QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM - Pdf 28

QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN
THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa .................................................................................................................. i
Lời cam đoan ..................................................................................................................ii
Mục lục ..........................................................................................................................iii
Danh mục các chữ viết tắt ............................................................................................vii
Danh mục các bảng .....................................................................................................viii
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ và kịch bản giải pháp ..................................................... ix
MỞ ĐẦU......................................................................................................................... 1
Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỜI KỲ CHUYỂN
ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM ...................................................................................... 13
1.1 Một số vấn đề cơ bản về đất đai, nông nghiệp, nông thôn ............................... 13
1.1.1 Vị trí, vai trò của đất đai trong đời sống kinh tế – xã hội .............................. 13
1.1.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn .............................................................. 15
1.2 Một số nội dung lý luận về sở hữu và sở hữu ruộng đất .................................. 19
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sở hữu và sở hữu ruộng đất .... 19
1.2.2 Quan điểm tư sản về sở hữu ruộng đất và các mô hình về chế độ sở hữu
ruộng đất ở các nước TBCN ......................................................................................... 27
1.2.3 Lý luận về sở hữu trong nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc ...... 31
1.3 Một số nội dung lý luận về quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông
nghiệp và phát triển nông thôn ..................................................................................... 33
- iv -
1.3.1 Khái niệm, nội dung quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn.................................................................................................. 33
1.3.2 Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp trong đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam ........................................................................ 38

nghiệp từ khi đổi mới đến nay .................................................................................... 102
2.4.2 Những bất cập hiện nay của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông
nghiệp ......................................................................................................................... 112
2.4.3 Những thách thức đang đặt ra đối với quá trình hoàn thiện và nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý đất đai nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay ....................... 129
Tổng kết chương 2 ................................................................................................ 137
Chương 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN
LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN .......... 138
3.1 Xu hướng phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ................................................................................ 138
3.1.1 Xu hướng phát triển bền vững nông nghiệp, nông dân và nông thôn ....... 138
3.1.2 Cơ hội và thách thức phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn khi
Việt Nam thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại quốc tế trong lĩnh vực nông
nghiệp......................................................................................................................... 141
3.1.3 Dự báo một số tiêu chí về dân số và đất đai nông nghiệp đến năm 2020 . 144
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quan hệ tổ chức - quản lý đất đai
trong nông nghiệp và phát triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam .. 147
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách về đất đai nông nghiệp ... 147
3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức - quản lý đất đai NN .......... 163
3.2.3 Nhóm các giải pháp hỗ trợ khác ................................................................ 176
3.3 Một số kiến nghị ............................................................................................. 178
- vi -
Tổng kết chương 3 ................................................................................................ 179
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 181
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
- vii -
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

hộ
08 Bảng 2.8: Diện tích đất đã thu hồi tại các xã để phát triển các KCN tập trung ở Hà
Nội tính đến năm 2007
09 Bảng 2.9: Tình trạng bị ảnh hưởng của các hộ dân và lao động khu vực phát triển
các KCN tập trung của Hà Nội
10 Bảng 2.10: Tỷ lệ bồi thường về đất đai của dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm
11 Bảng 2.11: Tóm lược nhận định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bằng
mô hình ma trận SWOT
12 Bảng 2.12: Diện tích các KCX, KCN đến 5/2008 và quy hoạch đến năm 2015
13 Bảng 2.13: Diện tích và sản lượng lúa của Việt Nam từ năm 1990 – 2006
14 Bảng 2.14: Diện tích trồng lúa các vùng trong cả nước từ năm 2000 đến năm 2007
15 Bảng 2.15: Ý kiến của nông dân về việc tổ chức, quản lý và qui hoạch đất đai hiện
nay
16 Bảng 2.16: Qui mô sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân
17 Bảng 2.17: Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh Bắc Bộ
18 Bảng 2.18: Tình trạng manh mún đất đai của các miền/vùng
19 Bảng 2.19: Số lượng cán bộ địa chính của 81 xã ở 9 tỉnh vùng Đông Nam Bộ,
Tây Nguyên và ĐBSCL
20 Bảng 3.1: Dự báo một số chỉ tiêu dân số và diện tích đất nông nghiệp đến năm 2020
- ix -
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ KỊCH BẢN GIẢI PHÁP
TT TÊN BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ KỊCH BẢN GIẢI PHÁP
01 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đất sử dụng ở Việt Nam
02 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu đất sử dụng phân theo địa phương
03 Biểu đồ 2.3: Biến động hiện trạng sử dụng đất ở Việt Nam
04 Biểu đồ 2.4: Nhận định những khó khăn của cán bộ địa chính về qui hoạch, quản lý đất
05 Biểu đồ 2.5: Các hình thức giao dịch đất đai của nông hộ
06 Biểu đồ 2.6: Tỉ lệ không có đất và thiếu đất sản xuất của các nông hộ
07 Biểu đồ 2.7: Mối quan hệ phụ thuộc giữa sản lượng lúa và diện tích trồng lúa
08 Biểu đồ 2.8: Diện tích đất trồng lúa cả nước và các vùng giảm dần

