ra thị trường (đổi mới sản
Thiết kế chi
tiết và thử
nghiệm 1 2 3
Thiết kế lại
và sản xuất
Phân phối
và tiếp thị
Đổi mới và marketing
Hình 3. Mô hình đổi mới chuỗi liên kết (Kline và Rosenberg)
Trong mô hình này, khi xuất hiện vấn đề trong quá trình đổi mới, doanh nghiệp sẽ cần đến
cơ sở tri thức của mình vào thời điểm cụ thể. Cơ sở tri thức này được tạo nên từ các kết quả
R&D trước đây và từ các kinh nghiệm thực tiễn và kỹ thuật. Hệ thống R&D sẽ đảm nhận
chức n
ăng mà cơ sở tri thức hiện có không giải quyết được.
(Dessyllas, P. and Hughes, A., 2005). 1
Theo Guan và Ma thì 7 năng lực đổi mới của doanh nghiệp gồm: năng lực học hỏi, năng lực R&D, năng lực
chế tạo, năng lực marketing, năng lực tổ chức, năng lực khai thác nguồn lực và năng lực chiến lược.
18
Tăng vị thế của doanh nghiệp
Cấp phép công nghệ đang phát triển trong những năm gần đây trong các ngành công nghiệp
công nghệ cao như công nghệ sinh học, hoá chất, bán dẫn và phần mềm máy tính. Đây là
một phần trong sự phát triển của thị trường công nghệ. Cấp phép công nghệ thường được
xem như một sự thay thế cho in-house R&D. Chẳng hạn, trong những mô hình cạnh tranh
R&D, một khi doanh nghiệp chiến thắng trong cuộc đua thì các doanh nghiệp khác sẽ chấm
dứt in-house R&D của họ. Như vậy các đối thủ trên thị trường cạnh tranh nhau để thay thế
giấy phép công nghệ bằng các dự án in-house R&D (Gallini and Winter, 1985, Shapiro,
1985 and Katz and Shapiro, 1987).
Tuy nhiên, trên thị trường công nghệ, nếu bên mua có được thông tin tốt hơn sẽ tốt hơn.
Thật vậy, rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng in-house R&D bổ sung cho việc nhận giấy
phép công nghệ bằng việc tăng cường khả năng sử dụng các cơ hội công nghệ và cho phép
các doanh nghiệp lựa chọn hiệu quả hơn, tập trung nhiều hơn vào những nguồn công nghệ
bên ngoài có giá trị hơn (Arora and Gambardella, 1994, Rosenberg, 1990, and Cohen and
Levinthal, 1990).
Gans & Stern (1999) đề xuất mối quan hệ giữa R&D và nhận giấy phép công nghệ: in-
house R&D làm giảm giá của công nghệ được cấp phép bởi việc tăng cường năng lực trả
giá của người nhận giấy phép công nghệ. Theo họ, in-house R&D suy cho cùng là một sự
thay thế cho công nghệ được cấp phép. Tuy nhiên, đầu từ vào R&D tăng cường khả năng
của người tiếp nhận công nghệ tiềm năng để phát triển đổi mới của chính họ và vì vậy cải
thiện vị trí đàm phán của người nhận phép công nghệ, do đó giảm giá của công nghệ được
cấp phép.
trường thích hợp có giá trị cao.
Một nguyên nhân khác khiến các doanh nghiệp tiến hành hoạt độ
ng R&D là để tận dụng
năng lực bên trong đang có. Những kỹ năng R&D đặc biệt hữu dụng đối với các sản phẩm,
qui trình hay dịch vụ của doanh nghiệp.
Hình thức tổ chức có thể là viện/ trung tâm/ phòng/ ban R&D độc lập, có thể là các cá
nhân/tập thể cùng nhau tiến hành hoạt động R&D theo chủ đề/dự án cụ thể.
2.2.2 Hợp tác/hợp đồng R&D
Doanh nghiệp hợp tác R&D với các tổ chức nh
ư viện nghiên cứu và/hoặc trường đại học,
cơ quan của chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận, các doanh nghiệp hay các tổ chức khác.
Doanh nghiệp hợp tác R&D nhằm tiếp cận với những bí quyết kỹ thuật tốt hơn, bổ sung
những kỹ năng còn thiếu, tiếp cận với những công nghệ, máy móc và thiết bị mới nhằm
phát triển những sản phẩm và công nghệ mớ
i. Đôi khi việc hợp tác R&D với các tổ chức
20
nổi tiếng còn nhằm mục đích nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp nhỏ
hợp tác R&D với các doanh nghiệp lớn để tiếp cận với chuỗi cung ứng hay kênh phân phối
sản phẩm đã được hình thành của các doanh nghiệp lớn.
Các hoạt động hợp tác có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Những hình thức này
thay đổi từ các hình thức hợp tác R&D chính thức như cùng nhau tiến hành nghiên cứu,
hợp đồng nghiên cứu hay cấp phép công nghệ đến các hình thức phi chính thức khác như
tài trợ nghiên cứu, tư vấn công nghệ, đào tạo, CGCN, dịch vụ R&D (dịch vụ thử nghiệm,
lắp ráp), sử dụng sáng chế, cụ thể:
- Cộng tác trong R&D (cùng nhau tiến hành thực hiện các dự án R&D, hợp đồng nghiên
cứu, tư vấn KH&CN, hợp tác trong đổi mới);
- Lưu chuyển cán bộ (lưu chuyển nghiên cứu viên từ doanh nghiệp sang viện nghiên cứu
và ngược lại);
- Hợp tác trong giáo dục và đào tạo (nghiên cứu thực tế trong doanh nghiệp, cùng nhau
- Giảm tính không chắc chắn,
- Tiết kiệm chi phí,
- Hiện thực hoá quy mô kinh tế,
- Rút ngắn thời gian phát triển.