vật chất cơ bản của xã hội. Dù rằng xã hội ngày nay có nhiều quốc gia đã đạt trình
độ phát triển cao nhưng nông nghiệp vẫn bất khả thay thế và tiếp tục thể hiện vai trò
thiết yếu đến phát triển bền vững. Đối với những quốc gia đang phát triển, nông
nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự ổn định xã hội trong việc cung cấp
lương thực, thực phẩm; là nguồn lực ban đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
trên nhiều khía cạnh như vốn, nguyên liệu, lao động và thị trường tiêu thụ cho các
ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại…
Việt Nam hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường
định hướng XHCN, nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí trọng yếu trong cơ cấu của
nền kinh tế và xã hội. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2007, nông nghiệp
chiếm khoảng 20,3% GDP, 22,6% giá trị xuất khẩu, 72% dân số sống ở nông thôn
và 54% lực lượng lao động trong nông nghiệp.
Trong điều kiện hội nhập vào kinh tế thế giới và đẩy nhanh quá trình CNH
cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm mực nước biển dâng cao xâm thực nên
bảo vệ và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên khan hiếm đất nông nghiệp là sự
thách thức lớn cần tập trung giải quyết cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Bên cạnh đó, tác động của cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu năm 2008
và những diễn biến xã hội đáng chú ý về tam nông: nông nghiệp, nông dân và nông
thôn của các nước Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines; Châu Phi: Algeria,
Congo, Ghana, Zimbabwe; Châu Mỹ Latinh: Cuba, Bolivia, Haiti, Venezuela…
trong những năm gần đây đã ảnh hưởng sâu sắc đến góc nhìn về tam nông ở Việt
Nam. Trước những tác động trong và ngoài nước về yêu cầu phát triển bền vững
nông nghiệp, Nghị quyết Trung ương VII (Khóa X) của ĐCSVN ra đời về vấn đề
tam nông nhằm đề cao tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
- 2 -
Trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, đất đai là TLSX đặc biệt; là môi
trường sống cả về khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội; môi trường của quá khứ, hiện
tại và tương lai của nông dân ở nông thôn. Sự phát triển không ngừng của đời sống
KT-XH đã phải thu hẹp đất đai nông nghiệp để đáp ứng các nhu cầu phát triển công
nghiệp, cơ sở hạ tầng, đô thị hóa… đã ảnh hưởng đến đời sống nông dân. Vì vậy,

đầu cơ đất đai, tình trạng bất bình đẳng trong quan hệ đất đai, sự chuyển dịch khó
kiểm soát của các luồng tài chính từ thị trường chứng khoán, tín dụng sang bất động
sản và ngược lại.
Những vụ việc tiêu cực liên quan đến đất đai trước hết xuất phát từ những quy
định, cách hiểu và quán triệt chính sách đất đai. Một số nguyên nhân quan trọng dẫn
đến tiêu cực, lãng phí đất đai đó là khâu tổ chức – quản lý và trình độ, đạo đức của
cán bộ quản lý đất đai cấp cơ sở.
Vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn giai đoạn hiện nay nhằm phát hiện những bất cập của chính
sách đất đai, sự kém hiệu quả của công tác tổ chức – quản lý đất đai cấp cơ sở để
tìm ra giải pháp hoàn thiện quan hệ tổ chức – quản lý đất đai góp phần phát triển
bền vững nông nghiệp, nông dân và nông thôn là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn. Đó là lý do tôi chọn đề tài “ QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ
ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỜI
KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM” làm luận án tiến sĩ kinh tế chuyên
ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến luận án, xin giới thiệu khái quát các vấn đề quan hệ tổ chức,
quản lý đất đai trong nông nghiệp mà các nhà khoa học quan tâm:
Thứ nhất, PGS.TS Lâm Quang Huyên, nghiên cứu vấn đề sở hữu ruộng đất và
tác động của nó đến nền nông nghiệp và hợp tác hóa nông nghiệp. Tác phẩm: Vấn
đề ruộng đất ở Việt Nam, được xuất bản năm 2002 và tái bản năm 2007. Trong tác
- 4 -
phẩm này nội dung chủ yếu nghiên cứu quan hệ sở hữu ruộng đất trước thời kỳ đổi
mới và đề cập một phần trong thời kỳ đổi mới (lần tái bản 2007, phần thứ ba). Như
vậy trong điều kiện hội nhập và đẩy mạnh CNH những vấn đề phức tạp nảy sinh
chưa được nghiên cứu.
Thứ hai, đầu những năm 1990 quan hệ sở hữu ruộng đất có sự biến động gây
ra tình trạng mất đất ở các tỉnh ĐBSCL, đã thu hút một số tác giả nghiên cứu:
Nguyễn Thế Nhã (1998), Lê Du Phong (1998), Lê Đình Thắng (1998), Bùi Văn

giải quyết về quan hệ sở hữu đất đai trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu một phần của vấn đề
đất đai như là sở hữu đất đai, một vài điểm bất cập của chính sách đất đai; hoặc gợi
lên một vấn đề bức xúc trong tổ chức quản lý như là quy hoạch, đền bù giải tỏa;
hoặc nghiên cứu việc tổ chức quản lý theo địa phương nào đó. Vì vậy, các công
trình trên chưa nghiên cứu hệ thống để phản ánh đầy đủ bức tranh tổng thể về quan
hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
thời kỳ chuyển đổi kinh tế. Do đó, chưa phát hiện đầy đủ những bất cập về chính
sách đất đai và chưa nghiên cứu công tác cán bộ địa chính cấp cơ sở ảnh hưởng đến
việc tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp ở nông thôn. Đồng thời, chưa có hệ
thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện chính sách đất đai và tổ chức – quản lý
đất đai nông nghiệp nông thôn hướng đến phát triển bền vững nông nghiệp, nông
thôn trong xu thế hội nhập.
Vì vậy, bản thân tác giả đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu của mình là nghiên cứu
có hệ thống các vấn đề thuộc quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn hiện nay bao gồm: (1) Cơ sở lý luận hình thành quan hệ tổ
chức, quản lý đất đai trong nông nghiệp; (2) Phân tích chính sách đất đai trong nông
nghiệp và việc tổ chức quản lý đất đai nông nghiệp nhằm phản ánh sự vận hành
quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế đến
nay. Các số liệu sơ cấp được sử dụng trong luận án dựa trên việc khảo sát nông dân,
cán bộ địa chính để minh chứng cho các vấn đề mà luận án giải quyết như khiếu
kiện, khiếu nại đất đai, quy hoạch “treo”, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, khảo sát về
số lượng và chất lượng của cán bộ địa chính cấp cơ sơ; (3) Hệ thống giải pháp hoàn
thiện quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trên hai phương diện: cơ chế, chính sách đất
đai nông nghiệp và công tác thực hiện tổ chức, quản lý. Đây là những điểm khác
biệt của luận án so với các công trình nghiên cứu khác.
- 6 -
3. Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa lý thuyết về sở hữu đất, quyền hưởng dụng đất và hệ
thống tổ chức – quản lý đất trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn.

“treo”… Do điều kiện hạn chế, tác giả tập trung khảo sát ở khu vực Đông Nam Bộ,
Tây nguyên và ĐBSCL. Miền Bắc và Miền Trung chỉ khảo sát một số mẫu tối thiểu
(Miền Trung 41 mẫu, Miền Bắc 50 mẫu liên quan đến khảo sát nông hộ).
Thứ ba, luận án không nghiên cứu sâu các vấn đề về phát triển nông thôn bao
hàm đời sống kinh tế, văn hóa, kết cấu hạ tầng, dân trí, dân chủ…
Thứ tư, luận án không nghiên cứu khía cạnh tổ chức – quản lý đất đai của chính
những người nông dân, những nhà đầu tư khi họ được giao sử dụng lâu dài đất đai.
Luận án chỉ đề cập tới quan hệ giữa nhà nước với nông dân và các nhà đầu tư.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu sử dụng
- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của luận án thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Do đó việc
nghiên cứu để phân tích và giải quyết các vấn đề trong luận án phải sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau. Trong đó, ba phương pháp chủ yếu được sử dụng là
phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp duy vật lịch sử và phương
pháp thống kê mô tả.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Nghiên cứu những mặt, những biểu
hiện ổn định, thường xuyên của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong lĩnh vực
nông nghiệp và phát triển nông thôn giữa các chủ thể: nhà nước, nông dân, doanh
nghiệp. Quan hệ của các chủ thể trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông (trao đổi, mua
bán) và phân phối xoay quanh vấn đề quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông
nghiệp. Từ đó đúc kết được bản chất của sự biến đổi về lượng và về chất của quan
hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn. Phát hiện
những bất cập, thách thức cần giải quyết của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong
nông nghiệp và phát triển nông thôn. Từ đó đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm
hoàn thiện quan hệ tổ chức, quản lý đất đai để phát triển bền vững nông nghiệp.
- 8 -
Phương pháp duy vật lịch sử: Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn được xem xét trong những chặng đường lịch sử, gắn với
những bối cảnh cụ thể của thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam; gắn với những
quan điểm, chủ trương về chính sách đất đai, nông nghiệp, nông dân của Đảng và

Long. Khác với khảo sát đại trà như trường hợp nông dân, mỗi xã hoặc phường chỉ
có một mẫu khảo sát giành cho cán bộ địa chính cấp cơ sở.
Số mẫu khảo sát đáp ứng các yêu cầu thông tin là 81 mẫu tương ứng với 81 xã
hoặc phường tại 9 tỉnh hoặc thành phố khu vực Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồng
bằng sông Cửu Long. (chi tiết xem phụ lục 5)
+ Khảo sát về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Mục đích khảo sát
nhằm tìm hiểu về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án do
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của nông dân. Liên quan đến mức giá đền bù, sự
hỗ trợ về nơi ở tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân. Vấn đề khiếu
kiện, khiếu nại của nông dân…
Việc khảo sát về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thuộc nghiên cứu chuyên
sâu nên chọn một dự án điển hình để nghiên cứu. Tác giả lựa chọn dự án Khu đô thị
mới Thủ Thiêm vì đây là chương trình trọng điểm của TP.HCM liên quan đến việc
di dời hàng chục ngàn dân trong hơn 10 năm qua, đồng thời cũng là dự án mà nông
dân thường xuyên khiếu kiện, khiếu nại về mức giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
đối với chính quyền TP.HCM.
Số mẫu khảo sát có đầy đủ thông tin đáp ứng được yêu cầu là 103 mẫu đại
diện cho các hộ dân có đất nông nghiệp bị thu hồi thuộc 5 phường thuộc quận 2,
TP.HCM: Thủ Thiêm, An Khánh, An Lợi Đông, Bình Khánh, Bình An.
+ Khảo sát về qui hoạch “treo”: Mục đích khảo sát nhằm tìm hiểu những thiệt
hại của nông dân về đời sống kinh tế - xã hội cũng như các quyền cơ bản liên quan
đến an sinh xã hội do qui hoạch “treo”.
Việc nghiên cứu về qui hoạch “treo” cũng thuộc nghiên cứu chuyên sâu nên
chọn dự án điển hình để nghiên cứu. Tác giả chọn ấp 3, xã Bình Hưng, huyện Bình
Chánh, TP.HCM vì dự án “treo” từ năm 1992 và vị trí địa lý của xã Bình Hưng sát
- 10 -
bên khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng. Từ lúc qui hoạch “treo” đến nay đã đẩy khu dân
cư này trở nên khó khăn về kinh tế, khó quản lý về mặt xã hội. Số mẫu khảo sát 50
mẫu chiếm tỉ lệ 5% số hộ dân của khu vực.
Ngoài ra, các phương pháp tổng hợp, phương pháp chuyên gia, phân tích, so