Những hạn chế của hợp tác R&D gây ra bởi chi phí giao dịch (Coase, 1937; Pisano, 1990;
Williamson, 1989) đặc biệt trong việc điều phối, quản lý và kiểm soát các hoạt động R&D
giữa các tác nhân khác nhau. Chi phí giao dịch liên quan chủ yếu đến các chủ đề sau:
- Thống nhất các cấu trúc, quá trình ra quyết định, v.v ,
- Điều phối của các tổ chức khác nhau, v.v ,
- Phối hợp của các tài sản, nguồn lực bổ sung, v.v ,
- Giá giao dịch của những tài sản vô hình, ví dụ thông tin hay know-how,
- Khai thác kết quả từ hợp tác R&D.
Ngoài ra, hợp tác R&D còn gặp phải những rủi ro ẩn không mong đợi, chẳng hạn như thất
bại trong nghiên cứu, chậm trễ trong triển khai, v.v Đồng thời có thể xuất hiện hành vi
mang tính cơ hội chủ nghĩ
a như những vấn đề nguy hại về đạo đức. Bởi vì những nỗ lực
R&D riêng lẻ không quan sát được trực tiếp, các bên có xu hướng tập trung vào lợi ích của
chính họ khi chọn mức độ đầu tư vào R&D.
Nếu việc thích nghi những nguồn lực bên ngoài rẻ hơn in-house R&D, thì ký kết hiệp định
giữa các tổ chức trong hoạt động R&D là một cách hiệu quả để mở rộng và tối ưu hoá hoạt
22
động đổi mới của doanh nghiệp xét về hiệu quả nghiên cứu, lợi ích và khả năng cạnh tranh.
Hợp tác R&D đưa ra những khả năng chuyển giao tri thức hiệu quả, trao đổi nguồn lực và
học hỏi. Những tài sản bổ sung và năng lực công nghệ có thể được phối hợp, kết hợp tạo ra
những động lực và hiệu quả bổ sung lẫn nhau.
2.3 Kinh nghiệm nước ngoài
2.3.1 Tổng hợp kinh nghiệm nước ngoài
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước, đề tài có thể tóm tắt những biện pháp sau
đây mà nước ngoài đã áp dụng nhằm tăng cường hoạt động R&D trong cộng đồng doanh
- Liên kết công nghệ (TechLink): mục tiêu nhắm vào các DNV&N của New Zealand;
- Tài trợ cho nghiên cứu và triển khai (GPSR&D): nhằm nâng cao nhận thức cho các
DNV&N về công nghệ để khuyến khích họ đầu tư vào R&D.
- Công nghệ cho tăng trưởng doanh nghiệp (Technology for Business Growth): nhằm vào
các doanh nghiệp mà đã có một mức độ nhất định về năng lực công nghệ và sẽ tài trợ cho
các doanh nghiệp này nâng cao năng lực công nghệ của mình lên mức độ cao hơn, vưon ra
các thị trường công nghệ cao;
- Công nghệ trong cộng đồng doanh nghiệp (Technology in Industry Fellowships): nhằm
vào các doanh nghiệp mà đã hoạt động trong các thị trường công nghệ cao.
Hàn Quốc
Chính phủ tài trợ trực tiếp cho hoạt động R&D của doanh nghiệp. Bộ KH&CN (MOST) và
Bộ thương mại, công nghiệp và kinh tế (MOICE) là 2 bộ chính chịu trách nhiệm về vấn đề
tài trợ cho R&D doanh nghiệp. Mục tiêu chính sách đối với MOST và MOICE từ năm 1997
là hỗ trợ cho sự phát triển các công nghệ đặc biệt do Hội đồng KH&CN quốc gia xây dựng
(công nghệ thông tin và viễn thông, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ môi
trường, công nghệ về v
ăn hoá và công nghệ không gian).
Những tài trợ cho R&D của MOICE đang tăng lên nhanh chóng và khuyến khích sự hình
thành tổ hợp doanh nghiệp và các viện nghiên cứu. MOICE tài trợ một phần chi phí cho các
đối tác công nghiệp và tổ hợp, mức độ tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố, chủ yếu là quy mô
doanh nghiệp (doanh nghiệp lớn tài trợ 50% kinh phí cho dự án nghiên cứu, trong đó doanh
nghiệp nhỏ chỉ là 20%).
MOST tài trợ cho R&D với các ứng dụng công nghiệp (chương trình HAN khuyến khích
sự tham gia củ
a khu vực tư nhân thông qua hình thức các đối tác cùng chia sẽ chi phí và 30-
50% các chương trình đã được tài trợ liên quan đến sự tham gia của khu vực công nghiệp).
Khuyến khích R&D trong các DNV&N và dnKH&CN cũng là một ưu tiên của chính phủ
Hàn Quốc. Một số các chương trình đã được hình thành để hỗ trợ các khía cạnh khác nhau
24
Na Uy, hai chương trình tài trợ vốn ban đầu để hỗ trợ hoạt động R&D và ĐMCN cho
DNV&N và doanh nghiệp sử dụng công nghệ trường đại học đã được triển khai. Một trong