(2) Cơ chế đền bù đất nông nghiệp đề xây dựng các KCX, KCN, KDC… còn
nhiều vấn đề: tham nhũng dễ xuất hiện, giá đền bù chưa tương xứng, nông dân sử
dụng đất không có đủ quyền đàm phán, quyền lợi việc làm, quyền sống sau khi giải
tỏa chưa được đảm bảo.
(3) Trình độ cán bộ địa chính cấp cơ sở chưa tương xứng với sự thay đổi của
quá trình phát triển.
Thứ năm, về các giải pháp mang tính đặc thù và có tính khả thi cao, bao gồm:
(1) Hoàn thiện cơ chế chính sách để đảm bảo quyền hưởng dụng tối đa: giao
thêm nông dân hai quyền: quyền được tham gia quy hoạch đất nông nghiệp và
quyền thương lượng, đàm phán với chủ đầu tư về mức giá đề bù; giải pháp bỏ thời
gian sử dụng đất và hạn điền
(2) Hoàn thiện hệ thống tài chính đối với quản lý đất đai nông nghiệp theo
hướng khuyến khích nông dân và các tổ chức sử dụng, bảo vệ và khai thác tài
nguyên đất một cách hiệu quả.
(3) Đầu tư của chính phủ đối với phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn là cần
thiết nhằm tạo điều kiện cho nông dân sử dụng đất đai hiệu quả cũng như thay đổi
cuộc sống của họ.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, bảng biểu, chữ viết
tắt, mục lục. Luận án gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông
nghiệp và phát triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam. Nội dung
bao gồm: lý luận sở hữu và sở hữu ruộng đất của các quan điểm kinh điển như Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và cương lĩnh ruộng đất của ĐCSVN xuyên suốt từ
năm 1930 đến nay; lý luận sở hữu và tổ chức – quản lý ruộng đất theo quan điểm tư
sản; tình hình sở hữu và tổ chức quản lý ruộng đất của Trung Quốc trong thời kỳ cải
- 12 -
cách là những bài học kinh nghiệm để Việt Nam xem xét, học hỏi cho phù hợp với
tình hình Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và

(5) đất xem xét dưới góc độ là tài sản…[134, tr.758]
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, năm 1998, Đất là phần chất rắn, nơi người và
động thực vật sinh sống; phân biệt với biển, trời.
Theo định nghĩa của Từ điển Bách Khoa Việt Nam 1, năm 1995, Đất là lớp
mỏng trên cùng của vỏ trái đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hóa ra, có
độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được. Đất được hình thành do tác dụng tổng hợp
của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ. Đất có độ phì nhiêu ít hay nhiều và bao
gồm các thành phần chất rắn, chất lỏng (dung dịch đất), chất khí và sinh vật (động,
thực vật, vi sinh vật). Đất được phân loại theo kiểu phát sinh: Đất đỏ Bazan; đất
phù sa; đất phù sa cổ; đất rừng xám; đất Potzon; đất mặn kiềm hay chua mặn,vv.
Đất đồng bằng tùy thuộc các quy luật phân vùng theo địa giới; đất miền núi chịu sự
chi phối của chiều cao. Trong nông, lâm nghiệp, đất được phân hạng thành các loại
- 14 -
theo khả năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ đất: Đất rừng, đất trồng cây hàng năm,
cây lâu năm, đất chăn thả, đất thổ cư, đất chuyên dùng (giao thông, xây dựng, thủy
lợi, du lịch, vv).
Con người sinh ra gắn liền với đất, tồn tại được là nhờ các sản phẩm từ đất và
đến khi nhắm mắt, xuôi tay họ lại trở về với đất. Đất gắn bó với sự tồn tại và phát
triển của con người không chỉ theo nghĩa duy nhất mà trên phương diện kinh tế, tạo
ra của cải vật chất. Nhà kinh tế học cổ điển W.Petty có câu nói nổi tiếng: “Lao động
là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải”. Đất đai là TLSX quan trọng, cơ bản của sản
xuất nông nghiệp, song quá trình phát triển của xã hội gắn liền với quá trình mở
rộng các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại, văn hóa…Do đó, đất đai không
chỉ để phát triển nông nghiệp mà còn được sử dụng để phát triển các lĩnh vực khác.
- Vị trí, vai trò của đất đai trong đời sống KT – XH
Dưới góc độ chính trị, pháp lý: Đất đai là một bộ phận không thể tách rời của
lãnh thổ quốc gia, nó gắn liền với chủ quyền của một nhà nước. Xâm phạm đất đai
là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Nhà nước là đại diện cho chủ quyền
quốc gia có quyền và trách nhiệm thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ đất đai
khỏi sự xâm phạm từ bên ngoài.

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là trồng trọt và chăn nuôi. Nông nghiệp theo
nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp.
Những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp:
Thứ nhất, quá trình tái sản xuất vật chất khai thác kinh tế gắn phần lớn với
điều kiện tự nhiên (đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu…), tức là gắn với quá trình tái sản
xuất tự nhiên.
Thứ hai, ruộng đất là TLSX chủ yếu và đặc biệt, nếu sử dụng hợp lí, khoa học
thì số ruộng đất được khai thác không bị hao mòn trong quá trình sản xuất, mà còn
ngày một thêm màu mỡ, có chất lượng và đem lại năng suất cao hơn.
Thứ ba, nguyên liệu ban đầu là cây trồng, vật nuôi, còn có thể gọi là những
công cụ sinh vật, có chu kỳ sản xuất tương đối dài phụ thuộc vào tự nhiên.
- 16 -
Thứ tư, phân bố dàn trải trên từng khu ruộng, vườn, đến từng vùng, lãnh thổ.
Sự xuất hiện nông nghiệp đánh dấu một bước tiến nhảy vọt trong lịch sử loài
người, mở đầu cho các giai đoạn văn minh ngày càng cao. Lịch sử nông nghiệp đã
trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau và ngày càng có năng suất cây trồng,
vật nuôi và hiệu quả kinh tế cao hơn. Nông nghiệp phát triển ngày càng có quan hệ
tương hỗ với phát triển công nghiệp. Do đó, ngày nay phát triển nông nghiệp theo
hướng CNH, HĐH. CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và
thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu
khoa học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công
nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất
lượng, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường. [56]
- Khái niệm nông thôn
Tương tự như khái niệm đất đai và khái niệm nông nghiệp, khái niệm nông
thôn có nhiều cách tiếp cận và giải thích khác nhau:
Từ điển Oxford Advanced Learner`s Dictionary, nhà xuất bản Oxford, năm
1995, Rural (nông thôn), xét nghĩa tính từ: (1) thuộc miền quê hoặc thuộc về nông
nghiệp; (2) ở miền quê, ở nông thôn; (3) liên quan đến thôn quê, hoặc nông nghiệp

minh hóa nông thôn; ba là, nâng cao tri thức cho người dân ở nông thôn.
CNH, HĐH nông thôn: là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công
nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây
dựng kết cấu hạ tầng cơ sở KT-XH, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi
trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng QHSX phù hợp, xây dựng nông
thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân ở nông thôn. [56]
- 18 -
CNH, HĐH NN, NT là một bộ phận của CNH, HĐH đất nước. Đó chính là
quá trình dân tộc Việt Nam ra sức phấn đấu tiến hành xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
lớn; gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ, phát huy có hiệu quả
mọi tiềm năng và lợi thế để mang lại cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển.
1.1.2.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò quan trọng trong sự phát triển KT – XH, có
thể khái quát những vai trò chủ yếu:
Một là, nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội. Đảm bảo
lương thực, thực phẩm cho xã hội là điều kiện quan trọng để ổn định xã hội và phát
triển kinh tế. Do vậy, sự phát triển của nông nghiệp có vai trò quyết định đối với
việc thỏa mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm và còn tạo cơ sở cho sự phát triển
các mặt khác của đời sống xã hội.
Hai là, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ. Các
ngành công nghiệp nhẹ như ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản, công
nghiệp dệt may, mía đường, giấy… phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ
___________nông nghiệp. Do đó, muốn phát triển bền vững các ngành công nghiệp này cần
thiết
phải phát triển nông nghiệp.
Ba là, nông nghiệp cung cấp vốn cho sự nghiệp CNH. Sự nghiệp CNH đất
nước cần rất nhiều vốn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển gặp khó khăn về

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề sở hữu xuất phát từ thế giới
quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trong các tác phẩm kinh điển của Mác,
Ăngghen và Lênin, có thể khái quát ở những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sở hữu là một mặt của quan hệ sản xuất xã hội và sự vận động của
quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử.
Trước hết, sở hữu là điều kiện tất yếu của sản xuất. Không ai có thể tiến hành
sản xuất nếu như không sở hữu bất cứ TLSX nào. Sở hữu TLSX là tiền đề tạo ra
- 20 -
của cải vật chất và mang lại lợi ích cho chủ sở hữu. Quan hệ sở hữu sẽ hình thành
quan hệ xã hội về việc chiếm hữu của cải vật chất giữa một bên là người sở hữu và
một bên là người không sở hữu. Người sở hữu trở nên có quyền lực và chi phối
trong quan hệ sản xuất, rộng hơn là cộng đồng xã hội. Từ đó hình thành các giai cấp
và là nguồn gốc của đấu tranh giai cấp. Mác và Ăngghen đã khái quát quá trình hình
thành và thay thế nhau các hình thức sở hữu trong lịch sử. Hình thức sở hữu đầu
tiên là sở hữu bộ lạc, thứ hai là sở hữu công xã và sở hữu nhà nước, thứ ba là sở hữu
phong kiến hay sở hữu đẳng cấp và trên cơ sở tan rã dần của sở hữu phong kiến mới
xuất hiện và phát triển quan hệ sở hữu tư sản. Như vậy, chế độ sở hữu đã trải qua
những thay đổi liên tiếp, những cải biến liên tục trong lịch sử. Sở hữu vừa là kết
quả, vừa là điều kiện cho sự phát triển của LLSX, là hình thức xã hội có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm LLSX. Sự biến đổi quan hệ sở hữu là kết quả của sự phát
triển LLSX chứ không phải do ý muốn chủ quan của cá nhân, hay một nhóm, thậm
chí cả một giai cấp [83].
Thứ hai, chủ nghĩa Mác muốn xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản và xác lập chế độ
sở hữu xã hội. Giải thích sự ra đời của chế độ tư hữu, Ăngghen lý giải như sau: vào
cuối thời trung cổ, khi PTSX mới không chứa nổi trong khuôn khổ của chế độ sở
hữu phong kiến và phường hội lúc bấy giờ xuất hiện dưới hình thức công trường thủ
công thì công trường thủ công đã vượt quá quan hệ sở hữu cũ, tạo ra cho nó một
hình thức sở hữu mới, chế độ tư hữu. Đối với công trường thủ công và đối với giai
đoạn phát triển ban đầu của đại công nghiệp, không thể có hình thức sở hữu nào
khác ngoài quyền tư hữu, không thể có chế độ xã hội nào khác ngoài chế độ xã hội

gì phải xóa bỏ cái đó, sự tiến bộ của công nghiệp đã xóa bỏ và hàng ngày vẫn tiếp
tục xóa bỏ cái đó rồi.[17; tr. 616]. Ăngghen giải thích rất cặn kẽ những kết quả thu
được nếu xóa bỏ triệt để chế độ tư hữu: xã hội sẽ tước khỏi tay bọn tư bản tư nhân
việc sử dụng tất cả mọi LLSX và mọi phương tiện giao dịch cũng như việc trao đổi
và phân phối sản phẩm; xã hội sẽ quản lý tất cả những việc đó căn cứ theo kế hoạch
đặt ra, căn cứ vào các nguồn lực hiện có và vào nhu cầu của toàn xã hội; do đó mà
tất cả những hậu quả tai hại gắn liền với chế độ quản lý đại công nghiệp hiện nay sẽ
- 22 -
bị thủ tiêu trước hết. Khủng hoảng sẽ chấm dứt… đại công nghiệp thoát khỏi xiềng
xích của chế độ tư hữu sẽ phát triển với những quy mô khiến cho đại công nghiệp
hiện nay đem so sánh với đại công nghiệp ấy thì thật là nhỏ bé không đáng kể,
giống như công trường thủ công so với đại công nghiệp của thời đại chúng ta vậy!
Quan điểm về việc thay thế tất yếu chế độ tư hữu tư sản bằng chế độ sở hữu xã
hội của chủ nghĩa Mác thường bị hiểu sai và vận dụng sai ở một số nước. Chính
quyền cách mạng một số nước đã đồng nhất tất cả các loại tư hữu dù là tư hữu nhỏ
hay là tư hữu tư sản rồi nóng vội xóa bỏ tư hữu và xác lập chế độ sở hữu xã hội
nhằm nhanh chóng có ngay CNXH trong khi LLSX còn thấp. Điều này không
những sai về thế giới quan duy vật lịch sử mà còn làm tổn thương đến giá trị triết lý
về chế độ sở hữu xã hội của chủ nghĩa Mác.
1.2.1.2 Quan điểm về sở hữu ruộng đất
a. Quan điểm của Mác về ruộng đất và địa tô TBCN
Dưới góc nhìn của phương pháp luận duy vật lịch sử, Mác cho rằng trong thời
kỳ phong kiến, đối tượng sở hữu chủ yếu của nhà nước là đất đai. Việc xác lập
quyền tư hữu đất đai đã làm xuất hiện địa tô, đây là hình thức bóc lột chủ yếu trong
xã hội phong kiến. Đó là vấn đề mâu thuẫn căn bản của xã hội phong kiến. Cuộc
cách mạng tư sản và tiêu chí của giai cấp tư sản là xóa bỏ cách quản lý đất đai
phong kiến và thực hiện độc quyền sở hữu đất đai cũng không giải quyết được
mong muốn của nông dân. Chẳng qua là thay đổi cách bóc lột địa tô từ kiểu này
sang kiểu khác.
Mác viết : “Độc quyền sở hữu ruộng đất là một tiền đề lịch sử và vẫn là cơ sở

cả ruộng đất xấu nhất (về độ màu mỡ và vị trí địa lý). Vì vậy mà giá cả của hàng
hóa nông phẩm được hình thành trên cơ sở điều kiện sản xuất xấu nhất chứ không
phải ở điều kiện trung bình như trong công nghiệp. Vì thế, canh tác trên đất tốt và
trung bình sẽ có lợi nhuận siêu ngạch. Phần lợi nhuận siêu ngạch này tồn tại thường
xuyên, tương đối ổn định và chuyển hóa thành địa tô chênh lệch. Như vậy, địa tô
chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên
ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản
xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá
cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình.
1 ad ab – surdum nghĩa là một điều phi lý
- 24 -
Địa tô chênh lệch có hai loại: địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II. Địa tô
chênh lệch I là loại địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kiện tự nhiên thuận
lợi. Chẳng hạn, có độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi (trung bình và tốt) và có vị trí địa
lý gần nơi tiêu thụ hay gần đường giao thông. Địa tô chênh lệch II là loại địa tô thu
được gắn liền với thâm canh tăng năng suất, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trên
cùng một đơn vị diện tích. Cần chú ý rằng, năng suất của lần đầu tư thêm phải lớn
hơn năng suất của lần đầu tư trên ruộng xấu thì khi đó mới có lợi nhuận siêu ngạch.
Trong thời hạn hợp đồng, lợi nhuận siêu ngạch do đầu tư thâm canh đem lại thuộc
nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. Chỉ đến khi hết thời hạn hợp đồng, địa chủ mới
tìm cách nâng giá cho thuê ruộng đất, tức biến lợi nhuận siêu ngạch do đầu tư thâm
canh đem lại tức địa tô chênh lệch II thành địa tô chênh lệch I. Tình trạng này dẫn
đến mâu thuẫn: nhà tư bản thuê đất muốn kéo dài thời hạn thuê, còn địa chủ lại
muốn rút ngắn thời hạn cho thuê. Do đó, trong thời gian thuê đất, nhà tư bản tìm
mọi cách quay vòng, tận dụng, vắt kiệt độ màu mỡ đất đai.
- Địa tô tuyệt đối: Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh
nông nghiệp tuyệt đối phải nộp cho địa chủ, dù ruộng đất đó tốt hay xấu, ở xa hay
gần. Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân,
hình thành nên bởi chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của
nông phẩm. Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông

nguyên thuỷ tư bản, giai cấp tư sản và bọn địa chủ sử dụng hình thức bạo lực và dã
mang nhất: “Bọn địa chủ lớn cướp đoạt ruộng đất công xã của nông dân, đuổi nông
dân ra khỏi phần ruộng của họ và biến những ruộng đấ___________t ấy thành những bãi
chăn
cừu hay phát canh cho những nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp. Giai cấp tư sản
mới ra đời cũng dùng mọi phương pháp để chiếm ruộng đất, như mua ruộng đất của
nhà nước bằng những thủ đoạn lừa đảo và cướp đoạt… Bị mất TLSX, đông đảo
quần chúng biến thành những kẻ ăn xin, những người lang thang và trộm cướp.
Chính quyền nhà nước ban bố những đạo luật chống lại những người bị tước đoạt,
những đạo luật đó gọi là những “đạo luật máu” [51; tr.591].
Tượng tự ở nước Nga, thời kỳ Nga Sa Hoàng một bộ phận nông dân bị mất
quyền sở hữu đất biến thành công nhân, họ bị trói buộc bằng bạo lực vào các công
trường thủ công. Cuộc “cải cách nông dân” năm 1861 đã làm cho nông dân mất
ruộng đất và đẩy nhanh vào quá trình phá sản của họ, trong đó số rất đông nông dân
biến thành người vô sản, còn tư bản tích tụ vào trong tay những người sở hữu lớn.
Trước thực trạng bất công của xã hội tư bản đương thời do dựa trên chế độ tư
hữu, trong đó thể hiện rõ nét là tư hữu ruộng đất. Mác và Ăngghen kịch liệt đả phá
chế độ tư hữu tư nhân về TLSX và xem là nguyên nhân của mâu thuẫn xã hội.
- 26 -
Tóm lại sau khi tìm hiểu các tác phẩm của Mác và Ăngghen có liên quan
đến vấn đề nông dân và ruộng đất, có thể nêu một số điểm chính sau đây:
Một là, quan điểm của Mác – Ăngghen phê phán chế độ chiếm hữu ruộng đất
phong kiến và giai cấp địa chủ phong kiến. Trong các tác phẩm: Quốc hữu hóa
ruộng đất (1872), về sự suy tàn của chế độ phong kiến và sự ra đời của giai cấp tư
sản (1984), Tư bản (quyển thứ ba, tập ba) (1895), hai ông đã viết đại ý như sau: (1)
Bọn lãnh chúa quý tộc sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt lao động của nhân dân.
(2) Tầng lớp quý tộc phong kiến trở nên thừa và là nhân tố cản trở sự phát triển của
xã hội. (3) Giai cấp địa chủ là bọn ăn không ngồi rồi và chiếm đoạt giá trị thặng dư
duới hình thức địa tô.
Hai là, từ những kết quả nghiên cứu nêu trên, trong các tác phẩm: Những

hội II Quốc tế cộng sản thông qua [28; tr.13-15].
1.2.2 Quan điểm tư sản về sở hữu ruộng đất và các mô hình về chế độ sở hữu
ruộng đất ở các nước TBCN
Quan điểm đặc trưng của các nhà kinh tế tư sản luôn xem quyền tư hữu là nền
tảng của đời sống KT - XH. Do đó, vấn đề sở hữu đất đai cũng được thừa nhận dưới
góc độ tư hữu và ra sức bảo vệ cổ xúy cho địa tô TBCN.
Chế độ sở hữu đất đai TBCN lấy chế độ tư hữu TBCN làm nền móng hoặc
thành phần chủ đạo. Chế độ sở hữu đất đai TBCN do chế độ sở hữu đất đai phong
kiến và chế độ sở hữu đất đai nông dân cá thể chuyển hóa thành.
Xét quá trình lịch sử hình thành chế độ sở hữu đất đai TBCN, ngoài con
đường tích lũy nguyên thủy tư bản điển hình ở nước Anh, các nước khác có thể quy
thành hai loại hình: (1) con đường cách mạng dân chủ tư sản. Đặc điểm của nó là
thông qua cách mạng tư sản phá vỡ nền kinh tế địa chủ phong kiến, trải qua sự phân
hóa nhanh chóng của nền kinh tế tiểu nông, làm cho chế độ sở hữu đất đai lớn
TBCN dần dần thay thế chế độ sở hữu đất đai nhỏ của nông dân. Lúc này cái xác
địa chủ phong kiến biến thành chủ sở hữu đất đai TBCN, tiểu nông trở thành người
lao động làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp, các nhà tư bản nông nghiệp nắm
quyền kinh doanh đất đai áp dụng phương thức thuê lao động, kinh doanh nông
trường TBCN. Nông nghiệp nước Mỹ sau chiến tranh Nam Bắc từ 1861 – 1865 là
điển hình về đường đi này. Con đường này thoát khỏi sự trói buộc của các quan hệ
phong kiến tương đối triệt để, có thể khiến cho nền kinh tế TBCN phát triển nhanh
chóng. (2) con đường cải cách chuyển đổi xã hội phong kiến sang TBCN có đặc
điểm là địa chủ phong kiến thông qua cải cách, dưới điều kiện cho phép nông nô
- 28 -
nộp lượng tiền lớn cho địa chủ, được miễn trừ nghĩa vụ nông nô phong kiến đồng
thời phải giao lại ruộng đất vốn đang sử dụng cho địa chủ và từ đó nông nô chuyển
biến trở thành người lao động tự do; còn giai cấp địa chủ thì lại theo PTSX tư bản
cải tạo kinh tế địa chủ, tổ chức nông trường TBCN, tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh. Các nước Phổ, Ý, Nhật thuộc loại này. Con đường này trong điều kiện
bảo lưu đặc quyền của giai cấp địa chủ và bảo tồn tàn dư của chế độ nông nô phong

thuộc sở hữu nhà nước và sở hữu công cộng tất cả chiếm 35% nhưng tài sản đất đai
nhóm sau chỉ chiếm 6% tổng giá trị tài sản toàn bộ đất đai của Nhật Bản. Nước Đức
lấy chế độ tư nhân về đất đai làm chủ yếu càng nổi rõ hơn, mọi quan chức chính
phủ, công nhân viên chức, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đều có đất đai riêng.
Thụy Điển, Hà Lan, tỷ trọng đất đai tư hữu của cá nhân, các doanh nghiệp là 60%
và trên 80%.
Đối với các quyền về đất đai, ở những nước này không chỉ có thể mua bán
quyền sử dụng đất đai mà quyền sở hữu đất đai cũng có thể tự do chuyển nhượng,
vì vậy, thị trường đất đai ở những nước này là thị trường mua bán quyền tài sản lâu
dài về đất đai. Chính phủ để bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu và người sử dụng đất
đai tư nhân đã thực hiện quản chế điều hành cần thiết đối với mua bán đất đai, như
đối với số lượng, phạm vi, đối tượng và phương thức giao dịch đất đai sở hữu… đều
có quy phạm pháp luật rõ ràng. Ở Nhật Bản, chính phủ kết hợp với thông cáo công
khai giá đất, thực thi chế độ khuyến cáo xin phép mua bán đất, tức là đương sự mua
bán khi giao dịch hạn ngạch đất đai nhất định, phải trình chính phủ giá đất và mục
đích sử dụng đất, sau khi được phép mới được tiến hành thỏa thuận mua bán. Đồng
thời, trong khu vực hoạch định hạn chế chuyển nhượng đất đai còn thực hiện chế độ
giấy phép mua bán. Về đối tượng giao dịch một số nước thực hiện quy định cấm
bán đất đai cho người nước ngoài, hoặc hạn định về phạm vi, chủng loại, số lượng.
Đa số chính phủ các nước đều có quyền căn cứ theo nhu cầu phát triển KT-XH,
trưng dụng theo pháp luật đất đai của tư nhân, chuyển chúng thành sở hữu công
cộng. Nhưng trên thực tế, mọi người trong giao dịch đất đai vẫn quyết định dựa vào
quan hệ cung cầu trên thị trường đất. chế độ sở hữu đất của các nước Mỹ, Nhật,
- 30 -
Đức… là mô hình lấy toàn bộ quyền tài sản đất làm nội dung giao dịch, lấy nhượng
bộ có đền bù làm điều kiện, lấy nhà nước điều hành và thị trường điều tiết để phân
bổ nguồn tài nguyên đất.
Mô hình 2: chế độ sở hữu đất đai của Anh cùng các nước và khu vực trong
khối liên hợp Anh. Trong những nước và khu vực này, đất đai về cơ bản thuộc sở
hữu nhà nước hoặc chính phủ, đặc điểm của nó là pháp luật quy định đất đai sở hữu

trong những năm gần đây có ý nghĩa tham khảo, bổ sung thêm kiến thức phong phú
về sở hữu và có thể phục vụ cho sự nghiệp cải cách KT-XH ở Việt Nam. Các nhà
kinh tế học Trung Quốc đã nghiên cứu và lý giải vấn đề sở hữu như sau:
Về vị trí của vấn đề sở hữu: Theo Chu Thúc Liên, sở hữu và chế độ sở hữu
phải luôn luôn biến đổi, phát triển để phát triển LLSX. Vệ Hưng Hoa cho rằng, xây
dựng CNXH phải lấy chế độ công hữu làm chủ thể hoặc cơ sở để phát triển sản xuất
nhanh hơn. Do đó, chế độ công hữu là tất yếu trong sự nghiệp xây dựng CNXH.
Về vai trò chủ thể của chế độ công hữu: Các nhà kinh tế Trung Quốc có nhiều
ý kiến khác nhau, tuy nhiên có thể khái quát thành ba loại sau đây:
Một là, khẳng định chế độ công hữu XHCN là chủ thể vì cho đó là sự công
bằng (Tôn Thượng Thanh), là nhân tố quyết định sự ổn định toàn cục (Trần Vũ
Minh). Lẫn lộn chế độ công hữu và tư hữu sẽ tạo nên bất công và tiêu cực trong
toàn xã hội (Lưu Quốc Quang).
Hai là, không nên sùng bái chế độ công hữu. Những người theo quan điểm
này cho rằng “bản thân công hữu hóa TLSX không có nghĩa là đạt được mục đích
sản xuất, cũng không có nghĩa là sản xuất xã hội sẽ nhất định tiến hành theo nguyên
tắc bồi dưỡng, nâng cao và phát huy năng lực sáng tạo của con người” (Lệ Dĩ
Ninh). Ngoài ra, “không thể mê tín đối với một chế độ sở hữu nào, cho dù là công
hữu hay tư hữu, cũng không nên thần bí chúng… tất cả đều phải lấy phát triển
LLSX làm tiêu chuẩn” (Chu Thúc Liên). Quan điểm này thừa nhận trong thời kỳ
quá độ lên CNXH có nhiều loại hình sở hữu bởi vì mỗi loại hình sở hữu đều có mặt
mạnh và mặt yếu. Chẳng hạn, theo tác giả Đổng Phụ Những, chế độ công hữu sẽ tạo
- 32 -
điều kiện cho kinh tế công hữu dễ tiếp cận sự điều chỉnh ở tầm vĩ mô của chính phủ,
điều hòa lợi ích xã hội. Trong khi kinh tế tư nhân có lợi thế tương thích, phù hợp
với kinh tế thị trường.
Ba là, xem vai trò kinh tế công hữu là chủ đạo, còn kinh tế ngoài công hữu là
chỉ là sự bổ sung làm phong phú thêm cho sự phát triển của kinh tế công hữu tiến
đến nhanh hơn CNXH.
Vận dụng lý luận sở hữu trong cải cách kinh tế ở Trung Quốc:

nhân hay cộng đồng đối với quá trình sản xuất. Những vấn đề sản xuất như thế nào,
sản xuất bằng cái gì, sản xuất sản phẩm gì, sản xuất bao nhiêu, tiêu thụ ở đâu, quy
mô của quá trình sản xuất… đều do người tổ chức, quản lý sản xuất quyết định. Tuy
quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu về TLSX quyết định nhưng
tổ chức, quản lý có tính năng động, độc lập tương đối của nó. Tổ chức, quản lý sản
xuất theo hình thức này hay hình thức kia đều ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Trong khuổn khổ của một PTSX thì cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất có ý nghĩa
quyết định sự tồn tại của PTSX đó. Sự khủng hoảng của một cơ sở sản xuất hoặc
trên phạm vi toàn xã hội đều bắt nguồn từ cách thức tổ chức, quản lý sản xuất. Sau
khủng hoảng, người ta tổ chức lại doanh nghiệp, thay đổi cơ chế quản lý phù hợp
thì sản xuất vẫn phát triển, chế độ xã hội vẫn không thay đổi. Những cải cách xã hội
trong các nước TBCN cũng như một số nước XHCN đã minh chứng điều đó. Lịch
sử loài người đã từng trải qua các hình thức tổ chức, quản lý sản xuất: tự quản trong
xã hội công xã nguyên thủy, gia trưởng trong chế độ chiếm hữu nô lệ, phát canh thu
tô trong xã hội phong kiến, cơ chế thị trường trong xã hội TBCN… Mỗi hình thức
tổ chức, quản lý là một sự phù hợp tương đối với LLSX, đồng thời nó tạo cho sức
sản xuất phát triển, năng suất lao động xã hội tăng lên, đáp ứng được nhu cầu của cá
nhân và cộng đồng, cũng là động lực cho xã hội phát triển. [37; tr.170-171]
- Khái niệm quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong NN & PTNT
- 34 -
Theo nghĩa hẹp, quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong NN & PTNT là quan
hệ giữa các chủ thể về việc tổ chức, quản lý đất đai trong lĩnh vực nông nghiệp và

Trích đoạn Những bài học kinh nghiệm về quan hệ tổ chức – quản lý đất đai của các Những thay đổi cơ bản của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nơng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status